Việt Nam nhìn nhận thế nào về cuộc đột kích Venezuela của Mỹ?

Nguồn: Khang Vũ, “The U.S. Raid on Venezuela: The View from Hanoi”, The Diplomat, 13/01/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump sử dụng vũ lực để bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro, việc chính quyền của ông tuyên bố Washington có quyền dùng vũ lực chiếm Greenland, cùng những đe dọa sử dụng lực lượng quân sự chống lại Colombia, Cuba và Mexico cho thấy Mỹ đang tập trung vào việc khẳng định sự thống trị tại Tây Bán Cầu, như đã đề ra trong Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) năm 2025. Việc một cường quốc xem thường chủ quyền của các nước nhỏ đã vô tình tạo ra một tiền lệ nguy hiểm, làm giảm đi rào cản đạo đức cho các cường quốc khác hành động tương tự. Điều này càng trở nên rõ rệt khi Washington vừa ép Ukraine phải đổi đất lấy hòa bình với Nga.

Nhiều nhà phân tích nhanh chóng đưa ra sự so sánh giữa hành vi hung hăng của ông Trump đối với các nước láng giềng và các hành vi của Trung Quốc. Họ lo ngại rằng việc Mỹ xem nhẹ chủ quyền và áp dụng tư duy lẽ phải thuộc về kẻ mạnh có thể hợp thức hóa một cuộc tấn công của Trung Quốc vào Đài Loan, cũng như việc nước này sử dụng vũ lực chống lại các nước láng giềng ở Biển Đông hoặc tại lục địa Đông Nam Á.

Việc Mỹ bắt giữ ông Maduro gợi lên hai nỗi lo lớn cho các nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam. Thứ nhất, nó mở ra một trật tự thế giới dựa trên sự phân chia vùng ảnh hưởng thay vì hợp tác đa phương, vốn là định hướng mà Việt Nam luôn kiên trì theo đuổi. Việc Washington rút khỏi khu vực sẽ làm suy yếu chiến lược đa phương hóa ngoại giao của Hà Nội, bởi một cường quốc ngoài khu vực sẽ bị gạt ra khỏi Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trong kịch bản này, việc Trung Quốc sử dụng vũ lực có thể bị phớt lờ dựa trên nguyên tắc Washington và Bắc Kinh tôn trọng vùng ảnh hưởng của nhau. Thứ hai, lời đe dọa lật đổ chính quyền cộng sản Cuba của ông Trump khiến Hà Nội lo ngại rằng những phát ngôn chống cộng của ông không chỉ là lời nói suông, nhất là khi Cuba và Việt Nam đã duy trì mối quan hệ thân thiết trong nhiều thập kỷ.

Tuy nhiên, việc Mỹ xoay trục sang Tây Bán Cầu không hoàn toàn là tin xấu đối với Việt Nam. Nếu Mỹ tập trung nhiều hơn vào khu vực láng giềng của mình và chấp nhận vùng ảnh hưởng của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (ít nhất là trong phạm vi Chuỗi đảo thứ nhất và lục địa Đông Nam Á), Việt Nam sẽ chịu ít áp lực hơn từ Washington trong việc phải chọn bên giữa Trung Quốc và Mỹ.

Lịch sử đã chứng minh rằng bất cứ khi nào có từ hai cường quốc trở lên hiện diện tại Đông Dương, Hà Nội thường rơi vào áp lực phải chọn bên. Hà Nội đã đứng về phía Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Sau khi Mỹ rút quân hoàn toàn khỏi Đông Dương và Thái Lan vào năm 1976, Liên Xô và Trung Quốc đã tìm cách lấp đầy khoảng trống quyền lực. Hà Nội bị buộc phải ngả về phía Moscow do Trung Quốc ủng hộ Khmer Đỏ tại Campuchia. Việt Nam chỉ có thể chấm dứt cuộc chiến Đông Dương lần thứ ba sau khi Moscow cắt giảm sự hiện diện quân sự tại đây và tôn trọng vùng ảnh hưởng của Trung Quốc. Kể từ năm 1991, Đông Dương về cơ bản đã trở thành sân sau của Trung Quốc, khi Việt Nam, Lào và Campuchia áp dụng chính sách ngoại giao không liên kết để tôn trọng vị thế quyền lực thống trị của Trung Quốc.

Do đó, Trung Quốc coi việc Mỹ tiếp cận Việt Nam là một nỗ lực nhằm tranh giành vùng ảnh hưởng của họ. Bắc Kinh đã chia rẽ quan hệ đối tác Mỹ – Việt bằng cách đe dọa Hà Nội trên biển trong khi bày tỏ sự ủng hộ đối với chính quyền trong nước. Nếu Washington có thể đảm bảo với Bắc Kinh rằng họ không có ý định lôi kéo Việt Nam hoặc các nước châu Á khác vào một liên minh chống Trung Quốc bằng cách tập trung vào Tây Bán Cầu, Trung Quốc sẽ cảm thấy an tâm hơn để thực hiện các thỏa thuận với láng giềng nhằm giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Việc Liên Xô rút khỏi Đông Dương là một ví dụ điển hình, vì nó làm giảm nhận thức về mối đe dọa từ Việt Nam của Trung Quốc và thúc đẩy Bắc Kinh ký hiệp định biên giới trên đất liền và Vịnh Bắc Bộ với Hà Nội để phân định lãnh thổ và vùng nước tranh chấp theo tỷ lệ gần như 50/50 vào năm 1999 và 2000. Điều này cũng cho thấy đàm phán song phương với Trung Quốc sẽ không làm tổn hại đến vị thế thương lượng của Việt Nam so với đàm phán đa phương.

