Việt Nam: ‘Nước chiến trường’ trên bàn cờ Biển Đông

Print Friendly, PDF & Email

Tác giả: Ngô Di Lân

Nói đến nước Mỹ, người ta sẽ lập tức nghĩ đến các bang lớn và nổi tiếng như California, Texas hay New York. Thế nhưng về mặt chính trị, đây không phải là những bang chủ chốt. Bằng chứng là số tiền các ứng viên tổng thống rót cho các chiến dịch tranh cử ở những bang lớn này thường thấp hơn nhiều so với số tiền được đổ vào những “bang chiến trường” (battleground state) như Michigan, Ohio, Pennsylvania, v.v… Trong khi đa số các bang còn lại gần như luôn luôn bỏ phiếu ủng hộ một đảng duy nhất thì những bang chiến trường có thể nghiêng về bất kỳ bên nào và do đó cả hai đảng buộc phải cạnh tranh quyết liệt tại những bang này để giành chiến thắng.

Xét trên phương diện này, chính trị quốc tế không khác chính trị Mỹ là bao. Ở bất kỳ khu vực nào trên thế giới đều có những quốc gia quan trọng hơn và các quốc gia kém quan trọng hơn. Tương tự, ở đâu cũng có những nước nằm chặt trong bán cầu ảnh hưởng của một cường quốc nhất định và có những nước có thể ngả về bất kỳ bên nào tùy thuộc vào hoàn cảnh.

Ở khu vực Biển Đông hiện nay, Việt Nam đang là một trong những nước chiến trường có vai trò đặc biệt quan trọng nhờ vị trí địa-chính trị trung tâm và mối quan hệ đặc biệt với cả hai siêu cường là Mỹ và Trung Quốc. Do đó, Việt Nam có thể tận dụng vị thế đặc biệt của mình hiện nay để mặc cả với cả hai siêu cường trong vấn đề Biển Đông, song điều này cũng tiềm ẩn không ít rủi ro mà các nhà làm chính sách Việt Nam sẽ phải lường trước để chuẩn bị kế sách ứng phó.

Việt Nam trên bàn cờ Biển Đông

Không phải tình cờ mà Việt Nam trở thành tâm điểm của khu vực Đông Nam Á trong gần như suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Ngoại trừ Trung Quốc thì Việt Nam là nước duy nhất vừa nằm trên lục địa Á Châu, vừa có phần lãnh thổ trải dài, gần như bao quanh trọn một cạnh của Biển Đông. Trong khu vực Đông Nam Á chỉ có duy nhất Việt Nam vừa có chung biên giới trên đất liền với Trung Quốc, vừa có phần lãnh thổ tiếp giáp với Biển Đông. Thế nên xét về mặt địa lý, Việt Nam có vị trí vô cùng thuận lợi để tiếp cận với Biển Đông và các đảo, đá đang có tranh chấp.

Bên cạnh đó, tuy Việt Nam là một nước nhỏ nhưng lại là nước đông dân thứ ba trong khu vực (chỉ sau Indonesia và Philippines). Quân đội Việt Nam nổi tiếng thiện chiến và là nước duy nhất từng đánh bại nhiều cường quốc khác nhau qua các thời kỳ. Hiện nay, Việt Nam đang sở hữu một trong những nền kinh tế năng động bậc nhất ở khu vực Châu Á và nền chính trị Việt Nam cũng hết sức ổn định.

