Washington im lặng ở Châu Á đem lại lợi thế cho Bắc Kinh

Nguồn: Mira Rapp-Hooper & Ely Ratner, “Washington’s Silence in Asia Is a Gift to Beijing”, Foreign Policy, ngày 28/01/2026

Biên dịch: Lê Mạnh Cường

Chính quyền Trump hầu như không hành động gì khi Trung Quốc đe dọa các đồng minh của Mỹ.

Khi thế giới đang chuẩn bị tinh thần đối mặt với cú sốc tiếp theo trong chính sách đối ngoại của Tổng thống Mỹ Donald Trump thì Mỹ đang phải đối diện với một thất bại âm thầm hơn nhiều ở Châu Á. Kể từ mùa thu năm ngoái, chính quyền Trump đã im lặng trước việc Trung Quốc gia tăng sức ép mạnh mẽ đối với cả Nhật Bản và Đài Loan, buộc hai đồng minh thân cận của Mỹ này phải tự xoay xở đối phó.

Việc Trump kín tiếng không phải là ngẫu nhiên. Ngoài phạm vi hẹp các vấn đề kinh tế, Tổng thống Mỹ tỏ ra chẳng mấy quan tâm đến thách thức sâu rộng mà Trung Quốc đặt ra đối với Mỹ, chứ đừng nói là thách thức đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Khác hẳn so với chính sách mang tính lưỡng đảng trong suốt thập kỷ qua – gồm cả nhiệm kỳ đầu tiên của Trump – chính quyền mới đã dành nhiều tháng gần đây để nỗ lực lấy lòng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trước chuyến thăm của Trump tới Bắc Kinh dự kiến vào tháng Tư tới.

Trong một kịch bản thuận lợi nhất, để đổi lấy một sự đón tiếp trọng thị và một thỏa thuận thương mại chỉ ở mức khiêm tốn, Trump đã làm mềm hóa chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc trên nhiều phương diện, trong đó có việc nới lỏng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu thiết yếu đối với các loại chất bán dẫn nhạy cảm và hủy bỏ kế hoạch áp đặt các biện pháp trừng phạt Trung Quốc liên quan đến các cuộc tấn công mạng quy mô lớn nhắm vào Mỹ. Đó là chưa kể đến việc Washington đã để các đồng minh của mình rơi vào tình thế bị bỏ rơi.

Trump có thể thấy rằng việc bỏ rơi các đồng minh trong lúc khó khăn không gây ra nhiều tổn thất nhưng các quan chức cấp cao trong chính quyền của ông, cũng như những chuyên gia theo dõi Trung Quốc thuộc cả hai đảng tại Quốc hội chắc chắn hiểu rõ hơn về vấn đề này. Đáng tiếc là thời gian của họ đang cạn dần. Để tránh gây ra những tổn hại lâu dài đối với vị thế của Mỹ tại châu Á, các nhà lãnh đạo trong chính quyền Mỹ (dù khả năng này là không cao) và Quốc hội cần phải hành động để ngăn chặn một sự đầu hàng âm thầm trước Tập Cận Bình.

Không chỉ các đối tác châu Âu đang gặp khó, các đồng minh của Washington tại khu vực Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương cũng có lý do chính đáng để lo ngại. Tập Cận Bình đã thao túng Trump khiến ông thể hiện cho cả khu vực này thấy rằng Mỹ sẵn sàng rút lui khỏi những lợi ích lâu dài của họ trước sức ép của Bắc Kinh. Trung Quốc không chỉ đang cô lập và đe dọa các đối tác thân cận của Mỹ mà còn thể hiện cho phần còn lại của châu Á thấy rằng các cam kết của Mỹ có thể đem ra mặc cả nếu được giá.

Điều đó đúng ngay cả với những quốc gia đã từng chủ động lấy lòng Trump. Xét trên mọi phương diện, cuộc gặp đầu tiên giữa Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi và Tổng thống Mỹ đã đạt được thành công vang dội. Takaichi, đại diện cho phe bảo thủ trong Đảng Dân chủ Tự do cầm quyền lâu năm, thường được báo chí Nhật so sánh với Trump và hai nhà lãnh đạo này đã thể hiện sự ăn ý tức thì tại Hội nghị Thượng đỉnh hồi cuối tháng 10 ở Tokyo, cả hai đã công bố các sáng kiến lớn về đóng tàu và khoáng sản thiết yếu. Thủ tướng Nhật Bản ca ngợi đây là “một kỷ nguyên vàng mới” trong quan hệ song phương, và trước khi rời Tokyo, Trump cam kết: “Nếu Nhật Bản cần bất kỳ sự giúp đỡ nào, Mỹ sẽ luôn hiện diện”.

