
Tác giả: Hồ Sĩ Quý
Xem thêm: Phần 1
3. Pháp trở lại kiểm soát Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tháng 5/1945. Trung Quốc chiếm đảo Ba Bình tháng 1/1946 và Phú Lâm tháng 12/1946
Trong thời gian từ ngày 20/5 đến ngày 27/5/1945, Ðô đốc D’Argenlieu (người sau đó làm Cao ủy Ðông Dương từ tháng 8/1945), đã phái tốc hạm L’Escamouche và chiến hạm Savorgnan de Brazza ra nắm tình hình và tuần tra Quần đảo Hoàng Sa. Một phân đội lính Pháp đã đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza lên đảo Hoàng Sa và trấn giữ Nhóm đảo Nguyệt Thiềm phía tây Quần đảo Hoàng Sa. Riêng Nhóm đảo An Vĩnh ở phía đông vẫn do Nhật đóng quân chờ giải giáp.
Suốt thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp chưa bao giờ tuyên bố phủ nhận chủ quyền của Vương quốc An Nam ở hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà nước Pháp có trách nhiệm bảo hộ. Mặc dù trong giai đoạn này bắt đầu có một số nước lên tiếng đòi hỏi chủ quyền vô lý ở một số đảo, nhưng tất cả đều bị chính quyền Pháp kiên quyết phản đối. Những tư liệu lịch sử nói trên cho thấy, người Pháp cũng như người Việt trong suốt lịch sử và tại thời điểm này chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa. Cho đến khi thua trận rút khỏi Ðông Dương, Chính phủ Pháp cũng đã bàn giao quyền quản lý vùng biển này lại cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam.
· Trung Quốc chiếm đảo Ba Bình (tháng 1/1946)
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Ðế quốc Nhật Bản chiếm một số đảo thuộc Nhóm An Vĩnh của Quần đảo Hoàng Sa, và sử dụng đảo Ba Bình ở Quần đảo Trường Sa làm căn cứ tàu ngầm cho các chiến dịch ở Ðông Nam Á. Sau cuộc chiến, Pháp tái khẳng định chủ quyền đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tháng 1/1946, Trung Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) lấy cớ giải giáp quân đội Nhật đã cho hai tàu chiến đổ bộ dựng bia trên đảo Ba Bình (Quần đảo Trường Sa), và gọi là đảo Thái Bình (Tai Ping Dao). Trước đó chính quyền Pháp đã dựng bia chủ quyền tại đây. Pháp phản đối kịch liệt, trong năm 1946 cho tàu liên tục tuần tra kiểm soát Quần đảo Trường Sa, nhưng không chạm trán với Trung Hoa trên đảo Ba Bình.
· Tình huống phức tạp ở Ðông Dương 1945 – 1946
Cần thiết phải đề cập đôi nét về tình hình không đơn giản của những năm 1945 – 1946 quy định lịch sử vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9/3/1945, Pháp mất quyền cai trị Ðông Dương. Khi Nhật đầu hàng Ðồng minh, chớp thời cơ, Cách mạng tháng Tám đã thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập; Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Ðình ngày 2/9/1945. Nên lưu ý rằng, toàn bộ những hoạt động của chính quyền Cách mạng non trẻ Việt Nam lúc đó đều có sự hợp tác và nhận được sự ủng hộ tương đối nhiệt thành của Mỹ và lực lượng Ðồng minh[1].
Theo thỏa thuận của Ðồng minh thì quân Anh sẽ vào miền Nam và 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch sẽ giải giáp quân Nhật ở miền Bắc. Tuy Việt Nam đã giành chính quyền và tuyên ngôn độc lập, nhưng Pháp vẫn muốn tái lập quyền cai trị Ðông Dương, nên tháng 9/1945 Pháp đã dựa vào Anh ở miền Nam và Trung Quốc ở miền Bắc hòng cướp lại chính quyền từ phía Cách mạng. Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp có nguyên nhân từ đây và bắt đầu hình thành.
Mặc dù Trung Hoa Dân Quốc vẫn công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng lại bắt tay với Pháp để đưa quân Pháp tái xâm nhập miền Bắc theo chân Ðồng minh. Do vậy, ngày 28/2/1946, Hiệp ước Trùng Khánh (Còn gọi là Hiệp ước Hoa – Pháp) giữa Pháp và Trung Quốc được ký kết.
Nhiệm vụ giải giới quân Nhật của quân Trung Hoa Dân Quốc do Ðại tướng Lư Hán chỉ huy diễn ra từ khi quân Trung Hoa Dân Quốc kéo vào Bắc Ðông Dương từ ngày 20/8/1945.
Ðến ngày 28/2/1946, Cao ủy D’Argenlieu đã ký với Ðại tướng Hà Ứng Khâm Hiệp ước Trùng Khánh, theo đó, quân Trung Hoa Dân Quốc chấp nhận rút quân về nước, bàn giao cho Pháp tiếp quản Lào và Việt Nam ở Bắc vĩ tuyến 16 trong khi chờ có nghị quyết mới của Liên hợp quốc.
Với Hiệp ước này, Pháp trả lại cho Trung Quốc các tô giới của Pháp trên đất Trung Hoa là Hán Khẩu, Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Ðông, Quảng Châu Loan, Sa Diện và nhượng lại quyền khai thác và sở hữu tuyến đường sắt Hải Phòng – Côn Minh cũng như từ bỏ quyền lãnh sự tài phán đối với công dân Pháp sống tại Trung Quốc. Trung Quốc còn được quyền khai thác kinh tế tại đặc khu Hải Phòng. Ðổi lại, Trung Hoa Dân Quốc đồng ý cho Pháp thay thế quân Trung Hoa giải giáp quân Nhật tại miền Bắc Việt Nam từ ngày 1 đến ngày 31/3/1946. (Tuy nhiên, trên thực tế, quân Trung Hoa Dân Quốc vẫn đồn trú tại miền Bắc Việt Nam đến ngày 15/6/1946).