Về mặt ý thức hệ, Việt Nam gần gũi hơn với Trung Quốc so với những nước như Mỹ, Nhật Bản, v.v… Tuy nhiên về mặt an ninh, sự song trùng lợi ích lại lớn hơn giữa Việt Nam và Mỹ cũng như một số quốc gia láng giềng khác. Hơn nữa, từ trước đến giờ chính sách đối ngoại của Việt Nam luôn nhấn mạnh tính độc lập, thể hiện qua nguyên tắc đối ngoại – quốc phòng “ba không”. Vì vậy, không có lý do gì để bất kỳ ai nghĩ rằng Việt Nam “thuộc” về bất kỳ cường quốc nào. Tùy vào tình thế cụ thể, Việt Nam có thể là lực lượng trấn giữ con đường nam tiến của Trung Quốc, là tiền đồn cho bất kể thể lực nào muốn kiềm chế sự bành trướng của Trung Quốc, mà cũng có thể là một nước láng giềng hữu nghị và là một vùng đệm để Trung Quốc ngăn chặn sự tiếp cận của các thế lực thù địch.

Nhà địa chính trị nổi tiếng Halford MacKinder từng viết rằng “Ai kiểm soát được Vùng đất trung tâm, sẽ chỉ huy được đảo-thế giới; ai kiểm soát được đảo-thế giới, sẽ chi phối được cả thế giới”. Ngày nay, chúng ta có thể đưa ra nhận định rằng “Ai kiểm soát được Việt Nam, sẽ chỉ huy được Biển Đông; ai kiểm soát được Biển Đông sẽ chi phối được khu vực Châu Á”. Vì lẽ đó, chừng nào Mỹ-Trung còn cạnh tranh quyền lực ở Biển Đông thì cả hai còn phải coi trọng mối quan hệ của mình với Việt Nam. Đây chính là con át chủ bài của Việt Nam vào lúc này.

Hàm ý đối với chính sách đối ngoại Việt Nam

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ diễn ra căng thẳng, các nhà lãnh đạo Việt Nam khi đó đã khéo léo khai thác mâu thuẫn Trung-Xô, tránh nghiêng quá về bên nào nhưng cũng không hoàn toàn trung lập, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của cả hai. Lúc này hơn bao giờ hết, với vị thế là một nước chiến trường, Việt Nam nên tiếp tục duy trì chính sách đối ngoại “đu dây” giữa hai siêu cường Mỹ-Trung thay vì liên minh với một bên để chống lại bên còn lại. Lý do bởi một khi chúng ta chọn gắn mình với một siêu cường duy nhất thì chúng ta sẽ đánh mất vị thế của mình và không còn sức mặc cả với cả hai siêu cường nữa. Điều này rất có thể sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia khi hai siêu cường đạt được thỏa thuận với nhau hay một bên rút về và không tiếp tục can dự vào khu vực Châu Á nữa.

Mặt khác, để bảo toàn được vị thế này Việt Nam luôn phải để ngỏ khả năng sẵn sàng nghiêng về một bên nếu bị đẩy vào đường cùng. Nếu như chúng ta tuyên bố rằng Việt Nam sẽ kiên trì theo đuổi chính sách “ba không” dù bất kỳ chuyện gì xảy ra thì rất có thể sẽ gửi đi tín hiệu sai lệch đến các nước láng giềng và khiến một số nước hành xử hung hăng hơn. Các cường quốc sẽ hành xử một cách có kiềm chế đối với Việt Nam ngày nào họ còn tin rằng chúng ta có thể sẽ bắt tay với một bên khác để chống lại họ.

Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng vị thế then chốt của Việt Nam chỉ được đảm bảo ngày nào Mỹ-Trung còn cạnh tranh ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng. Nếu như Mỹ-Trung mặc cả thành công như khi Nixon đến Trung Quốc hay Mỹ không thể tiếp tục duy trì sự hiện chính trị – quân sự của mình ở khu vực này thì Việt Nam rất có thể sẽ lâm nguy.

