#254 – Những đối thủ cạnh tranh ngôi vương của đồng đô la Mỹ (P2)

Print Friendly, PDF & Email

renminbi

Nguồn: Alan Wheatley (2013). “Chapter two: The pretenders to the dollar’s crown”, Adelphi Series, 53:439, pp. 45-74.

Biên dịch: Nguyễn Thị Tố Uyên | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Trung Quốc và đồng Nhân dân tệ

Nhân dân tệ là đồng tiền có cơ hội tốt nhất để phát triển thành công cụ quyền lực. Theo Singh việc đồng nhân dân tệ trở thành đồng tiền dự trữ là một ‘xu hướng không thể tránh khỏi’ và rằng các bất đồng chủ yếu là về việc khi nào điều đó sẽ xảy ra: một số dự đoán đến năm 2020 đồng nhân dân tệ sẽ được sử dụng rộng rãi ở nước ngoài; một số khác nghĩ rằng sẽ mất một hoặc nhiều thế hệ để đạt được mục tiêu đó. Sự phân hóa quan điểm rộng lớn phản ánh sự thiếu rõ ràng trong chiến lược của Bắc Kinh. Liệu Trung Quốc có thật sự nghĩ đến chiến lược tổng thể nào đó cho đồng nhân dân tệ? Xét cho cùng, Trung Quốc đang ở những giai đoạn đầu của việc quyết định kiểu siêu cường nào mà nước này muốn đạt đến.

Rõ ràng kể từ cuộc khủng hoảng 2008 Trung Quốc đã có những động lực mạnh mẽ để giảm bớt sự phụ thuộc vào đồng đô la. Hệ thống tài chính gần như sụp đổ của Mỹ đã làm tăng nỗi ám ảnh về những tổn thất nặng nề cho nhà nước Trung Quốc liên quan đến dự trữ ngoại hối lên đến 1,9 nghìn tỉ đô la vào tháng 9 năm 2008, thời điểm tập đoàn tài chính Lehman Brothers phá sản. Trên thực tế, kho dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc là một chi phí chìm, một hậu quả không thể tránh khỏi của mô hình phát triển dựa trên việc giữ tỷ giá hối đoái đồng nhân dân tệ ở mức thấp để hỗ trợ các nhà xuất khẩu của Trung Quốc.

Tuy nhiên, các nhà phê bình trên mạng muốn biết tại sao mặc dù là một nước nghèo, Trung Quốc lại mạo hiểm đồng tiền của người dân – đồng nhân dân tệ – để cho Mỹ vay khoảng 1.000 đô la trên mỗi người đàn ông, phụ nữ và trẻ em Trung Quốc để Mỹ có thể tiếp tục “vung tay quá trán”. Thái độ bất mãn lan rộng là lời nhắc nhở đối với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản rằng việc nắm giữ một lượng dự trữ đồ sộ có thể đem đến một sự bảo đảm nào đó nhưng cũng là một trách nhiệm chính trị trong nước đáng kể nếu đồng đô la và trái phiếu Mỹ sụt giảm nghiêm trọng. Tất nhiên, nguy cơ thậm chí còn lớn hơn nếu Trung Quốc giải quyết vấn đề này bằng cách nâng giá đồng nhân dân tệ và loại bỏ kiểm soát vốn. Do đó sự lựa chọn chính sách là tiếp tục tích lũy kho dự trữ vốn đã “phình to” đến 3,66 nghìn tỷ đô la vào tháng 9/2013.

Cuộc khủng hoảng toàn cầu đã dẫn đến sự kiệt quệ tín dụng thương mại bằng đô la Mỹ khi các ngân hàng trên toàn thế giới cắt giảm chi phí và ngừng các mảng kinh doanh phụ. Thương mại toàn cầu giảm mạnh, trở nên tồi tệ hơn bởi sự sụt giảm nhu cầu ở phương Tây khi suy thoái kinh tế kéo dài. Ở Trung Quốc hơn 20 triệu lao động nhập cư, mà phần nhiều làm việc trong các ngành công nghiệp xuất khẩu, mất việc trong một vài tuần. Nhờ có năng lực của Đảng Cộng sản trong việc duy trì ổn định xã hội và sự bằng lòng “ngậm đắng nuốt cay” của người lao động nhập cư, họ mới trở về làng quê chỉ với đôi lần phản đối về khoản tiền công chưa được thanh toán. Nhưng nguy cơ sa thải hàng loạt là một lời nhắc nhở khác đối với Đảng Cộng sản về những nền tảng mong manh trong sự thần kỳ kinh tế của Trung Quốc.