Hiệp ước Trùng Khánh ngày 28/2/1946 đặt Việt Nam vào tình thế phải lựa chọn, hoặc là ngay lập tức cầm vũ khí chống Pháp trở lại miền Bắc, hoặc là phải hòa hoãn với Pháp để đuổi 20 vạn quân Tưởng để giành thời gian chuẩn bị lực lượng đối phó với tình hình. Ðúng lúc này, Jean Sainteny, đại diện Pháp ở Hà Nội, do hiểu được khả năng không thể khuất phục tinh thần dân tộc Việt Nam bằng quân sự, hơn nữa với thực lực mới chỉ kiểm soát được khu vực ngoại vi các thành phố và các quốc lộ lớn ở Nam Bộ, nên Pháp đã ký một thỏa ước với Chính phủ Hồ Chí Minh – Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 [2].
Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 trên thực tế là một nước cờ chính trị lợi hại của Chính phủ Hồ Chí Minh, và cũng một phần của phía Pháp: Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc giải giáp quân Nhật. Pháp sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, đồng ý trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ để tái thống nhất đất nước. Hai bên ngừng bắn, giữ nguyên hiện trạng quân đội để đàm phán về tương lai của Ðông Dương, quan hệ quốc tế và quyền lợi của Pháp ở Việt Nam. Về phía Pháp, quân đội Pháp được đưa ra miền Bắc, mà không bị sự cản trở từ phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và từ phía Trung Hoa Dân Quốc.
Theo Hiệp định ngày 6/3/1946 việc giải giáp quân Nhật Bản từ vĩ tuyến 16 trở ra giao cho Liên quân Việt – Pháp.
Trong thời gian quân Trung Quốc đang ở Việt Nam, ngày 18/3/1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cử một phái đoàn sang Trùng Khánh gặp gỡ Trung Quốc. Cuộc gặp gỡ ở Trùng Khánh cùng với chủ trương “Hoa – Việt thân thiện” – khôn khéo sử dựng những sách lược linh hoạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian đó, đã góp phần đẩy được 20 vạn quân Tưởng ra khỏi đất nước và mở ra những cục diện có lợi cho Việt Nam về sau.
Mặc dù đã ký Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng ba năm sau đó Tổng thống Pháp vẫn tiếp tục ký Hiệp ước Elysee ngày 8/3/1949 với Bảo Ðại, một Cựu vương đã thoái vị tháng 8/1945, lập ra một thực thể chính trị mới là “Quốc gia Việt Nam”, đôi khi còn được gọi là “Ðế quốc Việt Nam” tồn tại trong giai đoạn 1949 – 1956.
Hiệp ước Elysee (Accords de l’Elysée) được ký kết ngày 8/3/1949 giữa Cựu vương Bảo Ðại và Vincent Auriol, Tổng thống Cộng hòa Pháp kiêm Chủ tịch Khối Liên hiệp Pháp dưới hình thức trao đổi thư. Hiệp ước Elysee ngày 8/3/1949 công nhận “Quốc gia Việt Nam” là một quốc gia độc lập nằm trong khối Liên hiệp Pháp; Bảo Ðại là quốc trưởng. Pháp chuyển giao cho Việt Nam những quyền và nghĩa vụ quốc tế với tư cách là quốc gia thừa kế của Pháp. Ngày 16/6/1949 Bảo Ðại về nước và ngày 1/7/1949 trở thành Quốc trưởng kiêm Thủ tướng “Quốc gia Việt Nam”. Ngày 29/6/1950, Pháp chính thức công nhận “Quốc gia Việt Nam” là chính phủ của Việt Nam thành viên thuộc Khối Liên hiệp Pháp. Những năm sau đó, “Quốc gia Việt Nam” đã gia nhập một số tổ chức quốc tế như ILO – 6/1950, FAO – 11/1950, UNESCO- 6/1951…
Ðiều đáng chú ý là, đại diện Việt Nam tham dự Hội nghị San Francisco năm 1951 là “Quốc gia Việt Nam”, trong khi cả Trung Quốc đại lục và Ðài Loan không được tham dự Hội nghị hậu chiến lịch sử quan trọng này. Những năm 50 (thế kỷ XX), phần lớn các nước phương Tây, khi không công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã thừa nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Quốc gia Việt Nam. Cuối năm 1955, Ngô Ðình Diệm – với tư cách là Thủ tướng “Quốc gia Việt Nam” đã lên làm Tổng thống sau cuộc “Trưng cầu dân ý” ngày 23/10/1955. Từ năm 1956, Quốc gia Việt Nam theo Hiến Pháp ngày 26/10/1956 trở thành chính thể Việt Nam Cộng hòa.
Về Bảo Ðại và Chính phủ “Quốc gia Việt Nam”, Bách khoa thư về các nguyên thủ và các chính phủ 1900 – 1945, một cuốn bách khoa được giới học thuật đánh giá là có uy tín và có thái độ khách quan, viết:
“Ngày 25/8/1945, ông đã hợp tác một thời gian ngắn với Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được thành lập (Bắc Việt Nam). Ông sống lưu vong ở Hồng Kông vào tháng 7/1946. Người Pháp đã cố gắng thiết lập lại chính quyền thuộc địa Ðông Dương và tham dự vào cuộc chiến tranh với Việt Minh. Pháp đã tham gia đàm phán với Bảo Ðại, và Nhà nước Liên hiệp tự trị Việt Nam (The Autonomous Associated State of Vietnam – “Quốc gia Việt Nam”) được thành lập vào tháng 3/1949. Bảo Ðại trở thành người đứng đầu Chính phủ và nhậm chức tại Sài Gòn vào ngày 14/6/1949. Người Pháp tiếp tục chiến đấu với quân đội Hồ Chí Minh cho đến khi chịu những thất bại lớn tại Ðiện Biên Phủ vào tháng 7/1954. Một Hiệp ước đã được ký kết tại Geneva thành lập hai quốc gia riêng biệt được phân chia bởi vĩ tuyến 17. Bảo Ðại vẫn là nguyên thủ quốc gia của miền Nam Việt Nam. Thủ tướng của ông, Ngô Ðình Diệm đã tổ chức một cuộc Trưng cầu dân ý vào năm 1955 nhằm xác định hình thức chính phủ cho Việt Nam. Cuộc Trưng cầu dân ý đã ủng hộ áp đảo một nền Cộng hòa, và Ngô Ðình Diệm được bầu chọn làm Tổng thống ngày 26/10/1955” [3].