Chính vì vậy, một trong những mục tiêu đối ngoại lớn trong thời gian trước mắt là duy trì được sự quan tâm của chính quyền Trump đối với khu vực Biển Đông. Trong chuyến thăm tới Việt Nam mới đây, Tổng thống Trump đã nói với Chủ tịch nước Trần Đại Quang rằng Mỹ sẵn sàng đóng vai trò “trung gian hòa giải” trong tranh chấp Biển Đông. Việc Mỹ đóng vai trò trung gian hòa giải không đảm bảo sẽ mang lại kết quả có lợi cho Việt Nam nhưng Trump luôn tự hào rằng mình là một nhà đàm phán “thượng thặng”, việc Việt Nam bật đèn xanh đối với mong muốn trở thành nhà trung gian hòa giải của Trump rất có thể sẽ duy trì được sự quan tâm của vị tổng thống Mỹ đối với khu vực này và giảm thiểu rủi ro Mỹ rút lui khỏi Châu Á hoặc dùng Việt Nam làm con bài để mặc cả với Trung Quốc về vấn đề Triều Tiên.

Ngô Di Lân là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Brandeis, Hoa Kỳ.

This entry was posted in An ninh CA-TBD, Bình luận, Tranh chấp Biển Đông, Việt Nam and tagged , . Bookmark the permalink.
  • TRUNG TRUONG

    1.-Để đứng vững thì tự mình phải mạnh. Nền tảng của sức mạnh ấy là một hệ thống chính trị lành mạnh có hiệu năng cao, tạo được sự đoàn kết nội bộ và xây dựng được nền kinh tế vững mạnh.

    2.-Nguyên tắc Ba Không sẽ không duy trì được lâu vì nó đã bỏ sót một yếu tố quan trọng; đó là yếu tố văn hoá. VN rõ ràng đã chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hoá Trung Hoa qua hàng ngàn năm; ảnh hưởng đó, hiện nay, lại gia tăng gấp bội do mối quan hệ ý thức (và cả tổ chức nữa) của đảng CSVN đối với đảng CSTQ.

    Ví von thì nguyên tắc Ba Không là chiếc thuyền nan; còn ảnh hưởng văn hoá-ý hệ bao trùm của Trung Quốc là biển cả. Trong trường kỳ, nếu người Việt không sớm thức tỉnh, thì chiếc thuyển nan mỏng manh đó sẽ bị ba đào của biển cả nhận chìm mà thôi. Và chính quyền Trump của Mỹ, với chủ trương neo-isolationism và American First của nó, sẽ là lực cộng hưởng cho cơn ba đào đó mà thôi.

    Trong cương vị một nước nhỏ, để vận dụng được nguyên tắc cân bằng quyền lực trên bàn cờ quốc tế, điều ưu tiên là phải tìm cách thoát ly, càng nhiều càng tốt, càng sớm càng hay, ảnh hưởng văn hoá-ý hệ do cường quốc ở gần tạo ra cho mình. Về khía cạnh này, Nhật Bản, rồi gần đây là Singapore, là những bài học. Nhật, cũng như VN, đã chịu ảnh hưởng Khổng Mạnh qua hàng ngàn năm. Tiếng súng từ chiến hạm của Tây Phương đã thức tỉnh người Nhật. Từ đó họ dốc tâm thoát dần ảnh hưởng văn minh Trung Hoa, học tập khoa học kỹ thuật của Tây Phương, và đưa nước Nhật ra khỏi quỹ đạo Trung Hoa. Singapore cũng vậy, Lý Quang Diệu hiểu rằng để đứng vững và phát triển, cần phải tách càng xa khỏi ảnh hưởng Trung Quốc và đi gần hơn với Tây Phương; ngay cả ngôn ngữ, ông Lý đã không dùng tiếng Hoa làm ngôn ngữ chính thức, mà dùng Anh ngữ.

    Riêng về mặt ý hệ, nếu người CSTQ có thể tạo ra được một loại Chủ Nghĩa XH với đặc trưng Trung Hoa, thì tại sao người CSVN lại không tạo ra một loại CNXH mang sắc thái Việt Nam. Thiết nghĩ đó là bước đầu của một sự tự chủ về tư tưởng, làm nền tảng cho việc thực hiện được nguyên tắc Ba Không một cách lâu dài.