Nước cờ của Chu Tiểu Xuyên                  

Phản ứng ban đầu của Trung Quốc là việc Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) Chu Tiểu Xuyên (Zhou Xiaochuan) công bố một bài báo chính sách mang tính bước ngoặt vào tháng 3 năm 2009, phàn nàn về sự bất ổn của hệ thống tiền tệ toàn cầu và đề xuất một “đồng tiền dự trữ siêu chủ quyền” để thay thế đồng đô la.[1] Các ẩn ý chính trị rất rõ ràng: cuộc khủng hoảng đã phơi bày sự dễ tổn thương chiến lược của Trung Quốc. Đây là nền kinh tế thế giới lớn thứ hai – người phát minh ra tiền giấy – nhưng đáng ngạc nhiên lại trở thành con tin của các lực lượng nằm ngoài tầm kiểm soát của nó. Và tất cả điều này xảy ra bất chấp Trung Quốc tỏ ra là một nước giàu có. Ở một chừng mực nào đó, kho dự trữ ngoại tệ không còn là sức mạnh mà trở thành gánh nặng. Chúng là những “đồng tiền chết” đối với sự phát triển của Trung Quốc.[2] Nguồn dự trữ bằng đồng đô la, euro hay bảng Anh vốn gần như không tạo ra lợi nhuận này chắc chắn có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn rất nhiều nếu được đầu tư trong nước hợp lý nhằm đáp ứng một số nhu cầu lợi ích rõ ràng của Trung Quốc.

Một khi được quay vòng ở nước ngoài, nguồn dự trữ không thể chuyển được lợi nhuận về nước và được tiêu dùng trong nước mà không gây ra nguy cơ lạm phát. Hơn nữa, khi được bán ra nguồn dự trữ này sẽ khơi nguồn cho sự bán tháo hoảng loạn (làm giảm giá trị dự trữ) trái ngược với dự tính ban đầu là mang đến sự bảo hộ giá trị. Đồng đô la sụt giảm sẽ làm giảm sức mua của Mỹ – yếu tố mà xuất khẩu Trung Quốc phụ thuộc vào. Williamson nhận định hợp lý rằng một trong những lợi ích cụ thể nhất cho Mỹ đối với sự thống trị của đồng đô là không gian để Trung Quốc triển khai chính sách hoàn toàn bị hạn chế. Trung Quốc bị mắc kẹt trong cái bẫy đô la do chính mình tạo ra.

Trung Quốc càng đau đầu hơn khi nhận ra chính mình bị ràng buộc với một quốc gia được cho là đang vi phạm các quy tắc ngầm của hệ thống tiền tệ quốc tế.[3] Trong mắt Trung Quốc – và nhiều quốc gia cùng quan điểm – Mỹ không nên để thâm hụt ngân sách lên đến mức khổng lồ và thường xuyên thổi “bong bóng tiền” – chính sách gây ra sự sụp đổ cổ phiếu của các công ty internet (dotcom) năm 2000 và sau đó là cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn năm 2008. Nhu Chu trình bày tại cuộc họp tháng 4/2013 của IMF, các chính sách tiền tệ trái lệ (unconventional) vẫn không phải là giải pháp cho các vấn đề của những nước giàu và có thể dẫn đến mất ổn định trật tự tài chính toàn cầu.

Ngay cả khi Trung Quốc đã đưa ra chương trình kích thích chưa từng có trị giá 4 tỉ nhân dân tệ nhằm giảm bớt tác động suy thoái của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nước này quyết định rằng đã đến lúc phải chỉnh đốn lại hệ thống. Văn bản năm 2009 của Chu có vai trò quan trọng trong tư cách một tuyên bố về mục tiêu địa chính trị hơn là một kế hoạch khả thi nhằm thay thế đồng đô la. Ý tưởng của ông nhằm chuyển Quyền Rút Vốn Đặc Biệt (SDR) – đơn vị tiền tệ của IMF – thành một đồng tiền dự trữ siêu chủ quyền không bao giờ có được tiến triển mặc dù theo một số học giả, trong đó có John Williamson, đây vẫn là một giải pháp hữu hiệu cho vấn đề phụ thuộc quá nhiều vào đồng đô la. Tuy nhiên sáng kiến ​​của Bắc Kinh đã cho thấy rõ mong muốn của nước này nhằm định hình một trật tự tiền tệ mới.