Sau Hiệp ước Elysee ngày 8/3/1949, mặc dù quân đội Pháp vẫn đồn trú một số đảo thuộc Quần đảo Hoàng Sa cho đến năm 1956, nhưng ngày 14/10/1950, Pháp đã chính thức chuyển giao quyền bảo vệ và quản lý quần đảo này cho Việt Nam. Tướng Phan Văn Giáo, lúc đó là Toàn quyền miền Trung, đã đích thân ra đảo Hoàng Sa để chủ trì buổi lễ chuyển giao.
Ðến ngày 31/3/1946, việc rút quân Trung Hoa Dân Quốc ra khỏi Bắc Ðông Dương căn bản kết thúc. Ngày 10/4/1946, quân Pháp hoàn tất việc rải quân trấn đóng khắp các vị trí quan trọng ở Bắc Ðông Dương, bước đầu sự trở lại của Pháp ở thuộc địa cũ.
· Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm (tháng 12/1946)
Ðầu tháng 6/1946, Cao ủy D’Argenlieu lại cử chiến hạm Savorgnan de Brazza ra tăng cường cho Quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 26/6/1946, 4 tàu chiến của Trung Hoa Dân Quốc kéo ra Quần đảo Hoàng Sa nhưng bị tàu Pháp ngăn chặn và xua đuổi nên phải rút lui.
Vì cuộc kháng chiến chống Pháp (Chiến tranh Ðông Dương) bùng nổ dữ đội ở Nam Bộ và Trung Bộ, trong khi tình hình Bắc Bộ cũng rất căng thẳng, nên tháng 9/1946, chiến hạm Savorgnan de Brazza phải rút vào Ðà Nẵng. Nhưng Pháp vẫn để quân trấn giữ nhóm đảo Nguyệt Thiềm phía tây Quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 11/10/1946, Ủy ban liên bộ thuộc Chính phủ lâm thời Pháp quyết định cần khẳng định chủ quyền của Pháp đối với Quần đảo Hoàng Sa và thể hiện điều đó bằng việc khôi phục lại hoạt động trạm khí tượng tại Hoàng Sa. Hành động này cho thấy người Pháp lúc đó đã ý thức rất rõ Hoàng Sa – Trường Sa có giá trị như thế nào.
Cho đến tháng 12/1946, tại đảo Phú Lâm (nhóm An Vĩnh phía đông Quần đảo Hoàng Sa) vẫn còn một trung đội lính Nhật chiếm đóng với hai tàu chiến cũ hoàn toàn hư hỏng và hết nhiên liệu. Quân Nhật tại đây liên lạc với một tàu buôn Hồng Kông đi ngang qua yêu cầu đất liền hỗ trợ. Tháng 12/1946, Ðại tướng Hà Ứng Khâm cho ba tàu chiến đổ bộ lên chiếm đảo Phú Lâm và cho quân Nhật về nước, trong khi nhiệm vụ giải giới quân Nhật đã kết thúc từ tháng 3/1946.
Ngày 7/1/1947, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố họ đã chiếm giữ Quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) nhưng thực ra chỉ chiếm được một đảo Phú Lâm, mà phía Trung Quốc gọi là đảo Vĩnh Hưng, ở phía đông Quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 17/1/1947, Cao ủy D’Argenlieu cử pháo hạm Le Tonkinois ra nhóm đảo An Vĩnh để đòi quân Trung Hoa rút khỏi đây. Khi yêu cầu này bị từ chối, quân Pháp cho 10 quân nhân Pháp và 17 quân nhân Việt Nam tăng cường trấn giữ đảo Hoàng Sa (Pattle Island, một hòn đảo lớn thuộc Quần đảo Hoàng Sa), cùng với một số ca nô tuần tra nhóm đảo Nguyệt Thiềm ở phía tây Quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 4/7/1947, Bộ Ngoại giao Pháp đề nghị với Trung Hoa Dân Quốc đàm phán hữu nghị hoặc đưa vấn đề ra Tòa án trọng tài quốc tế. Phía Trung Quốc khước từ. Nhưng do bị thua trận trong lục địa, tháng 10/1947, quân Trung Hoa Dân Quốc phải rút khỏi đảo Phú Lâm. Pháp lại kiểm soát toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa.
Khi hệ thống thuộc địa của Pháp bắt đầu tan rã, nước Pháp cũng ngừng tuần tra Quần đảo Trường Sa vào năm 1948 và chuyển giao nhiệm vụ này cho một hải đội hải quân của Việt Nam.
4. Việt Nam thu hồi toàn vẹn Hoàng Sa – Trường Sa ngày 14/10/1950 và tuyên bố chủ quyền không tranh chấp tại Hội nghị San Francisco ngày 8/9/1951
Tháng 4/1949 tại Sài Gòn, Hoàng thân Nguyễn Phước Bửu Lộc, Chánh văn phòng Quốc trưởng Bảo Ðại của “Quốc gia Việt Nam”, tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển trả cho Chính phủ “Quốc gia Việt Nam” toàn vẹn chủ quyền Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa. Thủ hiến Trung phần Phan Văn Giáo (thuộc Chính phủ Bảo Ðại) thay mặt Việt Nam đã chủ tọa buổi lễ thu hồi chủ quyền này.
Mặc dù “Quốc gia Việt Nam” chỉ là thực thể chính trị có vị thế không tường minh và thiếu thực lực chính trị thực tế, nhưng việc tiếp nhận từ Chính phủ Pháp toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa lại là hành động lịch sử có ý nghĩa vô cùng giá trị đối với chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này. Chính phủ Cộng hòa Pháp sau gần100 năm thiết lập chế độ thực dân ở Việt Nam, đã chính thức trả cho Việt Nam chủ quyền toàn vẹn hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng một nghi thức long trọng và chuẩn mực theo công pháp quốc tế.