Thế nhưng chỉ trong vòng một tuần, Tổng thống Mỹ đã bỏ rơi người đồng minh mới của mình. Hồi đầu tháng 11, Takaichi đã có cuộc điều trần trước Quốc hội Nhật Bản về những hệ lụy của cuộc xung đột liên quan đến Đài Loan. Bà đưa ra một đánh giá thận trọng: Theo luật của Nhật Bản, một cuộc tấn công của Trung Quốc vào Đài Loan có thể coi là “tình huống đe dọa đến sự tồn vong”, từ đó cho phép Nhật Bản thực hiện can thiệp quân sự.

Tuyên bố của Takaichi dù thẳng thắn hơn bất kỳ Thủ tướng Nhật Bản nào trước đây nhưng thực chất nó cho thấy Nhật Bản đang trong tình thế nan giải về vấn đề Đài Loan. Gần như toàn bộ tuyến hàng hải, nguồn cung ứng năng lượng thiết yếu và lưu thông thương mại của Nhật Bản đều đi qua khu vực gần Đài Loan. Một cuộc xâm lược của Trung Quốc ở đây dường như chắc chắn sẽ lan sang vùng biển và không phận quanh quần đảo phía nam của Nhật Bản. Việc thừa nhận thực tế này không phải là hành động gây hấn mà là sự thẳng thắn trong tính toán chiến lược cơ bản. Hơn nữa, nhiều tháng trước đó, các quan chức chính quyền Trump đã thúc ép các đồng minh Mỹ, trong đó có Nhật Bản, phải can dự sâu hơn trước nguy cơ xảy ra khủng hoảng tại Đài Loan, việc này được xem như một phần trong nỗ lực thúc đẩy chia sẻ gánh nặng quốc phòng với Mỹ.

Bắc Kinh đã phản ứng bằng một màn nổi giận tức thì vốn rất quen thuộc. Một nhà ngoại giao cấp cao của Trung Quốc tại Osaka đăng trên mạng xã hội rằng “cái cổ bẩn thỉu” của Takaichi nên bị “chặt đứt” (nội dung này sau đó đã bị xóa). Truyền thông nhà nước Trung Quốc mở chiến dịch tuyên truyền đặt nghi vấn về chủ quyền của Nhật Bản đối với các đảo ngoài khơi. Bắc Kinh đã ban hành khuyến cáo về di chuyển cảnh báo công dân nước này không nên đến Nhật Bản, cấm nhập khẩu hải sản Nhật Bản và ngăn các nghệ sĩ của Nhật Bản biểu diễn tại Trung Quốc. Phản ứng của Washington là gì? Chỉ là sự im lặng đầy thất vọng.

Thậm chí sau hơn một tuần chính quyền Trump mới thừa nhận rằng những việc này đã xảy ra. Và khi họ lên tiếng, thông điệp không đến từ Bộ trưởng Quốc phòng hay Cố vấn An ninh quốc gia, mà chỉ là một dòng tweet mơ hồ của một Phó Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao.

Vài ngày sau đó, Trump đã có cuộc điện đàm với Tập Cận Bình, và Tập đã tận dụng cơ hội này để nhấn mạnh tầm quan trọng sống còn của Đài Loan đối với Trung Quốc. Trái lại, trong chính phần tường thuật của mình về cuộc điện đàm, Trump hoàn toàn phớt lờ vấn đề này, chỉ khoe khoang rằng quan hệ Mỹ – Trung là “cực kỳ vững mạnh!”.

