Hoàng Sa và Trường Sa sau Chiến tranh Thế giới thứ hai (P3)

Tác giả: Hồ Sĩ Quý

Xem thêm: Phần 1; Phần 2

5. Hoàng Sa và Trường Sa từ sau Hội nghị San Francisco năm 1951

Ngày 19/8/1945 Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại Quảng Trường Ba Ðình, chấm dứt chế độ thuộc địa của Pháp.

Hiệp định Genève ký kết ngày 20/7/1954 chấm dứt chiến tranh ở Ðông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ðiều 1 của Hiệp định quy định đường ranh tạm thời về quân sự được ấn định bởi sông Bến Hải (ở vĩ tuyến 17). Ðường ranh giới tạm thời này cũng được kéo dài ra trong hai phần bằng một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi theo Ðiều 4 của Hiệp định. Cũng theo Ðiều 14 của bản Hiệp định, trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử đưa lại sự thống nhất cho Việt Nam, bên đương sự và quân đội do thoả hiệp tập kết ở khu nào sẽ đảm nhiệm việc hành chính trong khu tập kết đó. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Ðông ở dưới vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới sự quản lý hành chính của phía chính quyền quản lý miền Nam vĩ tuyến 17.

Nghĩa là toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa theo Hiệp định Genève thuộc quyền quản lý của chính quyền miền Nam (Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa).

·      Tranh chấp ch quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa t năm 1951 đến năm 1975

Việc Pháp thua trận ở Ðiện Biên Phủ và ký Hiệp định Genève ngày 20/7/1954, buộc quân đội và chính quyền Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam tháng 4/1956. Thực tế này để khoảng trống bố phòng ở Biển Ðông khiến các nước trong khu vực trong đó có Trung Quốc đại lục (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), Ðài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) và Philippines cho là cơ hội tốt để có thể đưa yêu sách và thực hiện chiếm đóng trái phép Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Tháng 4/1956, khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam, Philippines nêu yêu sách về vấn đề chủ quyền.

Khi ấy, quân đội Quốc gia Việt Nam sau là Việt Nam Cộng hòa đã chiếm đóng các đảo phía tây của Quần đảo Hoàng Sa bao gồm đảo Hoàng Sa (Pattle) và các đảo lân cận. Ngày 1/6/1956, Ngoại trưởng chính quyền Việt Nam Cộng hòa Vũ Văn Mẫu ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vài ngày sau, Pháp cũng nhắc lại cho Philippines biết những quyền mà Pháp đã có đối với hai quần đảo trên từ năm 1933.

Ngày 22/8/1956, lục quân và hải quân Việt Nam Cộng hòa đổ bộ lên các đảo chính của Quần đảo Hoàng Sa và dựng bia, kéo cờ. Sau khi trấn giữ ở các đảo phía tây Quần đảo Hoàng Sa, cùng ngày lực lượng hải quân của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã đổ bộ lên các hòn đảo chính của nhóm Trường Sa, dựng bia cột đá và kéo cờ khẳng định chủ quyền.

Tháng 10/1956, hải quân Ðài Loan đến chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba).

Ngày 22/10/1956, Sắc lệnh số 143 – NV của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại “Nam Việt” (Nam Bộ). Theo sắc lệnh này, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được gọi là tỉnh Phước Tuy và Quần đảo Trường Sa là địa phận thuộc tỉnh Phước Tuy.

Trong khi ấy, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng đã nhanh chóng chiếm giữ đảo Phú Lâm (Ile Boisée), đảo lớn nhất của Quần đảo Hoàng Sa, song hành với việc Ðài Loan chiếm giữ Ba Bình đảo lớn nhất của Quần đảo Trường Sa.

Tháng 2/1959, nhiều dân chài Trung Quốc định đến đóng trên phần phía tây Quần đảo Hoàng Sa, nhưng không thành công, bị hải quân Việt Nam Cộng hòa bắt và trả lại cho phía Trung Quốc.

Ngày 13/7/1961, Sắc lệnh số 174 – NV của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đặt Quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Ðịnh Hải trực thuộc quận Hòa Vang: “Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam” (Ðiều 1). Ðặt đơn vị hành chính xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Ðịnh Hải, trực thuộc quận Hòa Vang. Xã Ðịnh Hải dưới quyền một phái viên hành chính (Ðiều 2).

Ngày 13/7/1961, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Ðình Diệm ký Sắc lệnh số 174-NV về việc đặt Quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy danh là xã Ðịnh Hải thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam. Năm 1973 thuộc tỉnh Phước Tuy.

Về những sự kiện liên quan đến hoạt động của Việt Nam tại hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong khuôn khổ thể chế chính quyền “Quốc gia Việt Nam” của Bảo Ðại từ năm 1949 đến năm 1955, và “Việt Nam Cộng hòa” từ năm 1955 đến năm 1975, “Sách Trắng” của Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố năm 1988 viết:

“Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Phần lãnh thổ phía Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 (bao gồm cả hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) trở vào tạm thời được đặt dưới sự quản lý của các chính quyền miền Nam Việt Nam.