Về sự kiện này, Sách Trắng Việt Nam Cộng hòa năm 1975 viết: “Tướng Phan Văn Giáo, lúc đó là Thủ hiến Trung phần, đã đích thân ra đảo Hoàng Sa để chủ trì buổi lễ. Vị tướng thực hiện chuyến đi đến hòn đảo xa xôi và cách trở này vì ông đã báo cáo với Thủ tướng Trần Văn Hữu ở Sài Gòn: “Tôi tin rằng sự hiện diện của tôi trong tổ chức Việt Binh Ðoàn (Regional Guard Unit) sẽ có tác dụng an ủi về tinh thần trong ngày đơn vị nhận trọng trách nặng nề”. Không còn nghi ngờ gì nữa, Thủ tướng Trần Văn Hữu hài lòng với sáng kiến của ngài Thủ hiến, vì vào năm sau (1951) chính ông sẽ tham dự Hội nghị Hòa bình San Franciso với Nhật Bản trước khi ông tái khẳng định một cách long trọng và dứt khoát các quyền của đất nước mình đối với cả Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa. Sau thất bại năm 1945, Nhật Bản đã từ bỏ mọi yêu sách đối với những hòn đảo mà lực lượng của họ đã chiếm đóng”[4].
· Philippines tuyên bố về Trường Sa ngày 17/5/1951
Ngày 17/5/1951, Tổng thống Philippines Elpidio Quirino tuyên bố với báo chí: “Về phương diện địa dư, Quần đảo Spratly ở sát liền Quần đảo Philippines nên phải thuộc về Philippines”, và thừa nhận có các trạm khí tượng do Pháp xây dựng ở Quần đảo Hoàng Sa (trạm Phú Lâm 48859, trạm Hoàng Sa 48860) và ở Quần đảo Trường Sa (trạm Ba Bình 489189). Việc Tổng thống Philippines Quirino tuyên bố với giới báo chí rằng Quần đảo Spratly thuộc về Philippines, nhưng lại thừa nhận rằng trên những đảo đó người Pháp từ lâu đã thực thi sự quản lý và có các trạm khí tượng, thì chính Tổng thống Quirino lại cùng với những người phát ngôn của Chính phủ Philippines lúc đó đã tự bác bỏ mình[5].
Tại Hội nghị San Francisco ngày 7/9/1951, phái đoàn Philippines do Bộ trưởng Ngoại giao Carlos Romulo đứng đầu đã không có phản ứng gì khi Thủ tướng “Quốc gia Việt Nam“ Trần Văn Hữu khẳng định hai Quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa (Spratly) thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Ngày 24/8/1951, Tân Hoa Xã, cơ quan thông tấn quốc gia của Trung Quốc, lên tiếng tranh cãi về chủ quyền của Pháp và những tham vọng của Philippines, đồng thời tuyên bố khẳng định chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo mà họ gọi là Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).
· Hiệp ước San Francisco ngày 8/9/1951
Sau tối hậu thư Potsdam tháng 7/1945, Nhật chấp nhận thất bại, đồng ý thỏa mãn các yêu sách Cairo năm 1943 và Potsdam năm 1945. Ngày 2/9/1945 Nhật ký văn kiện đầu hàng vô điều kiện trên chiến hạm của Mỹ neo đậu tại vịnh Tokyo với Tướng Douglas MacArthur, đại diện của phe Ðồng minh cùng sự ký nhận chứng kiến của 9 quốc gia gồm Mỹ, Anh, Trung Hoa, Liên Xô, Úc, Canada, Hà Lan, New Zealand và Pháp. Việc mở hướng cho thể chế nước Nhật thời hậu chiến, tạo lập trật tự quan hệ quốc tế mới, cũng như việc giải quyết vấn đề phần lãnh thổ do Nhật chiếm đóng, cần được phân định bằng một hiệp ước quốc tế để tránh phát sinh những xung đột mới. Từ ngày 4/9 đến ngày 8/9/1951, Hội nghị San Francisco được tổ chức để bàn về việc ký hòa ước với Nhật Bản. Trong hội nghị này, vấn đề chính là thảo luận dự thảo “Hiệp ước Hòa bình giữa các nước trong phe Ðồng minh với Nhật Bản” do Anh và Mỹ đưa ra ngày 12/7/1951, nhằm chính thức kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Á – Thái Bình Dương.
Tham dự Hội nghị với Nhật Bản có đại biểu của 50 quốc gia, gồm: Ai Cập, Anh, Argentina, Ba Lan, Bỉ, Bolivia, Brasil, Cambodia, Cannada, Ceylon, Chile, Colombia, Costa Rica, Cuba, Dominica, Ecuador, Ethiopia, Hy Lạp, Guatemala, Haiti, Honduras, Hà Lan, Indonesia, Iran, Iraq, Lào, Lebanon, Liberia, Liên Xô, Luxembourg, Mexico, Mỹ, Na Uy, Nam Phi, Nicaragoa, Pakistan, Panama, Paraguay, Peru, Pháp, Philippines, Salvador, Saudi Arabia, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Tiệp Khắc, Uruguay, Australia, Venezuela, Việt Nam. Ðại biểu thứ 51 là Trung Hoa không được mời tham dự, vì có sự bất đồng giữa hai đồng chủ tịch Hội nghị là Mỹ và Liên Xô trong việc chọn Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) hay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc đại lục mới ra đời năm 1949).