Theo nhiều nguồn tin, Trump sau đó đã liên hệ với Takaichi và yêu cầu bà hạ giọng về vấn đề Đài Loan — một trường hợp hiếm thấy khi Mỹ đại diện cho lập trường của Trung Quốc trước một đồng minh của mình. Không có quan chức cấp cao nào của Mỹ nhắc đến các cam kết của Washington với đồng minh hay cảnh báo Trung Quốc không được sử dụng các biện pháp cưỡng ép kinh tế. Washington cũng không vận động các đối tác khác, như Nhóm G7, cùng đứng về phía Nhật Bản để phản đối Bắc Kinh.

Hãy sao sánh sự im lặng này của Trump với phản ứng của Mỹ trước một trong những động thái táo bạo nhất của Tập Cận Bình vào hồi đầu nhiệm kỳ của mình, khi Bắc Kinh đơn phương tuyên bố Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) vào tháng 11 năm 2013 trên phần Biển Hoa Đông đang tranh chấp với Nhật Bản — một động thái được xem là nhằm áp đặt những yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc. Khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại trưởng Mỹ đã ra tuyên bố phản đối hành động này ngay trong ngày mà Trung Quốc ra tuyên bố. Hai ngày sau, hai máy bay ném bom B-52 của Mỹ đã bay qua khu vực này mà không thông báo cho nhà cầm quyền Trung Quốc, điều này trực tiếp thách thức Bắc Kinh và gửi đi một tín hiệu rõ ràng và mạnh mẽ trong việc ủng hộ Tokyo. Cho đến nay, Trung Quốc vẫn chưa bao giờ thực thi đầy đủ ADIZ ở khu vực trên.

Sang đến năm 2025, chúng ta đã chứng kiến chính quyền Trump không hề có phản ứng tương tự. Trái lại, đối diện với sự im lặng của Washington, Trung Quốc đã triển khai một hoạt động khiêu khích nguy hiểm: Các tiêm kích của Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) đã khóa radar điều khiển hỏa lực — tín hiệu thường để chuẩn bị cho việc phóng tên lửa — nhắm vào máy bay Nhật Bản đang hoạt động trong không phận quốc tế. Khi thông tin này bị phanh phui — hành vi mà bất kỳ chính quyền Mỹ nào trước đây cũng sẽ lên án ngay lập tức — đội ngũ của Trump lại trì hoãn và giao việc phản hồi cho một phát ngôn viên cấp trung.

Thậm chí ngay cả phản ứng quân sự mang tính biểu tượng tối thiểu như một nhiệm vụ bay của máy bay ném bom Mỹ cùng không quân Nhật Bản, cũng chỉ diễn ra hơn một tháng sau khi tranh chấp nổ ra — đúng với mẫu hình quá ít, quá muộn. Thấy Washington gần như không mấy quan tâm, Bắc Kinh tiếp tục gia tăng cưỡng ép kinh tế với Tokyo, triển khai các bước để cấm xuất khẩu một số mặt hàng lưỡng dụng sang Nhật Bản, trong đó có đất hiếm và linh kiện điện tử. Dù Takaichi vẫn giữ vững lập trường, vấn đề đặt ra là bà có thể trụ được bao lâu nếu Trung Quốc tiếp tục leo thang còn Washington vẫn đứng ngoài.

Nhật Bản không phải là đối tác duy nhất nhận sự im lặng của chính quyền Trump. Cuối tháng 12 năm 2025, việc Đài Loan công bố gói vũ khí kỷ lục trị giá 11,1 tỷ USD từ Mỹ đã vô tình mang đến cho Bắc Kinh cái cớ để chứng minh rằng sự hợp tác như vậy sẽ phải trả giá. PLA đáp trả bằng cuộc tập trận lớn nhất trong khu vực kể từ năm 2022, lần đầu tiên bắn rocket vào vùng tiếp giáp của Đài Loan và công khai diễn tập kịch bản ngăn chặn lực lượng nước ngoài can thiệp.

Một kiểu xu hướng đe dọa của PLA giờ đã quá rõ ràng: Mỗi cuộc tập trận quy mô lớn đều siết chặt các vùng đệm quanh Đài Loan, coi việc triển khai các chiến dịch gần lãnh thổ của Đài Loan hơn là điều bình thường, và nâng dần ngưỡng chuẩn đối với những gì Bắc Kinh coi là hoạt động thường lệ — từng bước làm xói mòn không gian địa lý và tâm lý liên quan đến Đài Loan, nơi vốn đã duy trì hòa bình suốt nhiều thập kỷ.

