Kinh tế học có thể học được gì từ các ngành nhân văn?

Nguồn: Gary Saul Morson & Morton Schapiro, “Economics With a Humanities Face,” Project Syndicate, 28/07/2017.

Biên dịch: Nguyễn Thị Minh Châu | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Trong một cuộc khảo sát năm 2006, giáo sư các trường đại học ở Mỹ được hỏi rằng sở hữu kiến thức trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu thì tốt hơn hay là nên sở hữu kiến thức chỉ trong một lĩnh vực. Trong số các giáo sư tâm lý học tham gia khảo sát, có 79% tỏ ra hứng thú với việc nghiên cứu liên ngành, giống như 73% các nhà xã hội học và 68% các sử gia. Những người ít nhiệt tình nhất? Các nhà kinh tế học: chỉ 42% người được khảo sát cho biết họ đồng ý với nhu cầu hiểu thế giới thông qua một ống kính đa ngành. Như một nhà quan sát đã nói một cách thẳng thừng: “Các nhà kinh tế nghĩ rằng họ không có gì để học hỏi từ bất cứ ai khác.”

Trên thực tế, các nhà kinh tế học sẽ được hưởng lợi rất lớn nếu họ mở rộng trọng tâm của mình. Nghiên cứu với đối tượng con người, kinh tế học có nhiều điều để học hỏi từ các ngành nhân văn. Điều đó không chỉ khiến các mô hình kinh tế học có thể thực tế hơn và dự đoán của nó có thể chính xác hơn, mà các chính sách kinh tế còn có thể hiệu quả hơn và công bằng hơn. Continue reading “Kinh tế học có thể học được gì từ các ngành nhân văn?”

Thâm hụt tài khoản vãng lai là gì?

Nguồn:What is a current-account deficit”, The Economist, 07/04/2017

Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Và liệu nó có phải là một nguyên nhân để lo lắng hay không?

Các nhà kinh tế học thường lo lắng về thâm hụt tài khoản vãng lai của một quốc gia. Mức thâm hụt này của Thổ Nhĩ Kỳ là khoảng 4% GDP. Năm ngoái, thâm hụt của nước Anh chiếm khoảng 4,5% GDP. Mỹ cũng phải chịu mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn trong nhiều năm. Điều này có ý nghĩa gì, và liệu mọi người có nên lo lắng về nó? Continue reading “Thâm hụt tài khoản vãng lai là gì?”

Hãy thay đổi cách tiếp cận đối với chính sách tiền tệ

Nguồn: Michael Heise, “Rewriting the Monetary-Policy Script,” Project Syndicate, 02/03/2017.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Biên tập: Nguyễn Huy Hoàng

Các ngân hàng trung ương lớn sẽ còn tiếp tục mù quáng dựa vào những luật lệ cứng nhắc để kiểm soát lạm phát và kích thích tăng trưởng trong bao lâu nữa? Với những lợi ích rõ ràng của chính sách tiền tệ linh hoạt, các nhà điều hành ngân hàng trung ương cần nhìn vào những cơ hội mà sự linh hoạt có thể mang lại.

Từ lâu, quy tắc vàng của các nhà hoạch định chính sách tiền tệ là nếu lạm phát xuống dưới khoảng mục tiêu chính thức, lãi suất ngắn hạn sẽ được điều chỉnh xuống một mức có thể thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư. Cách tiếp cận này có nghĩa là một khi lãi suất ngân hàng xuống gần đến hoặc đến mức 0%, các ngân hàng trung ương sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc kích hoạt các chương trình mua tài sản lớn với nhiệm vụ kích cầu. Khi tình huống này xảy ra, các nhà hoạch định chính sách tự động đi theo các kịch bản định trước của các mô hình kinh tế tân Keynes. Continue reading “Hãy thay đổi cách tiếp cận đối với chính sách tiền tệ”

Liệu thị trường có thể quá tự do không?

Nguồn:Can markets be too free?“, The Economist, 02/01/2017

Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Khi được hỏi tại sao Cục Dự trữ Liên bang (Fed) lại thất bại trong việc chẩn đoán tình trạng cho vay ngân hàng lỏng lẻo vốn cuối cùng đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Alan Greenspan, cựu chủ tịch Fed, cho biết ông đã có một mô hình sai. Ông đã giả định rằng các chủ ngân hàng, vốn hành động vì lợi ích của mình, sẽ không thể phá hoại ngân hàng của chính mình. Ông ta đã sai, và kể từ đó quy định đối với các ngân hàng đã trở nên chặt chẽ hơn.

