Vấn đề với chữ Hán giản thể

NỘI QUY: Các thành viên tự chịu trách nhiệm về các nội dung mình chia sẻ trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tôn trọng lẫn nhau. Để tham gia Diễn đàn, các bạn có thể đăng ký làm thành viên tại ĐÂY. Trước khi bắt đầu, các bạn nên đọc hướng dẫn sử dụng Diễn đàn tại ĐÂY.

  • This topic is empty.
Viewing 0 reply threads
  • Author
    Posts
    • #32739
      The Observer
      Keymaster

      Vấn đề với chữ Hán giản thể

      Chữ Hán (Nho) phồn thể hiện vẫn đang được dùng tại nhiều nơi như Đài Loan, Hồng Công, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên. Việt Nam thì không thấy “đang dùng” rộng rãi, trừ một số chuyên gia. Trung Quốc đang dùng chữ giản thể. Các nước thống nhất rằng coi chữ giản thể là chữ của Trung Quốc hiện đại, không coi nó là chữ Nho.

      Có nhiều người Trung Quốc liệt kê một số các chữ Hán giản thể, đem đối chiếu với chữ phồn thể thì thấy khác đi nhiều, sái cả nghĩa. Liệu nó có ảnh hưởng đến tư duy, quan điểm sống hiện nay không thì chưa rõ.

      1. Thân bất kiến: Thân (親)vốn là phải gặp nhau thường xuyên, vậy nên có chữ “kiến” (見).
      Chữ “thân” hiện tại bị viết giản lược (亲), mất chữ kiến, nên gọi là Thân bất Kiến. Thân tình giả tạo vì không gặp sao thành thân thiết được. Có lẽ, điện thoại là một trong những thứ góp phần mạnh nhất vào “thân bất kiến” hiện nay.

      2. Sản vô Sinh: Từ chữ “Sản” phồn thể 產 (sinh sản) thành chữ “Sản” giản thể 产, mất chữ “Sinh” 生, thành Sản vô Sinh.
      Sản phải sinh thì mới trường tồn. Sản mà không sinh thì tuyệt hậu, mất kết nối với tương lai. Về kinh tế, đấy là phát triển thiếu bền vững.

      3. Hương vô Lang: Chữ “Hương” phồn thể 鄉 (Quê hương).
      Chữ “Hương” giản thể hiện nay (乡), mất đi chữ “Lang” 郎, thành Hương vô Lang, tức là quê vắng bóng trai tráng. Về quê bây giờ, nhiều nơi thấy chỉ toàn người già, phụ nữ và trẻ con. Trai tráng bỏ quê đi làm xa hết.

      4. Ái vô Tâm: “Ái” là yêu. Yêu phải từ tâm mà ra. Chính vì vậy, chữ phồn thể của Ái (愛) có chữ Tâm (心).
      Nhưng chữ “Ái” giản thể hiện nay (爱) đã bị mất đi chữ “Tâm” 心, thành Ái vô Tâm. Giờ, tình yêu đã không còn xuất phát từ trái tim nữa.

      5. Miến vô Mạch: Chữ “Miến” là mì, bởi vậy, chữ Miến phồn thể (麵) có bộ mạch (麥).
      Nhưng chữ “Miến” giản thể bây giờ (面) bị mất “bộ Mạch”(麥), thành Miến vô Mạch. Miến không còn là thứ từ lúa mạch nữa, nó là miến giả, có hóa chất giả mạch.

      6. Tiến bất Giai: Chữ “Tiến” phồn thể (進) vốn có nghĩa tích cực, ý là phát triển, vậy nên có chữ giai (佳) ý là Đẹp.
      Chữ “Tiến” giản thể hiện nay (进) lại bỏ chữ giai (佳), thay chữ tỉnh (井), là Tiến bất Giai, thành Tiến với cái giếng hạn hẹp, thiển cận. Tiến mấy cũng chỉ như ếch ngồi trong giếng mà thôi.

      7. Ứng vô Tâm: Chữ “Ứng” nguyên thể là chữ應, có chữ Tâm (心), ý chỉ sự đáp ứng, giúp đỡ chân thành.
      Chữ “Ứng” giản thể hiện nay (应), mất đi chữ “Tâm” , thành Ứng vô Tâm, lời nói đầu môi, hành động giả tạo.

      8. Thính bất Nhĩ: Thính là lắng nghe, muốn nghe phải có tai. Vậy nên, chữ “Thính” nguyên bản (聽) gồm bộ “Nhĩ耳” (tai), bộ “Vương 王” (vua), chữ “Thập 十” (mười), chữ “Mục目” (mắt), chữ “Nhất一” và chữ “Tâm 心”. Để lắng nghe, phải dùng tai (nhĩ) dùng con tim (tâm), dùng mắt (mục), xem trọng (vương) và bao quát (thập).
      Tuy nhiên, chữ “Thính” giản thể hiện nay (听) đã bị mất đi chữ “Nhĩ” (耳), thành Thính bất Nhĩ. Nghe mà thiếu mất tai. Nó chỉ gồm bộ “Khẩu口” (cái miệng) và bộ “Cân斤” (cái rìu). Đại ý là không phải dùng tai, dùng mắt, hay dùng tâm để lắng nghe mà là chỉ dùng bằng miệng, bằng những lời búa rìu sắc nhọn.