Đồng Nhân dân tệ cất cánh

Làm thế nào Bắc Kinh có thể hy vọng gây ảnh hưởng lên cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế trong khi bản thân đồng nhân dân tệ không được sử dụng rộng rãi bên ngoài biên giới nước này? Do đó, trong vòng vài tháng kể từ bài viết của Chu, một chương trình thí điểm về việc thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đồng nhân dân tệ thay vì đô la Mỹ đã được khởi động. Các hoá đơn sẽ được xử lý tại Hồng Kông.

Đây là một sáng kiến hợp lý. Việc một nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh dần dần chuyển sang giao dịch thương mại bằng đồng tiền của mình là điều tất yếu bởi vì sức mạnh thị trường cho phép nó chuyển hướng rủi ro tỷ giá hối đoái sang người nước ngoài. Việc xây dựng yêu cầu thanh toán bằng đồng nhân dân tệ cho phần còn lại của thế giới cũng có nghĩa là Trung Quốc sẽ ít bị ảnh hưởng bởi đồng đô la và do đó sẽ ít lo bị mất vốn hơn.[4] Tuy nhiên, các nhà phê bình chỉ ra chính xác rằng Trung Quốc mới chỉ đang khắc phục một triệu chứng của sự mất cân bằng kinh tế – rủi ro tiền tệ gắn liền với việc nắm dự trữ bằng đô la – mà không giải quyết những nguyên nhân cơ bản làm cho việc tích lũy dự trữ trở nên thừa thải, cụ thể là dư thừa tiết kiệm chính phủ về đầu tư kết hợp với một tỷ giá hối đoái và tài khoản vốn bị kiểm soát chặt chẽ. Hơn nữa, chất lượng tín dụng của đồng nhân dân tệ chắc chắn thấp hơn so với đồng đô la Mỹ, bất chấp những khuyết điểm của đồng tiền này.

Dù vậy, thanh toán bằng đồng nhân dân tệ làm cho mọi việc thuận lợi hơn đối với các nhà xuất khẩu Trung Quốc và chuyển rủi ro tiền tệ sang cho người mua nước ngoài. Thêm vào đó sự ra đời của thị trường đồng nhân dân tệ ở nước ngoài, chủ yếu là ở Hồng Kông, cũng mang lại cho Trung Quốc cơ hội để giám sát tác động của các cải cách ngân hàng và tiền tệ trong một môi trường bán kiểm soát. Đó là kinh nghiệm quý báu cho thời điểm Trung Quốc mở cửa các thị trường tài chính nội địa mà theo nhiều người là mục tiêu chiến lược ban đầu của Chu trong việc thúc đẩy quốc tế hóa đồng nhân dân tệ.[5]

Thử nghiệm đã đạt được thành công vang dội. Bắt đầu từ con số không vào năm 2009, đến năm 2013 Trung Quốc có 12% giao dịch thương mại được thực hiên bằng đồng tiền riêng của mình. Trung Quốc đang khuyến khích sử dụng đồng nhân dân tệ trong đầu tư ở nước ngoài và cung cấp các khoản vay và viện trợ chính thức bằng đồng tiền của mình nhiều hơn bao giờ hết. Cũng như đồng đô la ở Mỹ Latinh và euro ở Đông Âu và Bắc Phi, đồng nhân dân tệ đang được lưu thông rộng rãi hơn ở các nước láng giềng.

Ở Mông Cổ, đồng nhân dân tệ chiếm đến 60% lượng tiền mặt lưu thông nội địa. Từ năm 2009 đến tháng 10 năm 2013, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) đã xây dựng một mạng lưới tín dụng gần 2,2 nghìn tỷ nhân dân tệ với hơn 20 ngân hàng trung ương trên toàn thế giới, bao gồm cả Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Anh. Mạng lưới này được thiết kế để giữ cho các giao thương bằng đồng nhân dân tệ vẫn được duy trì trong trường hợp khả năng thanh khoản bị cạn kiệt và đặt nền tảng cho hội nhập tiền tệ sâu hơn với các quốc gia ký kết.[6] Tương tự, cũng có ít nhất mười ngân hàng trung ương, bao gồm cả Nam Phi, Australia, Nigeria và Malaysia, đã đầu tư một phần dự trữ của mình vào trái phiếu đồng nhân dân tệ. Thị trường đồng nhân dân tệ ở nước ngoài đã nở rộ ở London, Singapore và Đài Loan, và cũng có thể diễn ra tương tự ở các nước khác. Như Eswar Prasad và Lei Ye nhận định:

Những thay đổi có tính biểu tượng hơn là thực chất vào lúc này theo thời gian sẽ phát triển đến ngưỡng quan trọng và có khả năng khởi tạo chuyển đổi hệ thống tiền tệ toàn cầu. Những bước đi chính sách gần đây của chính phủ Trung Quốc cho thấy quyết tâm thực sự của nước này nhằm mở rộng vai trò toàn cầu của đồng nhân dân tệ.[7]