Nhiều người có thể nghĩ rằng điều đó sẽ cảnh báo chính quyền Trump, nhất là khi chỉ vài tuần trước đó Mỹ công bố Chiến lược An ninh Quốc gia trong đó tái khẳng định lập trường lâu nay rằng “Mỹ không ủng hộ bất kỳ sự thay đổi đơn phương nào đối với nguyên trạng ở eo biển Đài Loan”.

Thế nhưng Trump lại gạt bỏ những lo lắng về cuộc diễn tập phong tỏa Đài Loan của PLA, ông nói với báo chí rằng “Trung Quốc đã tập trận hải quân ở khu vực đó suốt 20 năm rồi”. Điều này hoàn toàn đối lập với phản ứng của các nền dân chủ trên thế giới, vốn lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ các hoạt động nguy hiểm của Trung Quốc. Trong một đăng tải đáng chú ý trên mạng xã hội, Bộ Ngoại giao Đài Loan đã cảm ơn sự ủng hộ của Liên minh châu Âu và sáu quốc gia đối tác của mình nhưng đáng lưu ý là không nhắc tới Mỹ. Chỉ sau tất cả những chuyện như vậy, chính quyền Trump mới miễn cưỡng đưa ra phản hồi công khai, một lần nữa bằng một tuyên bố lập lờ của Phó Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao. Kể từ đó, Lầu Năm Góc công bố Chiến lược Quốc phòng mới mà không hề nhắc đến Đài Loan.

Một thông điệp rõ ràng đã được gửi tới thế giới: Ngay cả những đồng minh đang tăng chi tiêu quốc phòng, gánh vác nhiều trách nhiệm hơn cho việc bảo vệ chính mình và kiên quyết chống lại sự cưỡng ép của Bắc Kinh cũng đang bị Mỹ bỏ mặc tự xoay xở.

Nếu tình trạng này tiếp diễn, Washington sẽ phải đối mặt với nhiều hệ lụy. Việc đội ngũ của Trump im lặng đã gây ra dư chấn lan rộng khắp chính trường nội bộ của từng quốc gia đồng minh, khiến cho các quan điểm chống liên minh và những người ủng hộ việc thỏa hiệp với Trung Quốc mạnh dạn lên tiếng. Điều này có nguy cơ dẫn đến một làn sóng các đồng minh Mỹ đổ dồn đến Bắc Kinh. Chuyến thăm đầy trọng vọng của Thủ tướng Canada Mark Carney tới Trung Quốc vào giữa tháng Giêng nên được coi như là hồi chuông cảnh tỉnh cho Washington. Có ý kiến chỉ trích cho rằng nếu Mỹ không còn là đối tác như trước đây thì nhiều đồng minh buộc phải chuẩn bị thương lượng với Tập Cận Bình.

Thứ hai, trong khi chính quyền Trump tiếp tục gây áp lực buộc Nhật Bản và Đài Loan tăng chi tiêu quốc phòng thì sự sao nhãng của Washington lại làm gia tăng khả năng các đồng minh sẽ theo đuổi mức độ tự chủ cao hơn theo những cách không phù hợp với lợi ích của Mỹ.

Các đồng minh có thể mạnh hơn nhưng không nhất thiết theo cách mang lại lợi ích cho Mỹ. Kiểu quyền lực không đi kèm tầm ảnh hưởng như vậy có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức, trong đó có việc giảm mức độ hợp tác trong cơ sở công nghiệp quốc phòng khi các đồng minh theo đuổi tự cung tự cấp và đầu tư vào các nền tảng quan trọng đến mức dư thừa — thay vì bổ trợ— cho năng lực của Mỹ. Điều này dẫn đến hệ quả là sức mạnh tập thể của hệ thống liên minh do Washington dẫn dắt bị suy giảm, dù từng đối tác riêng lẻ có thể trở nên mạnh hơn./.

Mira Rapp-Hooper là một thành viên tại Asia Group và là nghiên cứu viên cao cấp thỉnh giảng tại Viện Brookings; Ely Ratner là một lãnh đạo chủ chốt tại Marathon Initiative.