Trong phiên họp ngày 5/9/1951, việc đòi hỏi cho quyền lợi của Trung Quốc đối với Quần đảo Paracel (Hoàng Sa) và Quần đảo Spratly (Trường Sa) đã được phái đoàn Liên Xô nêu ra. Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Andrey A. Gromyko đã đưa ra đề nghị gồm 13 khoản tu chính để chuẩn bị cho việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật Bản. Trong đó có khoản tu chính liên quan đến việc: “Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Paracel (đảo Hoàng Sa) và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam”. Nhưng với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận (Ba Lan, Liên Xô, Tiệp Khắc), Hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này của Liên Xô. Như vậy, cái gọi là “danh nghĩa chủ quyền Trung Hoa” đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Ðông Nam Á đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ của một hội nghị quốc tế [6].
Ðoàn Chính phủ “Quốc gia Việt Nam” do Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Hữu làm trưởng đoàn. Ngày 7/9/1951 tại Hội nghị, có sự tham dự đầy đủ của phái đoàn 51 quốc gia, Trần Văn Hữu đã đọc bài tuyên bố (bằng tiếng Pháp) như sau:
Thật là nghiêm trọng và cảm kích cho Việt Nam đưọc đến San Francisco tham dự công việc của Hội nghị Hòa bình với Nhật Bản. Sở dĩ chúng tôi được hiện diện tại đây là nhờ các tử sĩ của chúng tôi và lòng hy sinh vô bờ bến của dân tộc chúng tôi, một dân tộc đã chịu dựng biết bao đau khổ để được sống còn và giành sự trường tồn cho một nòi giống đã có hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Nếu mỗi dân tộc đã thống khổ do sự chiếm đóng của Nhật Bản, có quyền tham dự Hội nghị này, như tất cả diễn giả liên tiếp hai ngày nay đã đồng thanh nhìn nhận, mặc dù thuộc ý thức hệ nào đi nữa cũng vậy, thì cái quyền Việt Nam lên tiếng về Hòa ước Hòa bình với Nhật Bản lại càng dĩ nhiên hơn lúc nào hết, vì không ai không biết rằng, trong tất cả các quốc gia Á châu, Việt Nam là một nước chịu nhiều đau khổ nhứt về tài sản cũng như về tính mạng người dân. Và tôi thiếu sót phận sự tối thiểu đối với dồng bào quá vãng nếu giờ phút này, tôi không hưóng một ý nghĩ thành kính đến số một triệu dân Việt mà do hoàn cảnh bi thảm của sự chiếm đóng đã đưa đến cái chết đau thương. Những hư hại vật chất mà đất nước chúng tôi gánh chịu không phải là ít, và toàn bộ nền kinh tế của chúng tôi bị ảnh hưởng một cách trầm trọng. Cầu cống và đường sá bị cắt đứt, làng xã bị triệt hạ hoàn toàn, nhà thương và trường học bị thiệt hại, bến tàu và đường sá bị đội bom, tất cả đều phải làm lại, đều cần thiết phải làm lại, nhưng than ôi cần có nguồn tài nguyên quá cao so với khả năng hiện hữu của chúng tôi.
Cho nên, trong lúc khen ngợi sự rộng lưọng của những tác giả dự án thỏa hiệp này, chúng tôi cũng trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu Hội nghị ghi nhận.
Là những người Á châu, chúng tôi thành thật hân hoan trước những viễn tưởng mới mẻ mở rộng ra cho một quốc gia Á Ðông sau khi kết thúc thỏa hiệp hòa bình này. Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng góp phần vào sự phục hưng của một dân tộc Á Ðông bình dị và cần mẫn như nước Nhật Bản đây. Chúng tôi tin chắc rằng những người dân châu Á phải là những người phát khởi thịnh vưọng chung của mình. Họ cũng trông cậy nơi chính mình để xa lánh mọi chế độ đế quốc và trong việc thiết lập một trạng thái quốc tế mới, một sự liên đới Á châu cũng cần thiết như một sự liên đới Âu châu vậy.
Ðiều này không có ý muốn nói là sẽ có một ngày nào đó hai sự đoàn kết này sẽ chống đối lẫn nhau. Ðiều này chỉ muốn nói một cách giản dị là các dân tộc châu Á một khi đã được các quốc gia Tây phương hoàn thành việc giúp đỡ họ xây dựng hòa bình, tôi nói rằng một khi mà hòa bình đã vãn hồi, các dân tộc Á châu không thể sẽ là gánh nặng cho kẻ khác, mà trái lại họ phái nhớ nằm lòng, là họ phải tự bảo vệ mạng sống của họ bằng những phương tiện riêng của họ. Ðiều đó, ít nhất cũng là nguyện vọng của Việt Nam và dù cho có phái chịu nhiều thăng trầm cực nhọc, họ vẫn tự hào là không lúc nào để nhụt chí. Nhưng một dân tộc độc lập phải là một dân tộc tự hào, và cũng bởi sự tự hào, theo chúng tôi, có cái giá, giá đó tuy không thể nào bằng sự tự hào của Nhật Bản, mà chúng tôi tới đây để yêu cầu được chữ ký của 51 quốc gia hội viên của Hội nghị này mà tái lập lại một đời sống quốc gia xứng đáng và tự hào.
Tuy nhiên, nếu dự thảo hiệp ước này đòi hỏi thắng thắn cái quyền đền bồi lại tất cả những thiệt hại mà chính Nhật Bản hoặc là tác giả, hoặc ngẫu nhiên đã gây ra, những đền bù được dự liệu bằng các cung cấp dịch vụ, trong trường hợp của Việt Nam mà không được đền bồi bằng những nguyên liệu, thì chắc chắn sẽ chẳng có kết quả gì cả. Tất cả mọi thứ Việt Nam, cũng cần như Nhật Bản, một số trợ giúp quan trọng để tái tạo nền kinh tế của mình. Từ đó, nếu nhận những đền bù chánh yếu bằng những cung cấp dịch vụ thì chẳng khác nào như là đi tín nhiệm mọi thứ tiền không thể lưu hành ở xứ mình.
