Hoa Kỳ và Việt Nam thảo luận việc kiềm chế yêu sách về biển của Trung Quốc

NỘI QUY: Các thành viên tự chịu trách nhiệm về các nội dung mình chia sẻ trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tôn trọng lẫn nhau.

Đang xem 0 luồng phản hồi
  • Người viết
    Bài viết
    • #4501
      TQNam
      Quản trị

      HOA KỲ VÀ VIỆT NAM THẢO LUẬN VIỆC KIỀM CHẾ YÊU SÁCH VỀ BIỂN CỦA TRUNG QUỐC

      Ngày 26 tháng 9 năm 2014 YALEGLOBAL

      Khi Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry gặp nhau vào đầu tháng Mười thì hành vi hung hăng của Trung Quốc trong vùng biển Đông Nam Á sẽ đứng đầu chương trình nghị sự của hai bên. Những tháng ngay trước cuộc họp, nhóm các nhà ngoại giao ưu tú của Washington đã tranh luận liệu Mỹ có nên can dự vào cuộc tranh chấp hay không. Hàm ý chiến lược để mặc Trung Quốc gây ảnh hưởng mạnh mẽ lên Mỹ dẫn đến một chính sách nước đôi vừa lận lưng cây súng vừa tìm đường khác. Hai ông Kerry và Minh sẽ phải tính toán tỉ mỉ một kế sách trung hòa là giữ sự tự chủ trong chính sách của Mỹ trong khi vẫn duy trì cán cân trong khu vực.

      Trung Quốc là một cường quốc đang trỗi dậy và hợp tác với họ là điều cần thiết trong nỗ lực ngăn chận chủ nghĩa khủng bố, sự biến đổi khí hậu âm thầm, hạn chế phổ biến vũ khí hạt nhân,v.y. Song, Mỹ không thể bỏ qua nổ lực thiết lập bá quyền của Trung Quốc trên các vùng biển cận duyên. Khi thận trọng ở biển Hoa Đông, nơi Nhật Bản, đồng minh của Hoa Kỳ, là một đối thủ đáng gờm;thì họ tự tin ở Biển Đông, Trung Quốc đã tung ra một thách thức xác quyết trước trật tự quốc tế thể hiện trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển , UNCLOS, cũng như quan điểm sự tranh chấp lãnh thổ cần được giải quyết bằng thương lượng hoặc phân xử chứ không phải bằng vũ lực.

      Sáu năm trước, Trung Quốc đưa ra một bản đồ phát thảo minh họa cho yêu sách “chủ quyền không thể tranh cãi” của mình một vùngnằm trong một đường chín đoạn gồm 3,5 triệu km vuông.

      Rồi cứ từng năm tiếp sau đó, Trung Quốc tăng tiền tố bài. Triển khai hàng trăm tàu tàu đánh cá biển sâu và nhiều hàng chục tàu tuần duyên, Bắc Kinh thách thức chủ quyền của các nước láng giềng trong vùng đặc quyền kinh tế thể theo các quy tắc của UNCLOS. Họ đã khiến ngư dân Việt Nam bật khỏi ngư trường truyền thống, họgiành các nguồn tài nguyên thủy sản ở bãi cạn Scarborough từ quyền kiểm soát của Manila, quấy rối việc thăm dò dầu khí ngoài khơi bờ biển miền Trung Việt Nam, và dựng những cột mốc ở bãi cạn James, 50 dặm ngoài khơi bờ biển của Malaysia và cách 2.200 dặm về phía nam đảo Hải Nam Trung Quốc. Năm nay, Trung Quốc một lần nữa tung chủ kiếnchiến thuật của mình khi triển khai một giàn khoan dầu nước sâu và một hạm đội tàu hộ tống vào vùng cận duyên miền Trung Việt Nam, trong khi đó lại phái một đội nhỏ các tàu bơm, nạo vét và trộn xi măng sâu về phía nam với nhiệm vụ biếnmột số rạn san hô thành đảo nhân tạo.