Việc Mỹ sử dụng vũ lực với láng giềng không nhất thiết đồng nghĩa với việc Trung Quốc cũng sẽ làm tương tự. Giống như Mỹ, Trung Quốc tận hưởng vị thế quyền lực thống trị trong khu vực láng giềng, nhưng họ sẽ không dùng đến vũ lực nếu việc đó làm tăng đáng kể khả năng các nước láng giềng liên kết lại để đối trọng với họ. Nỗi sợ về sự phản tác dụng địa chính trị này dường như vắng bóng trong chính quyền Trump khi ông đe dọa nhiều láng giềng, bao gồm cả các đồng minh NATO, cùng một lúc. Trung Quốc sẽ chỉ dùng đến vũ lực chống lại những bên vốn đã dựa vào một cường quốc ngoài khu vực để đối trọng với họ, chẳng hạn như Philippines. Việt Nam không chọn bên hay liên minh với một cường quốc khác để chống lại Trung Quốc; do đó, Hà Nội sẽ không là mục tiêu của sự cưỡng ép ngay cả khi các chuẩn mực chủ quyền bị vi phạm ở nơi khác. Một lần nữa, Việt Nam sẽ không phải chọn bên chừng nào chỉ có một cường quốc thống trị tại Đông Dương. Và điều này có nghĩa là chính sách đối ngoại đa phương của Hà Nội sẽ vẫn được giữ vững.

Việc hạ thấp tầm quan trọng của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong Chiến lược An ninh Quốc gia của chính quyền Trump cũng đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ không gây ra mối đe dọa chính trị đối với chính quyền Việt Nam, ngay cả khi họ đang đe dọa trực tiếp chính quyền Cuba. Điều này không có nghĩa là Hà Nội sẽ không cảnh giác với ý đồ của Mỹ. Tuy nhiên, từ góc độ của Mỹ, nếu không có nhu cầu cấp bách phải lôi kéo Việt Nam vào liên minh chống Trung Quốc, họ sẽ không tìm cách tạo ra một chính phủ thân Mỹ bằng mọi giá.

Việc Mỹ đẩy trách nhiệm ngăn chặn Trung Quốc cho các đồng minh và đối tác tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sẽ khiến Washington mất đi cả cây gậy và củ cà rốt trong việc điều tiết cách các nước này ứng xử với Trung Quốc. Khó có thể tưởng tượng Washington sẽ khuyến khích Việt Nam kiềm chế Trung Quốc thế nào nếu chính họ không duy trì được sự hiện diện tại khu vực; việc chuyển giao một vài tàu tuần duyên cho Việt Nam khó có thể tạo ra sự khác biệt trước sự mất cân bằng quyền lực quá lớn với Trung Quốc. Cũng khó có thể hình dung Washington dùng thuế quan chống lại Hà Nội để đạt được mục đích đó, vì Trung Quốc đã bắn tin cho Việt Nam rằng họ sẵn sàng mua thêm hàng xuất khẩu của Việt Nam. Một nước Mỹ ít đòn bẩy đối với Việt Nam hơn không thể chỉ bảo Việt Nam cách quản lý đất nước.

Sự xoay trục của Mỹ sang Tây Bán Cầu và sự tan vỡ của trật tự quốc tế thành các vùng ảnh hưởng sẽ củng cố cách Hà Nội xây dựng đại chiến lược dựa trên địa lý. Thời điểm đơn cực của Mỹ bắt đầu sau Chiến tranh Lạnh đã tạo ra một ảo tưởng rằng các vùng ảnh hưởng không còn tồn tại trong chính trị quốc tế, và địa lý không còn quan trọng vì Mỹ có thể ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Với việc Washington thừa nhận trong NSS rằng họ không thể xây dựng một quân đội đủ sức ngăn chặn Trung Quốc ở bất cứ đâu trong Chuỗi đảo thứ nhất, Việt Nam nên tránh đặt cược vào bất kỳ sự hỗ trợ nào của Mỹ để thoát khỏi vùng ảnh hưởng của Trung Quốc, bởi không có cường quốc bên ngoài nào có thể đối trọng với sức mạnh quân sự của Trung Quốc tại lục địa châu Á. Câu hỏi đặt ra cho Việt Nam trong tương lai không phải là làm thế nào để chống lại vùng ảnh hưởng của Trung Quốc, mà là làm thế nào để hưởng lợi từ nó.

Khang Vũ là nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Khoa Chính trị học, Đại học Boston.