      9. Ưu vô Ưu: Ưu là ưu tú. Nhưng cần nhìn xa, biết lo cho tương lai. Do vậy, chữ “Ưu” phồn thể 優 có chữ Ưu (憂) là lo âu.
      Tuy nhiên, chữ “Ưu” giản thể hiện nay (优) mất chữ “Ưu” (憂), thành Ưu vô Ưu. Như vậy, thành ưu tú mà chủ quan, dễ hỏng sau này.

      10. Thái vô Thủ: Thái là hái lượm. Do vậy, chữ “Thái” phồn thể (採) có bộ thủ (手), ý nói, muốn có, đạt được gì thì phải động tay chân, lao động.
      Tuy nhiên, chữ Thái giản thể hiện nay (采) thiếu bộ Thủ 手 là cái tay, thành Thái vô Thủ, kiểu muốn hưởng mà không muốn làm gì. Lười nhác.

      11. Bút… cong: Bút chính là cái bút, cây viết. Chữ “Bút” nguyên gốc viết là 筆.
      Tuy nhiên, chữ “Bút” giản thể hiện nay lại là “笔”, cái ngòi bút đã bị cong thành lưỡi câu, không còn ngay thẳng.

      12. Tân hữu Binh: Tân ở đây là Khách. Chữ “Tân” nguyên thể viết là “賓”, ý là khách quý đến nhà mang theo quà (貝– bối, bảo bối).
      Chữ “Tân” giản thể hiện nay là “宾”, chỉ còn bộ “Miên” là mái nhà (宀), bị bỏ đi chữ Bối 貝, thay vào đó lại thêm chữ “Binh” (兵), thành Tân hữu Binh. Vậy là Khách đã chuyển từ dụng Lễ sang dụng Binh khi đến chơi nhà.

      13. Miếu bất Triều: Miếu là cái miếu thờ, chỉ nơi thờ phụng. Do vậy, chữ “Miếu” phồn thể “廟” có chữ Triều (朝), là bái lạy.
      Chữ “Miếu” giản thể hiện nay (庙) bị lược đi chữ “Triều” 朝, thành Miếu bất Triều, nơi thờ phụng đã bị mất đi sự kính cẩn vốn phải có, chỉ còn lại cái xác, mượn danh.

      14. Võng vô Mịch: Chữ “Võng” là lưới (thiên la địa võng), phổn thể là “網”.
      Chữ “Võng” giản thể hiện nay (网) lại bị mất đi bộ Mịch 糸, là sợi cước, thành Võng vô Mịch. Lưới không có cước, lưới vô dụng, lưới làm vì. Pháp luật có như không.

      15. Hậu nhất khẩu: Chữ “Hậu” là Sau, Đời sau. Chữ Hậu phồn thể “後” hiện bị thay thành chữ giản thể “后” với nghĩa là chư hầu, hay vợ (hoàng hậu). Chữ đơn giản, có chữ nhất “一”, bộ khẩu “口”, gọi là Hậu nhất khẩu, chỉ sự thiếu thốn về tử tôn nối dõi.

      Một số quy tắc giản thể hiện nay:

      1. Giữ lại 1 phần tự hình: 开(開), 录(錄), 灭(滅), 务(務), 乡(鄕), 习(習)

      2. Thay đổi 1 phần tự hình: 妇(婦), 丽(麗), 显(顯)

      3. Sử dụng quy tắc đồng âm của các bộ thủ để hợp nhất: 蜡(蠟), 钟(鐘), 远(遠)

      4. Chỉ giữ lại phần và hình cơ bản nhất của phồn thể: 飞(飛), 广(廣), 气(氣), 厂(廠)

      5. Biến dạng chữ Thảo thành dạng chữ Khải: 书(書), 长(長), 乐(樂), 车(車), 兴(興)

      6. Đơn giản hóa các bộ thủ: 邓(鄧), 观(觀), 对(對)

      7. Gom các chữ đồng âm vào 1 chữ: 谷(穀), 丑(醜), 后(後), 只(隻), 干(乾, 幹)

      8. Sáng tạo thêm chữ “Hội ý”: 尘(塵), 泪(涙)

      9. Chọn và dùng phần có ít nét hơn: 从(從), 云(雲), 网(網)

      10. Đổi phần biểu âm của chữ bằng chữ khác: 毙(斃), 护(護), 惊(驚), 肤(膚)

      Nguồn: Facebook

Viewing 0 reply threads
  • You must be logged in to reply to this topic.