Năm 1956, khi rút quân khỏi Việt Nam, Pháp đã chuyển giao sự quản lý phần lãnh thổ phía Nam Việt Nam cho chính quyền Sài Gòn. Theo đó, chính quyền Sài Gòn đã tổ chức việc đưa quân ra tiếp quản hai quần đảo, đồng thời tổ chức lại về mặt hành chính (coi mỗi quần đảo là một xã thuộc một huyện trong đất liền), cho xây dựng các bia chủ quyền tại các đảo chính, duy trì các trạm khí tượng và đăng ký chúng vào danh mục các trạm của Tổ chức Khí tượng Thế giới (OMM), cho một số nhà kinh doanh ra khai thác phân chim ở Hoàng Sa đồng thời liên tục cử các nhà khoa học ra hai quần đảo nghiên cứu.

Lợi dụng sự xáo trộn về chính trị, vào các năm 1956 (Pháp rút khỏi Ðông Dương) và năm 1974 chính quyền Sài Gòn đang phải đương đầu với các cuộc tiến công như vũ bão của lực lượng vũ trang của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, quân đội Trung Quốc đã dùng vũ lục lần lượt chiếm đóng phần phía đông (năm 1956) và sau đó là phần phía tây quần đảo (năm 1974), xâm chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Chính quyền Sài Gòn đã kịch liệt phản đối và đã thông báo cho các nước và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về sự kiện này. Cũng vào thời gian đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố lập trường ba điểm về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo, bao gồm việc các bên phải cùng nhau thương lượng để giải quyết vấn đề” [1].

Vấn đề là ở chỗ, đây là những sự kiện được ghi và được đánh giá trong Sách Trắng của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mà Sách Trắng của bất kỳ quốc gia nào, cũng không chỉ là thái độ cần thể hiện của các quốc gia đó, mà còn là sự thừa nhận tính xác thực của các sự kiện đã diễn ra trong lịch sử được mô tả trong Sách Trắng.

Từ năm 1961 đến năm 1963, chính quyền Sài Gòn lần lượt dựng bia chủ quyền ở các đảo Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây, Song Tử Ðông, Thị Tứ, Loại Ta thuộc Quần đảo Trường Sa. Nghị định số 709-BNV-HCDP-2đ ngày 21/10/1969 của Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, sát nhập xã Ðịnh Hải (Quần đảo Hoàng Sa) vào xã Hòa Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Ngày 13/7/1971, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa, ông Trần Văn Lắm có mặt ở Manila đã lên tiếng nhắc nhở Philippines về chủ quyền của Việt Nam và các danh nghĩa làm cơ sở cho những yêu sách đó trên Quần đảo Trường Sa.

Ngày 9/1/1973, Hội đồng Nội các chính thể Sài Gòn ra quyết định sát nhập các đảo Trường Sa (Trường Sa Lớn hiện nay), An Bang, Itu Aba, Song Tử Ðông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn và các đảo phụ cận thuộc Quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Ðất Ðỏ, tỉnh Phước Tuy.

Ngày 6/9/1973, Nghị định số 420-BNV-HÐP/26đ của Bộ trưởng Bộ Nội vụ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thi hành quyết định của Hội đồng Nội các ngày 9/1/1973 về việc sát nhập các đảo (vừa nói) thuộc Quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Ðất Ðỏ, tỉnh Phước Tuy. Nghị định cũng đồng thời sửa đổi sắc lệnh gọi Quần đảo Spratly là Quần đảo Hoàng Sa mà trước đó, Sắc lệnh số 143-NV ngày 22/10/1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đã ký.

Trong bối cảnh sau Thông cáo chung Thượng Hải năm 1972 (Thông cáo chung Mỹ – Trung khi Nixon đến Trung Quốc), sự nứt rạn không thể hàn gắn giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng gia tăng, trong khi đó, Chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn gần kết thúc – cục diện chính trị thế giới biến đổi theo chiều không tích cực đó đã ảnh hưởng trục tiếp đến đời sống chính trị Việt Nam. Mà, một trong những điểm nóng, nhạy cảm thể hiện quan hệ Mỹ – Trung lúc đó, Hoàng Sa. Không ngẫu nhiên mà tin tức về hai quần đảo đột nhiên trở thành điểm nóng trên diễn đàn chính trị Trung Quốc lúc đó.

Ngày 11/1/1974, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố việc Chính phủ Việt Nam Cộng hòa sát nhập các đảo của Quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy là sự lấn chiếm lãnh thổ Trung Quốc và khẳng định lại các yêu sách của Trung Quốc đối với hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa theo cách gọi của Trung Quốc). Ngày 12/1/1974, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố bác bỏ yêu sách của Trung Quốc.