      Bắc Kinh đã trơ ra trước sự thuyết phục và tức giận trong các hội đàm căng thẳng với các nhà ngoại giao Mỹ – từ bà Hillary Clinton và Kerry trở xuống. Chính quyềnông Tập Cận Bình có thể biết rằng các tài liệuhọcăn cứ theo đó đểra “yêu sách lịch sử” về Biển Đông là không thể đứng vững về mặt pháp lý, nhưng dư luận Trung Quốc lại thấy chúng có sức thuyết phục. Người dân Trung Quốc trên đường phố giận dữrằng các nước ngoại vi “Biển Trung Hoa” đang “ăn cắp tài nguyên của Trung Quốc” khi họ đánh cá ngoài biển sâu hoặc khoan dầu khíở biển khơi.

      Có vẻ như Trung Quốc không có ý định nộp yêu sách lãnh thổ rộng lớn của mình ra tòa án quốc tế để nhận phán quyết. Cócơ sở cho thấy họ chẳng quan tâm mấy đến việc đàm phán về một Quy tắc ứng xử với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Phát ngôn viên Trung Quốc hầu nhưđã ám chỉ một chung quyết mặc nhiên chỉ có được chỉ khi nào Việt Nam hay Philippines thừa nhận chân lýưu trội của các yêu sách của Trung Quốc.

      Do đó sự việc trở thành chuyện không thể coi Biển Đông như một màn phụ hướng tới một thỏa hiệp kỳ vọng giữa Hoa Kỳ và cường quốc mới nổi Trung Quốc. Cuộc xung đột không hề là vụng vặt – một tuyến đường biển đảm bảo cho gần một nửa lượng mậu dịch thế giới. Nay thêm vào đó là nỗi lo sâu sắc rằng kế sách xâm lấn dai dẳng hơn và thái độ phớt lờ của Bắc Kinh ở khu vực nầy, luôn gây khó chịu, đối với các quy tắc trật tự quốc tế cho thấy bản chất thực sự của Trung Quốc mà cộng đồng quốc tế cần phải đấu tranh ở mọi lúc mọi nơi có thể được. Hành động và thái độ của Trung Quốc thực hiện cuộc đối đầu tại Biển Đông là mối quan tâm chính của ngoại giao và kế hoạch chiến lược của Mỹ.

      Ờ Biển Đông, cũng như những nơi khác trên thế giới, sự can dự của Mỹ là yếu tố cần thiết nếu việc nầy có thể ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc hiệu quả. Việc thương thảo cứng rắn đơn lẻ sẽ làm suy yếy lập trường của ASEAN và cũng chẳng tác dụng gì với Bắc Kinh.

      Từ góc độ sách lược, Mỹ cư xử như thể không có lựa chọn khả thi trong khoảng cách rộng lớn giữa lên án hành động khiêu khích của Trung Quốc và triển khai Hạm đội 7. Mặt khác Trung Quốc liên tục khai thác các cơ hội trong khoảng lổ hổng nầy. Hó đã dựa vào các phương tiện bán quân sự, tàu tuần duyên cùng đội tàu phụ trợ “tàu đánh cá” để dấn thêm tham vọng chủ quyền của mình trong khi nhân dân Hải quân PLAN mật phục ngay ngoài đường chân trời.

      Tựu kế của Trung Quốc, Mỹ và các nước bạn châu Á c ù ng đồng minh có thể đẩy mạnh hợp tác trong bảo vệ bờ biển của họ, nổi bật là gồm một lịch trình xác quyết các diễn tập huấn luyện đa phương trên biển. Trợ giúp tăng cường khả năng quân sự cho quốc gia Đông Nam Á để giám sát lãnh hải của họ sẽ làm giảm khả năng gây bất ngờ khó chịu của Trung Quốc vào mùa xuân. Khéo lo quản lý, các hoạt động như vậy sẽ, Carlyle Thayer lập luận, “buộc Trung Quốc có trách nhiệm khi ra quyết định nguy hiểm trước sự đối mặt với sự hiệp đồng giữa tàu chiến và máy bay”.