Do vậy, chúng tôi sẽ phải đòi hỏi nghiên cứu lại các phương thức bồi hoàn hữu hiệu hơn và nhất là chúng tôi phải tính, ngoại trừ những phương tiện tạm thời, tới một sự bồi thường chính thức vào cái ngày mà chúng tôi ước mong là sẽ rất gần, cái ngày mà nền kinh tế của Nhật Bản sẽ được phục hưng để họ có thể đương đầu với tất cả mọi bắt buộc. Việt Nam rất hào hứng ký nhận trước nhất cho công cuộc xây dựng hòa bình này.
Và để tận dụng không ngần ngại mọi cơ hội nhằm dập tắt những mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi trên hai Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam[7].
Tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam đã được toàn thể cử tọa vỗ tay rất lâu, không hề có một phản ứng chống đối, yêu sách bảo lưu, hoặc yêu sách nào khác của 50 quốc gia còn lại tham dự Hội nghị [8].
Như vậy, hầu hết các quốc gia (48/51), đều phủ nhận đòi hỏi của Trung Quốc về chủ quyền các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng lá phiếu phủ quyết đề nghị của đại diện Liên Xô về 13 khoản tu chính nêu tại Hội nghị. Ðồng thời cũng hầu hết các nước (48/51) tham dự Hội nghị không phản đối, nghĩa là chấp nhận việc ghi vào biên bản lời phát biểu của Thủ tướng Trần Văn Hữu xác định chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hồ sơ toàn thể Hội nghị cùng lời phát biểu của Thủ tướng “Quốc gia Việt Nam” Trần Văn Hữu được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ấn hành ngay sau Hội nghị (U.S. Department of State (1951), Conference for the Conclusion and Signature of the Treaty of Peace with Japan, San Francisco, California, Sep., 4-8, 1951: record of proceedings, Pub.: Washington, D.C.: Department of State, 1951), gửi cho tất cả các nước, cũng không bị nước nào phản đối, trừ Trung Quốc.
Ngày 8/9/1951, trừ Ba Lan, Liên Xô và Tiệp Khắc do bất đồng nên không ký, còn lại đại biểu 48 quốc gia đã ký Hiệp ước Hòa bình San Francisco, chính thức chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai ở Viễn Ðông cũng như đánh dấu chấm hết cho sự tồn tại của chủ nghĩa quân phiệt Nhật. Thủ tướng Nhật Yoshida Shigeru đọc bài phát biểu “hòa giải” tại Nhà hát Opera San Francisco, sau đó thay mặt Chính phủ Nhật Bản ký Hiệp ước. Hiệp ước San Francisco bắt đầu có hiệu lục từ ngày 28/4/1952.
Nội dung Hòa ước, tại Ðiều 2 (Chương II) gồm 6 nội dung, trong đó tại nội dung “f” về Hoàng Sa, Trường sa” ghi rõ “Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” (Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands). Toàn văn Ðiều 2 như sau [9]:
a. Nhật Bản, trong khi công nhận nền độc lập của Triều Tiên, từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Triều Tiên, kể cá các Quần đảo Quelpart Port Hamilton và Dagelet.
b. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với vùng Formosa (Ðài Loan) và Pessadores (Bành Hồ).
c. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Kurile, đảo Skhalin và quần đảo nằm sát nước Nhật Bản, mà ở đó Nhật Bản đã giành được chủ quyền theo Hiệp ước Portsmouth ngày 5/9/1905.
d. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi liên quan tới chế độ ủy trị của Hội Quốc liên và chấp nhận quyết định ngày 2/4/1947 của Hội đồng Báo an Liên hợp quốc gia hạn chế độ ủy trị đối với các đảo Thái Bình Dương trước đây dưói quyền ủy trị của Nhật Bản.
e. Nhật Bản từ bỏ tất cả các đòi hỏi muốn có bất kỳ quyền, hoặc danh nghĩa, hoặc lợi ích nào liên quan tới bất cứ phần nào của vùng Nam Cực, dù đó là các hoạt động của các công dân Nhật Bản hoặc các hình thức khác.
f. Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
ARTICLE 2
a. Japan, recognising the independence of Korea, renounces all right, title and claim to Korea, including the islands of Quelpart, Port Hamilton and Dagelet.
b. Japan renounces all right, title and claim to Formosa and the Pescadores.
c. Japan renounces all right, title and claim to the Kurile Islands, and to that portion of Sakhalin and the islands adjacent to it over which Japan acquired sovereignty as a consequence of the Treaty of Portsmouth of September 5th, 1905.
d. Japan renounces all right, title and claim in connection with the League of Nations Mandate System, and accepts the action of the UN Security Council of April 2nd, 1947, extending the trusteeship system to the Pacific islands formerly under mandate to Japan.
e. Japan renounces all claim to any right or title to or interest in connection with any part of the Antarctic area, whether deriving from the activities of Japanese nationals or otherwise.
f. Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands.
Ðiều 2 của Hiệp ước đã tái lập sự toàn vẹn lãnh thổ cho những quốc gia bị quân Nhật chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong các vùng lãnh thổ mà Nhật phải từ bỏ, chỉ duy nhất có nêu các đảo sẽ trả cho Triều Tiên, trong khi các lãnh thổ còn lại không được nói sẽ trả cho ai. Bởi vì người chủ của các lãnh thổ này đã quá rõ ràng trước khi bị Nhật cưỡng chiếm. Do đó, việc Nhật Bản tuyên bố từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa cũng có nghĩa là Nhật Bản trả lại chủ quyền của hai quần đảo mà nước này chiếm đóng trong giai đoạn 1939 – 1946 cho Việt Nam, đúng theo lời khẳng định chủ quyền của Thủ tướng “Quốc gia Việt Nam“ Trần Văn Hữu. Chủ quyền đối với hai quần đảo này do vậy, hiển nhiên thuộc về Việt Nam. Mà trong thực tế, từ trước và sau Hội nghị San Francisco, toàn bộ hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do lực lượng đồn trú của Quốc gia Việt Nam trấn giữ.
Như vậy, các vùng lãnh thổ mà Nhật Bản chiếm đóng được Tuyên bố Caio năm 1943, Tuyên ngôn Postdam năm 1945 xác nhận và Hòa ước San Francisco khẳng định lại, đã không công nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ðồng thời, tuyên bố của Việt Nam tại Hội nghị về chủ quyền của mình đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận.