Ngày 15/1/1974, Trung Quốc đại lục bắt đầu triển khai một lực lượng hải quân mạnh mẽ trong đó có nhiều tàu được ngụy trang thành tàu đánh cá và có phi cơ yểm trợ tiến đến Hoàng Sa. Ðáp lại tình hình, Bộ Tư lệnh hải quân Việt Nam Cộng hòa đã điều động tuần dương hạm Lý Thường Kiệt đến Hoàng Sa để tuần phòng và trực tác chiến.

Sau khi phát hiện sự có mặt của quân đội Trung Quốc tại vùng Hoàng Sa với cờ dựng trên các đảo Quang Anh (Money), Hữu Nhật (Robert), lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa được tăng cường với khu trục hạm Trần Khánh Dư, tuần dương hạm Trần Bình Trọng, hộ tống hạm Nhật Tảo. Lực lượng tăng cường của Việt Nam Cộng hòa có các đơn vị biệt kích được lệnh đổ bộ đến các đảo hạ cờ của quân đội Trung Quốc. Những vụ xô xát đã xảy ra, súng đã nổ trên đảo Quang Hòa (Duncan) và một đảo khác.

Tiếp đó, ngày 16/1/1974, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ra tuyên cáo bác bỏ luận cứ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và đưa ra những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử để xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa trên hai quần đảo này. Hai bên bắt đầu bố trí lực lượng, các chiến hạm hai bên cách nhau chừng 200m. Sau đó hai bên bất ngờ tách rời nhau.

Và, cuộc hải chiến bắt đầu diễn ra vào lúc 10 giờ 25 phút ngày 19/1/1974. Một chiến hạm Trung Quốc bị bốc cháy. Các chiến hạm Trung Quốc mang số hiệu 281, 182 dồn sức đánh trả khiến chiến hạm Nhật Tảo bị trúng đạn trên đài chỉ huy và hầm máy chính. Hạm trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh. Sau hơn 1 giờ giao chiến, 2 chiến hạm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chìm, 2 chiếc khác bị bắn cháy. Lực lượng Việt Nam Cộng hòa ngoài hộ tống hạm Nhật Tảo bị chìm, còn có một số chiến hạm bị thương tổn, trong đó có một số binh sĩ bị bắt và mất tích. Một người Mỹ tên Gerald Kosh, nhân viên dân sự thuộc văn phòng tuỳ viên quốc phòng tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, được biệt phái làm liên lạc viên cạnh bộ chỉ huy hải quân Quân khu I Việt Nam Cộng hòa cũng bị bắt (theo Nhật báo Chính Luận, số 2982, ngày 31/1/1974). Kosh được trao trả lúc 12 giờ trưa ngày 31/1/1974. Ngày 17/2/1974, chính quyền ở Bắc Kinh trả tự do cho 43 quân nhân và nhân viên của Việt Nam Cộng hòa tại Tân Giới (Hồng Kông).

Trong cuộc chiến Hoàng Sa năm 1974, 75 sĩ quan và binh sĩ Sài Gòn đã hy sinh, Trung Quốc chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa [2].

Qua thông điệp ngoại giao được gửi đến tất cả các nước ký Hiệp định Paris (năm 1973), chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, yêu cầu Hội đồng Bảo an tổ chức một phiên họp đặc biệt cho nội dung này.

Ngày 1/2/1974, chính quyền Sài Gòn quyết định tăng cường phòng thủ các đảo ở Quần đảo Trường Sa, đưa lực lượng ra đóng ở 5 đảo thuộc Trường Sa. Qua đại sứ ở Manila, chính quyền Sài Gòn một lần nữa khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Ngày 1/2/1974, đoàn đại biểu của Việt Nam Cộng hòa ra tuyên bố tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật Biển Caracas khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo, tố cáo Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa. Ngày 30/3/1974, đại biểu chính quyền Việt Nam Cộng hòa khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội đồng kinh tài viễn đông họp tại Colombia. Ngày 14/2/1975, Bộ Ngoại giao chính quyền Việt Nam Cộng hòa công bố Sách Trắng về Hoàng Sa và Trường Sa.

Về việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dùng vũ lục xâm chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974, sách Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua do Nhà xuất bản Sự thật công bố năm 1979, viết:

“Ngày 19/1/1974, tức là một ngày sau khi phía Trung Quốc nhận đàm phán với phía Việt Nam về vấn đề Vịnh Bắc Bộ, họ sử dụng lực lượng hải quân và không quân tiến đánh quân ngụy Sài Gòn và chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa từ lâu vốn là bộ phận lãnh thổ Việt Nam. Họ nói là để tự vệ, nhưng thực chất đó là một hành động xâm lược, một sự xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam để khống chế Việt Nam từ mặt biển và từng bước thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Ðông. Hành động xâm lược của họ có tính toán từ trước và được sự đồng tình của Mỹ. Vì vậy, khi đó Ðại sứ Mỹ G. Martin ở Sài Gòn đã bác bỏ yêu cầu cứu viện của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương đã được lệnh tránh xa Quần đảo Hoàng Sa.