Trên thực tế, một phần do cuộc khủng hoảng và các rối loạn chính trị mà cuộc khủng hoảng đã giúp làm gia tăng (như Brexit, hay việc Donald Trump đắc cử), nên thành kiến chống lại việc can thiệp vào các thị trường (về tín dụng, hàng hoá thương mại quốc tế, và những thứ khác) đã trở nên suy yếu đáng kể. Câu hỏi cho các nhà hoạch định chính sách dường như không còn là “Làm thế nào để tự do hóa thị trường?”. Mà thay vào đó, nó trở thành “Liệu thị trường có thể quá tự do không?” Continue reading “Liệu thị trường có thể quá tự do không?”

Giải mã cuộc khủng hoảng của kinh tế học

Nguồn: Paola Subacci, “Economic Crises and the Crisis of Economics”, Project Syndicate, 13/01/2017.

Biên dịch: Ngô Việt Nguyên | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Có thật là ngành kinh tế học “đang gặp khủng hoảng”? Nhiều người làm chính sách, như là Andy Haldane, kinh tế trưởng của Ngân hàng Anh, tin rằng điều đó là sự thật. Thật vậy, một thập niên trước, các nhà kinh tế học đã không dự báo được một cơn bão lớn sắp xảy ra, cho đến khi nó trở thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lớn nhất trong gần 80 năm. Gần đây hơn, họ đã nhận định sai về những ảnh hưởng tức thời mà cuộc trưng cầu Brexit sẽ gây ra cho nền kinh tế Anh.

Dĩ nhiên là những dự báo hậu Brexit không hẳn là sai hoàn toàn, nhưng với điều kiện là chúng ta nhìn vào ảnh hưởng dài hạn của cuộc trưng cầu Brexit. Đúng là một số nhà kinh tế học cho rằng nền kinh tế Anh sẽ sụp đổ trong sự hoảng loạn diễn ra sau kết quả trưng cầu, nhưng các hoạt động kinh tế đã chứng minh rằng nó tương đối vững vàng, với GDP tăng khoảng 2,1% trong năm 2016. Nhưng giờ đây khi Thủ tướng Anh Theresa May ngụ ý rằng bà muốn một Brexit “cứng”, tiên lượng dài hạn ảm đạm dường như là nhận định đúng. Continue reading “Giải mã cuộc khủng hoảng của kinh tế học”

Toàn dụng lao động thực sự nghĩa là gì?

Nguồn:What full employment really means”, The Economist, 29/01/2017

Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Năm 1977, chính phủ Mỹ đã đưa ra cho Cục Dự trữ Liên bang (Fed) một điều có vẻ như một mục tiêu đơn giản: việc làm tối đa. Janet Yellen, Chủ tịch hiện tại của Fed, cho rằng Mỹ đã đến khá gần mục tiêu; ở mức 4,7%, tỷ lệ thất nghiệp là khá thấp theo tiêu chuẩn lịch sử. Nhưng các công ty vẫn tiếp tục thuê lao động, và những người Mỹ trưởng thành, trong đó chỉ có khoảng 69% có việc làm, có vẻ ít hơn số lao động được sử dụng ở mức tối đa. Hầu hết các chính phủ đặt cho mình hoặc các ngân hàng trung ương một phương châm là toàn dụng lao động hoặc việc làm tối đa. Nhưng chính xác thì như thế nào được tính là toàn dụng lao động? Continue reading “Toàn dụng lao động thực sự nghĩa là gì?”

Liệu pháp ‘tiền trực thăng’ rồi sẽ phải được dùng tới?

helicoptermoney

Nguồn: Robert Skidelsky, “Helicopter Money is in the Air”, Project Syndicate, 22/09/2016.

Biên dịch: Dương Huy Quang | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Chính sách tài khóa đang thịnh hành trở lại sau nhiều năm, nếu không muốn nói là nhiều thập niên, liên tục bị thất sủng. Lý do thật đơn giản: sự phục hồi không đầy đủ sau cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008.