Về phía Trung Quốc, khi thấy bị gạt ra khỏi Hội nghị, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã phản ứng bằng cách ra một số bản tuyên bố chính thức, đồng thời cho đăng các bài báo để lên án Mỹ về việc không mời Trung Quốc tham dự Hội nghị để trình bày quan điểm của họ. Một trong những quan điểm này là đòi hỏi chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy tuyên bố Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là lãnh thổ của Trung Hoa, nhưng vào lúc đó Trung Quốc lại không đưa ra được một chi tiết nào để chứng minh chủ quyền đối với hai quần đảo này. Và cho đến tận ngày nay, sau khi chứng cứ về Trịnh Hòa và Lý Chuẩn không đủ sức thuyết phục, Trung Quốc vẫn chỉ có một lập luận là họ có chủ quyền ngay từ thời Cổ đại.
Trước khi Hòa ước San Francisco được ký kết ngày 8/9/1951, Trung Quốc khi nghiên cứu Dự thảo do Anh/Mỹ soạn thảo và được Mỹ gửi cho các quốc gia được mời tham dự Hội nghị, thấy Ðiều 2 của dự thảo Hòa ước không quy định hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Nhật Bản phải từ bỏ sẽ được trao cho quốc gia nào, ngày 15/8/1951, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai vội vã tuyên bố:
Dự thảo Hiệp ước quy định là Nhật Bản sẽ từ bỏ mọi quyền đối với Quần đảo Nam Uy (Spratly, Trường Sa) và Quần đảo Tây Sa (Paracel, Hoàng Sa), nhưng lại cố tình không đề cập tới vấn đề khôi phục chủ quyền trên hai quần đảo này. Thực ra, cũng như các quần đảo Nam Sa, Trung Sa và Ðông Sa, Quần đảo Tây Sa (Paracel, Hoàng Sa) và Quần đảo Nam Uy (Spratly, Trường Sa) lúc nào cũng là lãnh thổ của Trung Quốc [10].
Vấn đề là ở chỗ, tuyên bố ngày 15/8/1951 đã cố tình đi ngược lại tinh thần tuyên bố ngày 4/12/1950 của chính Chu Ân Lai là yêu cầu Hội nghị San Francisco phải thực hiện Tuyên bố Cairo, Hòa ước Yalta và Tuyên ngôn Potsdam. Một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốc chống lại Hòa ước San Francisco là vì nước này không được tham dự. Thực ra, tại Hội nghị San Francisco, Liên Xô đã tích cực vận động cho chủ quyền của Trung Quốc tại “đảo Paracel và các hòn đảo xa hơn về phía Nam”, nhưng hầu hết các quốc gia đều không công nhận. Vì điều này trái với công pháp quốc tế và với những thực tế đã diễn ra trên hai quần đảo này, mà các quốc gia đồng minh tham chiến vừa mới chứng kiến. Tại Hội nghị San Francisco, tất cả các nước tham dự đều biết rõ Nhật Bản đã chiếm hai quần đảo này từ tay người Pháp. Lẽ phải và sự thật lịch sử ấy đã được tôn trọng, cho dù Trung Quốc có tham dự Hội nghị San Francisco hay không.
Nghiên cứu Hiệp ước San Francisco có thể thấy, tuy không nêu cự thể, nhưng các vùng lãnh thổ liên quan đến quốc gia nào thì đều được thể hiện trong cùng một khoản, ví như: các Quần đảo Quelpart Port Hmilton và Dagelet liên quan đến Triều Tiên (khoản a); Quần đảo Kurile và đảo Sakhalin liên quan đến Nga (khoản c). Trong khi đó, Ðài Loan, Bành Hồ (liên quan đến Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) và hai Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được sắp xếp ở hai khoản tách biệt nhau (b và f). Ðiều này, tự nó đã bao hàm ý nghĩa: quốc tế không công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Hơn thế nữa, trong phiên họp toàn thể ngày 5/9/1951 Hội nghị đã bác bỏ chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với “đảo Hoàng Sa cùng những đảo xa hơn nữa ở phía Nam”.
Ngày 16/3/1974, tức là chỉ hơn một tháng sau ngày Trung Quốc cưỡng chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa, tại nhà riêng của mình ở Paris, cựu Thủ tướng Chính phủ “Quốc gia Việt Nam“ Trần Văn Hữu đã trả lời phỏng vấn: “Chủ quyền Việt Nam trên Quần đảo Hoàng Sa đã được công khai tuyên bố nơi Hội nghị Hòa bình với Nhật năm 1951 vào tháng 9 dương lịch tại San Francisco. Lúc ấy là lần đầu tiên mà Việt Nam vào hàng 50 cường quốc có quyền định đoạt vấn đề quốc tế (…). Với tánh cách Chủ tịch phái đoàn đại diện cho toàn cõi Việt Nam, trong một bài diễn văn đọc ngày bế mạc hội nghị, tôi long trọng tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên cả Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 50 phái đoàn cường quốc im lặng nghe lời tuyên bố của phái đoàn Việt Nam (…) hoàn toàn công nhận, không gặp một quốc gia nào phản đối” [11].
Về những sự kiện liên quan đến hoạt động của Trần Văn Hữu đại diện cho Việt Nam với tính cách là Thủ tướng của chính quyền “Quốc gia Việt Nam” mà Bảo Ðại là Quốc trưởng tại Hội nghị San Francisco, “Sách Trắng” của Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988 viết: “Năm 1950, Pháp chính thức giao quyền quản lý hai quần đảo cho chính quyền Việt Nam. Năm 1951 tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng của chính quyền Bảo Ðại lúc đó là Trần Văn Hữu đã ra tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, lời tuyên bố này đã không vấp phải bất kỳ một sự phản đối nào từ hội nghị” [12].