Trong cuộc hội đàm với những người lãnh đạo Việt Nam năm 1975, Phó Thủ tướng Ðặng Tiểu Bình đã thừa nhận rằng hai bên đều nói các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của mình, cho nên cần gặp gỡ để bàn bạc giải quyết. Ðiều đó càng chứng tỏ hành động của phía Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa là ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế, gây ra một tình trạng việc đã rồi” [3].

Về việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dùng vũ lục xâm chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974, Sách Trắng của Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố năm 1988 cũng viết rõ: “Lợi dựng sự xáo trộn về chính trị, vào các năm 1956 (Pháp rút khỏi Ðông Dương) và năm 1974 chính quyền Sài Gòn đang phải đương đầu với các cuộc tiến công như vũ bão của lực lượng vũ trang của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, quân đội Trung Quốc đã dùng vũ lực lần lượt chiếm đóng phần phía đông (1956) và sau đó là phần phía tây quần đảo (1974), xâm chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Chính quyềnSài Gòn đã kịch liệt phản đối và đã thông báo cho các nước và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về sự kiện này (Ngay sau khi Trung Quốc cho máy bay ném bom xuống các đảo này, quan sát viên của Việt Nam ở Liên hợp quốc yêu cầu Hội đồng Bảo an xem xét vấn đề này). Cũng vào thời gian đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố lập trường ba điểm về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo, bao gồm việc các bên phải cùng nhau thương lượng để giải quyết vấn đề” [4].

Về thông tin Mỹ “đi đêm” với Trung Quốc và phản bội Sài Gòn trong vụ Hoàng Sa năm 1974 (hành động xâm lược của Trung Quốc có tính toán từ trước và được sự đồng tình của Mỹ, đại sứ Mỹ lúc đó ở Sài Gòn đã bác yêu cầu cứu viện và hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương được lệnh tránh xa Hoàng Sa), về sau phía Mỹ và cả Henry Kissinger cũng cố tình phủ nhận hoặc lảng tránh. Nhưng nhiều tài liệu lại minh định rằng, thông tin đó ít nhất không quá xa sự thật: Khi sự kiện hải chiến Hoàng Sa đang diễn ra ngày 17 – 19/1/1974), quân đội Mỹ được chính quyền Sài Gòn yêu cầu can thiệp, nhưng Mỹ vẫn quyết định đứng ngoài xung đột. Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ lúc đó, Arthur Hummel cho chính quyền Sài Gòn biết, Mỹ không quan tâm đến vấn đề Hoàng Sa. Biên bản cuộc họp ngày 25/1/1974 (một tuần sau sự kiện), do Ngoại trưởng Mỹ lúc đó Henry Kissinger chủ trì, đã phản ánh khá rõ thái độ của Mỹ. Ðược trích đăng trong bài báo của BBC ngày 3/10/2011, Biên bản cuộc họp ngày 25/1/1974 ghi rõ: Ðô đốc Moorer xác nhận lại với Henry Kissinger: “Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực”; Ngoại trưởng Kissinger nói: “Hoa Kỳ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này” [5].

Về thái độ này của Mỹ, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, nhà tình báo chiến lược, trong cuốn sách năm 2016 của mình, cũng viết: “Khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn là hai kẻ thù không đội trời chung, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Liên Xô cũng giảm bớt căng thẳng, Hoa Kỳ đã nỗ lực vận dựng mối quan hệ này để giải bài toán khó nhất của cuộc Chiến tranh lạnh – Việt Nam. Hoa Kỳ đã không ít lần gây sức ép lên Liên Xô đến để nước này ép buộc Việt Nam đồng ý với các điều kiện đàm phán của Mỹ trong các cuộc mật đàm ở Paris. Với Trung Quốc, Mỹ và Trung Quốc đã “nhanh chóng phát triển mối quan hệ hợp tác ngầm trong phạm vi tranh chấp của thế giới thứ ba” (Nguyễn Văn Hưởng trích Jentleson B.W.), mà Việt Nam là tâm điểm sau cuộc viếng thăm bất ngờ của Richard Nixon tới Bắc Kinh năm 1972. Không có những bằng chứng xác thực nhưng vụ Trung Quốc chiếm Quần đảo Hoàng Sa tháng 1 năm 1974 nhiều khả năng là sự thỏa hiệp ngầm giữa tình báo hai nước lớn này” [6].

Về cuộc hải chiến Hoàng Sa nǎm 1974, nhiều nước trên thế giới đã lên án Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam, trong đó có Liên Xô. Lúc đó Liên Xô đã yêu cầu Liên hợp quốc phải buộc Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán với các bên có liên quan đến sự kiện này.