      Washington hẳn chắc cũng phải tăng cường quan hệ gần gũi hơn với Việt Nam, chỉ có các nước Đông Nam Á với cả hai khả năng răn đe quân sự và được Mỹ đảm bảo sự ủng hộ, họ sẽ trụ vững trước Trung Quốc. Việc Trung Quốc triển khai giàn khoan hồi tháng 5 làm choáng váng các nhà lãnh đạo Cộng sản Hà Nội và có thể tạo thế cân bằng trong Bộ Chính trị chống lại các nỗ lực vất vả tiếp theo nhầm xoa dịu Bắc Kinh.

      Hà Nội và Washington đã tranh thủ nhau từ mùa hè năm 2012 và tăng cường vào mùa hè này. Chủ yếu vì lý do thể diện – Việt Nam không thích bị gộp chung với Bắc Triều Tiên, Iran, Syria và Trung Quốc – họ muốn Mỹ bỏ lệnh cấm bán vũ khí gây chết người. Washington, trong khi đó, đã có điều kiện bán hàng như vậy trước một “chuyển động” về các vấn đề nhân quyền – một vấn đề cũng có thể được bàn tới trong cuộc hội đàm Kerry-Minh.

      Gầu dựng một thỏa thuận chiến lược là không dễ dàng cho cả Hà Nội hay Washington. Mỗi bên phải trưng ra các thiện chí chính trị. Tuy nhiên, với con sói trước cửa Hà Nội, một điều chỉnh thực dụng có thể tạo hiệu ứng ngược đối với các nổ lực của Bắc Kinh về bá quyền trên Biển Đông và thống trị các lân bang.

      Mỹ đã can thiệp có hiệu quả trong việc hỗ trợ Philippines. Các bước để nâng cấp và tăng cường khả năng giám sát hàng hải và tự vệ Philippines đã có tác dụng tốt, khi nó làm giảm mối lo rằng Manila khi vướng vào vòng nguy hiểm thì có hành vi tuyệt vọng.

      Một bản mộ tả tỷ mỷ hơn về sự tham gia của Mỹ trong tương quan với Trung Quốc ở Biển Đông chắc hẳn phải củng cố nền ngoại giao. Về mặt nầy, Mỹ có thể thúc giục Brunei, Malaysia, Việt Nam và Philippines soạn thảo yêu cầu chung với nhau. Nó có thể thúc đẩy các sáng kiến lôi kéo chính quyền Trung Quốc vào cuộc thảo luận về quản lý đa phương nguồn thủy sản biển đang cạn kiệt nhanh chóng và các công ty Trung Quốc vào thăm dò chung đáy biển về dầu khí.

      Không có cách nào giúp Hoa Kỳ tham gia tích cực hơn vào các vấn đề Biển Đông mà không chọc giận Trung Quốc. Điều đó có thể sẽ có những hậu quả tiêu cực ngắn hạn cho các hợp tác Mỹ-Trung Quốc trong các lĩnh vực khác, cho dù Bắc Kinh khó né tránh sự hợp tác mà vì lợi ích riêng của mình lại trừng phạt Washington. Kết quả dài hạn của việc hạn chế tham vọng quá lố của Trung Quốc sẽ bổ ích – Bắc Kinh sẽ hiểu rằng họ không có thể viết lại các quy tắc của quan hệ quốc tế theo ý mình.

      David Brown là một nhà ngoại giao Mỹ hồi hưu, ông thường viết về Việt Nam đương đại.

      http://www.eurasiareview.com/26092014-us-vietnam-discuss-curbing-chinas-sea-claims-analysis/

Đang xem 0 luồng phản hồi
  • Bạn cần đăng nhập để phản hồi chủ đề này.