Xung quanh những vấn đề có liên quan đến thái độ của Trung Quốc và Liên Xô trong việc trả lại chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam ở Hội nghị San Francisco năm 1951, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, viết: “Cho dù chỉ là một chính phủ bù nhìn được Pháp dựng lên, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Bảo Ðại Trần Văn Hữu đã là đại diện duy nhất của Việt Nam được mời tham dự hội nghị… Trung Quốc đại lục và Ðài Loan không được mời tham dự Hội nghị San Francisco do Mỹ – Xô không thống nhất được địa vị pháp lý chính thức của hai nước này. Dù bị gạt ra khỏi hội nghị, Trung Quốc vẫn phản ứng bằng cách ra một số tuyên bố chính thức, trong đó có nêu quan điểm đòi hỏi chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Với ý nghĩa bảo vệ phe Xã hội chủ nghĩa, Liên Xô đã ủng hộ quan điểm của Trung Quốc và không thừa nhận Hiệp ước San Francisco năm 1951. Chính sách đối ngoại không mấy quan tâm tới các quốc gia thuộc địa nhỏ ở châu Á vẫn tiếp tục trong giai đoạn Stalin nắm quyền và mối nghi ngờ về ý đồ trung lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tồn tại, tiếp tục ngăn cản Liên Xô có sự hỗ trợ cho cuộc chiến kháng Pháp của Việt Minh. Chính sách này vẫn không có nhiều biến chuyển sau khi Stalin qua đời năm 1953.
Chúng tôi nghĩ rằng, thái độ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện trong Sách Trắng cùng nhận xét của một nhà tình báo chiến lược vừa nêu, đã thể hiện đủ rõ những sự thật lịch sử cần được tôn trọng[13].
(còn tiếp)
Bài viết được trích từ Chương 4, cuốn QUÁ TRÌNH XÁC LẬP VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THỜI THUỘC PHÁP của GS.TS. Hồ Sĩ Quý (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), do Nxb. Khoa học xã hội xuất bản tại Hà nội, tháng 12/2025.
——————–
[1] Xem: 1) Hồ Chí Minh (2023), Thư gửi nước Mỹ, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội; 2) Dixee R. Bartholomew-Feis (2007), OSS và Hồ Chí Minh – Ðồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật, Lê Lương Giang dịch, Nxb. Thế giới (Tác giả Dixee R. Bartholomew-Feis, là tiến sĩ khoa học lịch sử, Ðại học Buena Vista, Mỹ. Cuốn sách này xuất bản lần đầu tại Nxb. Ðại học Kansas, 2006. Bà Bartholomew-Feis cũng là tác giả viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong “Encyclopedia of Military Science”, Sage Pub., 2013).
[2] Xem: (1945 – 1946), University of California Press. Xem: Chương IV, https://nghiencuulichsu. com/2021/05/04/trung-hoa-dan-quoc-va-viet-nam-1940-1945/ (Nguyễn Tuấn Anh dịch).
[3] Harris M. Lend III (2011), Encyclopedia of Heads of States and Governments, 1900 through 1945, Pub.: McFarland & Company, Inc. Jefferson, North Carolina, and London. c. 473.
[4] Republic of Vietnam (1975), White Paper, Sđd, tr. 52, (Việt Binh Ðoàn, lực lượng “Ðịa phương quân” được Tướng Phan Văn Giáo thành lập năm 1949 ở miền Nam dưới chính quyền Bảo Ðại, nhưng thực chất là quân đội bản xứ độc lập với quân đội Pháp. Sau năm 1955, Việt Binh Ðoàn là thành phần chính của quân đội Việt Nam Cộng hòa).
[5] Xem: Dzurek, Daniel J. (1996), The Spratly Islands Dispute: Who’s On First?, Maritime Briefing, Volume 2, No.1, https://www.dur.ac.uk/ibru/publications/ download/?id=232.
[6] Xem: 1) Phạm Ngọc Bảo Liêm (2010), Hội nghị San Francisco với vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, “Xưa và Nay”, số 360, 7/2010; 2) Lee, Seokwoo (2002), The 1951 San Francisco Peace Treaty with Japan and the Territorial Disputes in East Asia, 11 Pac. Rim L & Pol’y J. 63 (2002). https://digitalcommons.law.uw.edu/wilj/vol11/iss1/3; 3) Trần Gia Phụng (2014), Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco 1951, https:// phanchautrinhdanang. org/hoangsavatruongsa.html.
[7] Viet-Nam Déclaration du Président Tran-van-Huu (1951), Les États associés à la Conférence de San Francisco les 6 et 7 Septembre 1951, “France-Asie. Revue de Cuture et de Synthèse Franco-Asiatique”, Saigon, Décembre 1951, Tome VII. 6e Année, 66-67, pp. 503-505, Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội, Ký hiệu kho: 80 7738 (1951), OCTO 18305.
[8] Xem: 1) Phạm Ngọc Bảo Liêm (2010), Hội nghị San Francisco với vấn dề chú quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Tlđd; 2) Trần Gia Phụng (2014), Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco 1951… Tlđd.
[9] Multilateral Treaty of Peace With Japan (The San Francisco Peace Treaty) 8th September, 1951, http://ryukyu-okinawa.net/pages/archive/sanfran.html..
[10] Zhou, Enlai (1951), Foreign Minister Chou En-lai’s statement on the U.S.-British draft peace treaty with Japan and the San Francisco Conference: August 15, 1951, https://www.worldcat.org/title/foreign-minister-chou-en-lais-statement- on-the-us-british-draft-peace-treaty-with-japan-and-the-san-francisco-conference-august-15-1951/oclc/71720646.
[11] Giao Hưởng (2015), Hoàng Sa trên dien dàn quốc tế San Francisco, https://1thegioi. vn/ky-41-hoang-sa-tren-dien-dan-quoc-te-san-francisco-35367.html.
[12] Bộ Ngoại giao (1988), Các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế, (Sách Trắng), Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 5.
[13] Nguyễn Văn Hưởng (2016), Phán xét: Các nước lớn đã can thiệp vào chiến tranh Việt Nam như thế nào, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 627-628.