*

*     *

Như vậy, thực tế tình hình ở hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn trước và sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai có những sự thật đáng chú ý:

Khi Pháp tái xâm chiếm Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) bùng nổ, nhưng Pháp vẫn làm chủ Biển Ðông và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Hiệp định Genève nǎm 1954 quy định từ vĩ tuyến 17 xuống phía Nam, lãnh thổ và hải đảo Việt Nam thuộc chính quyền phía Nam quản lý, lúc đó Pháp đã bàn giao toàn bộ chủ quyền hai quần đảo cho chính phủ Bảo Ðại mà từ nǎm 1955 là chính quyền Ngô Ðình Diệm. Lợi dựng tình thế rối ren hậu chiến, Trung Quốc xâm chiếm trái phép đảo Phú Lâm (Quần đảo Hoàng Sa) từ nǎm 1956. Ðài Loan chiếm đảo Ba Bình, lớn nhất của Quần đảo Trường Sa cũng nǎm 1956. Nǎm 1968 Philippines chiếm một số đảo, đá trong đó có Song Tử Ðông ở Trường Sa.

Trong suốt thời gian chiến tranh (1954 – 1975), Việt Nam bị chia cắt khiến cả hai chính quyền Bắc và Nam Việt Nam bị cuốn vào chiến tranh, nhưng phía Việt Nam Cộng hòa vẫn thực thi các hành động trên hai quần đảo: thường xuyên đồn trú, phân vùng hành chính để quản lý, đặt bia chủ quyền trên các đảo (ngày 19/5/1963 ở đảo Trường Sa; ngày 20/5/1963 ở đảo An Bang; ngày 22/5/1963 ở đảo Thị Tứ và Loại Ta; ngày 24/5/1963 ở đảo Song Tử Ðông và đảo Song Tử Tây). Ðầu nǎm 1974, ngay sau khi bị mất Hoàng Sa về tay Trung Quốc, hải quân Việt Nam Cộng hòa đã tiến hành chiến dịch “Trần Hưng Ðạo 48”, bất ngờ đổ quân chiếm lại đảo Song Tử Tây. Tình huống nǎm 1974 ở Hoàng Sa để lại nỗi đau cho các thế hệ, nhưng có nguyên nhân ở việc Trung Quốc đã lợi dựng tình thế, “đi đêm” với Mỹ sau cuộc gặp gỡ nǎm 1972, nên mới xâm chiếm được toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa.

Nǎm 1975 Việt Nam thống nhất, ngay tháng 4/1975 Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản toàn bộ các đảo ở Trường Sa. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và từ nǎm 1976 là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thực thi nhiều hoạt động rất cǎn bản và thực tế để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa[7]. Nhiều đảo tại Quần đảo Trường Sa được triển khai các hoạt động dân sự (xây dựng chùa, trường học, bệnh viện, cảng và cơ sở chế biến hải sản…) và có quân đội đồn trú. Một số đảo cũng đã được bồi lấp, cải tạo trong thời gian gần đây nhằm đáp ứng các nhu cầu trước mắt và lâu dài (và cũng được một vài học giả và nhà nghiên cứu chiến lược thế giới tán thành, thậm chí được đánh giá tích cục vì chỉ cải tạo nhỏ, không làm hại môi trường[8]).

Tuy nhiên, tháng 3/1988, Trung Quốc lại đưa quân tới xâm lược bãi đá Cô Lin, Len Ðao và Gạc Ma:

Ngày 11/3/1988, tàu HQ 604 (Lữ đoàn 125) của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ xuất phát từ Cam Ranh với 70 bộ đội công binh của Trung đoàn 83 và 22 bộ đội của Lữ đoàn 146 ra xây dựng cụm đảo Gạc Ma. Khi đang chuyển vật liệu lên đảo thì ba tàu chiến Trung Quốc áp sát, giật cờ, nã súng xâm chiếm đảo Gạc Ma trái phép. Sau đó, tàu Trung Quốc tiếp tục tấn công tàu HQ 605 đang bảo vệ và xây dựng đảo Len Ðao và tàu HQ 505 canh giữ Cô Lin. Trận xung đột đã làm hai tàu của Việt Nam bị chìm, một tàu hỏng, 64 sĩ quan và chiến sĩ hy sinh, 9 người bị phía Trung Quốc bắt làm tù binh. Trung Quốc còn chặn không cho tàu mang cờ Chữ Thập Ðỏ ra cứu hộ. Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, thương vong 24 thủy binh. Kể từ đó Trung Quốc chiếm đóng Gạc Ma.

Nǎm 2012, phía Trung Quốc công bố video về những diễn biến đã diễn ra ngày 14/3/1988 tại Gạc Ma. Cả thế giới phẫn nộ. Có thể nói, quá trình chiếm hữu, xác lập chủ quyền, xây dựng bảo vệ và chiến đấu hy sinh ở Gạc Ma là câu chuyện bi thương nhất trong lịch sử bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam tính đến nay.