Đặc biệt, việc mở rộng nhanh chóng các yếu tố khác nhau của một thị trường đồng nhân dân tệ ở nước ngoài là dấu hiệu đáng khích lệ giúp nó có triển vọng tạo dựng được một chỗ đứng quan trọng trong giao dịch tài chính và thương mại ở khu vực châu Á.[8]

Tính đến tháng 8 năm 2013, đồng nhân dân tệ đứng thứ tám trong danh sách các đồng tiền được sử dụng cho các giao dịch quốc tế, chiếm 1,49%. Tỷ lệ này tăng lên từ con số 0,92% vào tháng 5 năm 2012 khi Trung Quốc giữ vị trí 13. Trong giai đoạn đó, giá trị giao dịch bằng đồng nhân dân tệ đã tăng hơn gấp đôi và vượt mặt đồng krona của Thụy Điển, đồng won của Hàn Quốc và đồng rúp của Nga.[9] Hoàn toàn có lý do để cho rằng tỷ lệ này sẽ tăng lên khi mà việc sử dụng đồng nhân dân tệ để thực hiên các giao dịch xuất nhập khẩu được mở rộng song song với nền kinh tế Trung Quốc. Ngân hàng HSBC tin rằng đến năm 2015, 30% trong tổng thương mại của Trung Quốc và một nửa thương mại với các thị trường mới nổi sẽ được thực hiện bằng đồng nhân dân tệ. Tuy nhiên tiến hành giao thương bằng đồng nhân dân tệ chỉ là bước đi đầu đơn giản. Bước đi này không đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ bản trong chính sách trong nước hoặc những biện pháp để khắc phục sự yếu kém trong hệ thống tài chính, điều mà theo nhiều người là trở ngại chính để đạt được vai trò quốc tế lớn hơn cho đồng nhân dân tệ.[10]

Tình thế tiến thoái lưỡng nan của Đảng Cộng Sản

Vấn đề lòng tin

Download phần còn lại của văn bản tại đây: Doi thu canh tranh ngoi vuong cua dong do la My-P2

————

[1] Speech by Zhou Xiaochuan,‘Reform the International MonetarySystem’, 23 March 2009, http://www.pbc.gov.cn/publish/english/956/2009/20091229104425550619706/20091229104425550619706_.html.

[2] Guy de Jonquieres, ‘Is Power Really Shifting to China?’, Journal of Economic Diplomacy, January 2013, http://eu-asiacentre.eu/pub_details.php?pub_id=84.

[3] Lecture by Tommaso PadoaSchioppa,‘The Ghost of Bancor: the Economic Crisis and Global Monetary Disorder’, 25 February 2010, http://www.notre-europe.eu/media/Speech-TPS-LouvainLaNeuve-25.02.2010.pdf.

[4]  Haihong Gao and Yongding  Yu, ‘Internationalisation of the renminbi’, paper presented to a Bank of Korea–Bank for International Settlements seminar in Seoul, 19–20 tháng 3 năm 2009, trang 13, http://www.bis.org/repofficepubl/arpresearch200903.05.pdf.

[5]  Kroeber, ‘China’s Global Currency: Lever for Financial Reform’, Brookings-Tsinghua Center for Public Policy, Monograph Series, số. 3, tháng 2 năm 2013, p. 42.

[6] Paola Subacchi and Helena Huang, ‘The Connecting Dots of China’s Renminbi Strategy: London and Hong Kong’, Chatham House Briefing Paper, September 2012, http://www.chathamhouse.org/publications/papers/view/185765.

[7] Eswar Prasad and Lei Ye, ‘The Renminbi’s Role in the Global Monetary System’, Brookings Institution, tháng 2 năm  2012, trang 54, http://www.brookings.edu/~/media/research/files/reports/2012/2/renminbi%20 monetary%20system%20prasad/02_renminbi_monetary_system_prasad.pdf.

[8] Như trên.

[9] Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication (SWIFT), Brussels, Press Release, 8 tháng 10 năm 2013, http://www.swift.com/assets/swift_com/documents/products_services/RMB_tracker_September2013.pdf.

[10] Prasad and Ye, ‘The Renminbi’s Role in the Global Monetary System’, trang 54; Kelly, ‘China’s Challenge to the International Monetary System’, trang 6.

This entry was posted in Biên dịch, Kinh tế chính trị quốc tế, Kinh tế quốc tế, Trung Quốc and tagged , , , . Bookmark the permalink.