Nói tới vấn đề phục hồi, Châu Âu đang là khu vực chật vật nhất: GDP của lục địa già gần như không tăng trưởng trong 4 năm trở lại đây, còn GDP bình quân đầu người thậm chí vẫn đang thấp hơn mức năm 2007. Không những vậy, các dự báo về tăng trưởng của Châu Âu đều nhuốm một màu ảm đạm. Tháng 7 vừa qua, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) đã công bố một báo cáo trong đó gợi ý rằng mức chênh lệch sản lượng âm (so với sản lượng tiềm năng) trong khu vực đồng euro là 6%, cao hơn 4 điểm phần trăm so với dự báo trước đó. Continue reading “Liệu pháp ‘tiền trực thăng’ rồi sẽ phải được dùng tới?”

Hệ số nhân Keynes là gì?

20160813_bbd001_0

Nguồn: What is the Keynesian multiplier?“, The Economist, 07/09/2016.

Biên dịch: Thu Hương

Khi Tổng thống Obama tìm cách kích thích nền kinh tế Mỹ đang uể oải bằng cách tung ra một gói kích thích tài khóa trị giá hơn 800 tỷ USD, một cuộc tranh luận gay gắt đã nổ ra. Một số chuyên gia kinh tế thừa nhận rằng gói này sẽ không giúp ích nhiều cho nền kinh tế, ngược lại một số khẳng định GDP Mỹ sẽ được cộng thêm nhiều hơn con số 800 tỷ USD. Tuy nhiên, cả hai phe đều dựa vào một khái niệm kinh tế cơ bản: hệ số nhân Keynes.

Đây là một trong những khái niệm cơ bản nhất và cũng gây tranh cãi nhiều nhất trong kinh tế học vĩ mô. Vậy thì khái niệm này ra đời từ đâu và tại sao lại gây ra nhiều tranh cãi đến vậy? Continue reading “Hệ số nhân Keynes là gì?”

Bộ ba bất khả thi là gì?

20160827_bbd001_0

Nguồn: What is the impossible trinity?“, The Economist, 09/09/2016

Biên dịch: Thu Hương

Trước khi đồng tiền chung châu Âu euro ra đời năm 1999, các thành viên đã neo đồng nội tệ của mình vào đồng mark Đức. Kết quả là họ buộc phải nương vào chính sách tiền tệ của NHTW Đức để điều chỉnh chính sách của riêng mình. Một số nước dễ dàng làm được điều này bởi vì có các ngành kinh tế gắn bó chặt chẽ với Đức và như vậy mối quan hệ giữa hai bên là “nước nổi thuyền nổi’.

Tuy nhiên, có một số nước không thể duy trì chính sách tiền tệ như vậy. Năm 1992, Anh buộc phải “nhổ neo” vì nền kinh tế Anh đang rơi vào suy thoái trong khi kinh tế Đức bùng nổ. Continue reading “Bộ ba bất khả thi là gì?”

Điểm cân bằng Nash và thế lưỡng nan của tù nhân là gì?

20160820_bbd001_0

Nguồn: What is the Nash equilibrium and why does it matter?“, The Economist, 06/09/2016

Biên dịch: Thu Hương

Các nhà kinh tế học có thể giải thích những điều diễn ra trong quá khứ và đôi lúc còn có thể dự đoán chính xác về tương lai. Tuy nhiên, không nhiều học thuyết có tính ứng dụng trong thực tiễn cao như điểm cân bằng Nash – học thuyết kinh tế được đặt tên theo nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nó và cũng nhờ đó mà đạt giải Nobel kinh tế năm 1994.

Khái niệm đơn giản này còn giúp các nhà kinh tế học tìm ra nguyên lý xác định giá cả của các công ty, giải thích các Chính phủ nên thiết kế những cuộc đấu giá như thế nào để được hưởng lợi nhiều nhất và giải thích cả nguyên nhân tại sao đôi lúc trong 1 nhóm sẽ đưa ra những quyết định tự chuốc lấy thất bại. Vậy thì điểm cân bằng Nash là gì và tại sao đây là một trong những khái niệm kinh tế có ý nghĩa quan trọng và thay đổi cả thế giới? Continue reading “Điểm cân bằng Nash và thế lưỡng nan của tù nhân là gì?”