    • Xin được nói kỹ hơn về Gạc Ma (Johnson South Reef):

Gạc Ma (Johnson South Reef) là rặng san hô nằm trong nhóm đảo Sinh Tồn (Union Banks), thuộc Quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) của Việt Nam. Gạc Ma, gọi chính xác là “Ðá Gạc Ma”, nằm ở tọa độ 9°42’độ vĩ Bắc – 114°17’độ kinh Ðông, thuộc nhóm đảo Sinh Tồn của Quần đảo Trường Sa – là một quần đảo có hơn 100 thực thể gồm đảo san hô, cồn cát, rạn san hô (gồm rạn san hô thường và các đảo san hô vòng), bãi cạn và bãi ngầm ở Biển Ðông.

Nhóm đảo Sinh Tồn là một tập hợp các thực thể địa lí nằm ở phía nam cụm Nam Yết, mà khái niệm hàng hải và quân sự quốc tế gọi là Union Banks/Union Reefs – Bãi san hô Liên Minh hay cụm rặng Liên Minh, có tài liệu còn gọi là Bãi san hô Hội Ngộ; tiếng Trung: 九章群礁 (Cửu Chương quần tiêu). Nhóm đảo này (Union Reefs) nằm giữa Quần đảo Trường Sa, chỉ có một đảo san hô là đảo Sinh Tồn (Sin Cowe Island, tiếng Trung: 景宏島; Cảnh Hoành đảo), một cồn cát là đảo Sinh Tồn Ðông, còn lại là rất nhiều rặng đá như đá Cô Lin, đá Gạc Ma, đá Len Ðao,… Trong số này, đá Ba Ðầu là rặng đá lớn nhất.

Nhóm Sinh Tồn lần đầu tiên được khảo sát bởi tàu HM Herald của Nữ Hoàng Anh vào tháng 4 và tháng 5/1931. Tất cả các tên riêng được đặt theo tên của các cán bộ khảo sát trên tàu Herald (Thuyền trưởng N.A.C. Hardy) hoặc theo lịch Kitô giáo. Cuộc khảo sát của Herald về Union Banks/Union Reefs chưa từng được các nhà nghiên cứu thủy vǎn của hải quân Hoàng gia Anh công bố [9]. Cũng chính con tàu này vào nǎm 1931 đã khảo sát ở bãi Nguyệt Thiềm thuộc Quần đảo Hoàng Sa. Sau đó, khi bị Chính phủ Pháp phản đối, Bộ Hải quân Hoàng gia Anh đã nhận được công vǎn từ phía Pháp, đưa ra chứng cứ là nhà cầm quyền Trung Hoa đã có vǎn bản nói rõ là họ không có chủ quyền ở Hoàng Sa [10].

Gạc Ma là thực thể cuối phía tây nam của Nhóm Sinh Tồn và rất gần đá Cô Lin (Collins Reef, khoảng 3 km về phía đông nam). Ðá Gạc Ma, trong các tài liệu tiếng Anh hàng hải và quân sự gọi là Johnson Reef. Gần đây, nhiều tài liệu gọi là Johnson South Reef khi đá Cô Lin được gọi là Johnson North Reef mà không gọi là Collins Reef. Ngoài Việt Nam, Gạc Ma còn bị Ðài Loan, Philippines và Trung Quốc tự coi là thuộc chủ quyền của mình. Trong tiếng Philippines, Gạc Ma được gọi là Mabini; tiếng Trung: 赤瓜礁, Chingua Jiao, Xích Qua tiêu.

Về cấu trúc địa lý tự nhiên của Gạc Ma, nhiều tài liệu nghiên cứu chuyên sâu những nǎm gần đây thường sử dựng tài liệu của David Hancox và Victor Prescott với công trình chung mà hai ông đã đǎng trên tờ Maritime Briefing Vol. 1 số 6 nǎm 1995 “Mô tả địa lý về Quần đảo Trường Sa và hồ sơ khảo sát thuỷ vǎn của những đảo này” [11]. Sở dĩ tài liệu này được chú ý khai thác, trước hết bởi tính khách quan của các cuộc khảo sát. David Hancox là nhà khoa học thủy vǎn Australia, là một thành viên của công ty tư vấn quốc tế về cứu hộ có trụ sở tại Singapore. Ông đã làm việc trong hầu hết các ngành của công nghiệp cứu hộ trên biển và có mặt thường xuyên ở Biển Ðông. Victor Prescott là giáo sư địa lý học tại Ðại học Melbourne, một chuyên gia sâu về thềm lục địa, EEZ, Luật biển, Biển Ðông, Ranh giới quốc tế trên biển và trên đất liền… trong suốt ba mươi nǎm qua. Ông đã viết nhiều cuốn sách về địa lý học chính trị, trong đó có cuốn Limits of National Claims in the South China Sea (Giới hạn của yêu sách quốc gia ở Biển Ðông) xuất bản nǎm 1999. Một số đã được dịch sang tiếng Ả Rập, tiếng Ðức và tiếng Ý. Hai ông cũng đã công bố cuốn sách viết chung về các cuộc khảo sát công khai và bí mật tại Quần đảo Trường Sa ở thế kỷ XIX Secret Hydrographic Surveys in the Spratly Islands (Những cuộc khảo sát thủy vǎn bí mật ở Quần đảo Trường Sa), Nxb. Coronet Books Inc, 219 trang, 12/1999 [12].

Gạc Ma chính là nơi diễn ra xung đột quân sự tháng 3/1988. Lúc đó Trung Quốc trái phép xâm lược đảo, nổ súng làm 64 chiến sĩ và sĩ quan Việt Nam hy sinh, 9 người bị bắt và Trung Quốc chiếm đảo. Kể từ đó, Trung Quốc giữ quyền kiểm soát và từ nǎm 2014 đến nay đang cải tạo lớn, xây dựng sân bay, cảng, hình thành cǎn cứ quân sự ở thực thể địa lý này, gây nguy hại đến môi trường, vi phạm an ninh hàng hải và trật tự địa chính trị khu vực và thế giới. Với Gạc Ma, lịch sử gồm bốn nội dung lớn: 1) Quá trình khám phá của các nhà hải dương học phương Tây đối với đảo này từ đầu những nǎm 30 (thế kỷ XX); 2) Quá trình thực thi chủ quyền của Việt Nam trên đảo Gạc Ma; 3) Trung Quốc xâm lược Gạc Ma nǎm 1988; 4) Hành vi cải tạo phi pháp của Trung Quốc làm biến dạng thực thể địa lý tự nhiên này từ nǎm 1988, đặc biệt từ nǎm 2014 đến nay.

Xin được nhắc lại, khi Trung Quốc công bố video về những diễn biến đã diễn ra ngày 14/3/1988 tại Gạc Ma với mục đích rǎn đe, thì video này đã làm cả thế giới phẫn nộ. Nhìn lại toàn bộ lịch sử biển đảo Việt Nam, thì Gạc Ma nǎm 1988 là sự kiện bi thương nhất trong quá trình chiếm hữu, xác lập và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam từ xưa đến nay.

Chiến dịch của Trung Quốc đánh chiếm các đảo trên Quần đảo Trường Sa kéo dài đến ngày 6/4/1988 với việc Trung Quốc chiếm 6 nhóm đảo và đá ngầm gồm: 1) Gạc Ma (Johnson South Reef) ngày 14/3/1988; 2) Ðá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) ngày 1/1988; 3) Ðá Châu Viên (Cuarteron Reef) ngày 18/2/1988; 4) Ðá Ga Ven (Gaven Reef) nǎm 1988; 5) Ðá Xu Bi (Subi Reef) nǎm 1988; 6) Ðá Tư Nghĩa (Huy Gơ, Hughes Reef hay Hugh Reef) ngày 28/2/1988.

Vào tháng 2/1995, Trung Quốc chiếm thêm đá Vành Khǎn (Mischief Reef).

Tháng 6/2012, Trung Quốc chiếm thêm Bãi Cạn (Scarborough). Tại cả 8 thực thể này trên Quần đảo Trường Sa, từ nǎm 2014 Trung Quốc đều tiến hành những cải tạo cực lớn, làm biến đổi môi trường biển, hệ sinh thái và bố trí các cǎn cứ quân sự làm thay đổi trật tự địa chính trị Biển Ðông, vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế. Cả thế giới lo ngại.

Nghĩa là kể từ nǎm 1974, đối với Hoàng Sa và từ nǎm 1988 đối với một số thực thể trên Quần đảo Trường Sa, các yếu tố cấu thành chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên hai quần đảo này đã bị tước mất yếu tố vật chất (Corpus). Nhưng trên thực tế, chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này vẫn không bị gián đoạn do được đảm bảo bằng yếu tố tinh thần (Animus). Nhà nước Việt Nam trên tất cả các diễn đàn chính trị và pháp lý quốc tế vẫn liên tục có những biện pháp phản đối, lên án các hành vi vi phạm của phía Trung Quốc và tái khẳng định chủ quyền của mình. Các thực thể khác ở Quần đảo Trường Sa vẫn được Việt Nam bảo vệ vững chắc trong khuôn khổ của những quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS – United Nations Convention on Law of the Sea) nǎm 1982.

Nǎm 2014, Cơ quan Nghiên cứu Chiến lược Mỹ (CNA) đã công bố một báo cáo đặc biệt so sánh yêu sách của Việt Nam và của Trung Quốc về chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Ðông. Báo cáo có tiêu đề “Trung Quốc và Việt Nam: Phân tích các yêu sách đối lập về chủ quyền ở Biển Ðông”. Tác giả của Báo cáo là Raul (Pete) Pedrozo, Giáo sư Luật quốc tế Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ (US. Naval War College), Trợ lý đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ về chính sách. Người viết Lời tựa cho Báo cáo là Chuẩn Ðô đốc Michael McDevitt, Chuyên gia cấp cao về các vấn đề an ninh của Hoa Kỳ ở Ðông Á, người sáng lập Cơ quan Nghiên cứu Chiến lược của CNA. Trong Lời tựa, Báo cáo nhấn mạnh:

“Chủ quyền danh nghĩa của Việt Nam (Vietnam’s Title) đối với Hoàng Sa hoàn toàn có cơ sở cả về lịch sử và pháp lý. Từ đầu thế kỷ XVIII, Việt Nam đã thể hiện rõ mục tiêu trong việc bảo vệ chủ quyền đối với các đảo thông qua việc thành lập tổ chức được chính phủ bảo trợ để khai thác và quản lý tài nguyên trên quần đảo. Mục tiêu này được khẳng định bằng việc chiếm hữu (Annexation) các đảo và bằng các hành vi có ý nghĩa biểu tượng cho chủ quyền vào đầu thế kỷ XIX, sau đó là sự kiểm soát hòa bình, hiệu quả và lâu dài đối với các đảo bởi các vương triều Nguyễn kế tiếp nhau cho đến thời Pháp thuộc. Pháp tiếp tục quản lý có hiệu quả các đảo thay mặt cho Việt Nam chiếm hữu thực tế (Physically took Possession) và chiếm đóng (Occupied) Hoàng Sa vào những nǎm 30 của thế kỷ XX. Sau đó, Pháp tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa cho đến khi rời khỏi Ðông Dương nǎm 1956. Sau sự ra đi của người Pháp, miền Nam Việt Nam (và sau đó là Việt Nam thống nhất) thực sự cai trị các đảo và không bao giờ ngừng bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo, ngay cả sau khi Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp một phần quần đảo vào nǎm 1956 và toàn bộ quần đảo vào nǎm 1974.

Mặt khác, yêu sách đầu tiên về chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa đã không xảy ra trước nǎm 1909, sau hai thế kỷ Việt Nam đã thiết lập một cách hợp pháp và hiệu quả chủ quyền danh nghĩa của mình đối với các đảo. Hơn nữa, Trung Quốc chiếm đóng trái phép đảo Phú Lâm (Woody) vào nǎm 1956 và chiếm đóng toàn bộ quần đảo vào nǎm 1974, rõ ràng là vi phạm Ðiều 2 (4) của Hiến chương Liên hợp quốc và do đó không có chủ quyền danh nghĩa pháp lý minh bạch (Clear Legal Title) đối với Hoàng Sa.

Ðối với Trường Sa, Pháp thôn tính các hòn đảo vào những nǎm 30 của thế kỷ XX lúc còn là lãnh thổ vô chủ (Terra nyullius), vào thời điểm đó, chiếm đóng bằng vũ lục là một phương thức hợp lệ để giành chủ quyền về lãnh thổ. Vương quốc Anh, nước có kiểm soát một số đảo ở Trường Sa vào những năm 1800s, đã từ bỏ yêu sách của mình sau khi Pháp chiếm hữu và chiếm đóng có hiệu quả, do đó, chủ quyền danh nghĩa của Pháp đối với Trường Sa đã được thiết lập một cách hợp pháp và hợp lý. Chủ quyền danh nghĩa của Pháp đối với quần đảo này đã được trao lại cho Nam Việt Nam vào những năm 1950 và chính phủ Nam Việt Nam (và sau đó là một Việt Nam thống nhất) kiểm soát một cách hiệu quả và hòa bình các đảo cho đến khi Trung Hoa Dân quốc (ROC) xâm chiếm trái phép đảo Ba Bình (Itu Aba) vào năm 1956 và Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa (PRC) chiếm đóng trái phép một số đảo nhỏ thuộc quần đảo này vào năm 1988.

Sự chiếm đóng của Trung Hoa Dân quốc trên đảo Ba Bình vào năm 1946 và 1956, và cuộc xâm lăng của Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa đối với Trường Sa vào năm 1988, vi phạm Điều 2 (4) Hiến chương Liên Hợp Quốc và do vậy, không thể có chủ quyền danh nghĩa pháp lý minh bạch đối với Trường Sa, cho Đài Loan hoặc cho Trung Quốc (The ROC’s occupation of Itu Aba Island in 1946 and 1956, and the PRC’s invasion of the Spratlys in 1988, violate Article 2(4) of the UN Charter and cannot confer clear title to the Spratlys to either Taiwan or China).

Việc Trung Quốc thách thức chủ quyền của Việt Nam đối với Trường Sa từ năm 1951 đến 1988, các quyền đã được Pháp chuyển giao hợp pháp cho Việt Nam, tự nó đã không thể tạo ra một chủ quyền danh nghĩa minh bạch cho Trung Quốc” (The fact that China may have challenged Vietnamese sovereignty over the Spratlys between 1951 and 1988, rights that were legally ceded by France to Vietnam, does not in and of itself create a clear title for China” [13].

Trích dẫn quan điểm của các học giả nước ngoài nổi tiếng trong báo cáo trên, chúng tôi muốn tránh thái độ chủ quan khi nhìn nhận vấn đề. Có không ít các học giả quốc tế đã từng khẳng định, điều quan trọng đối với chủ quyền của Việt Nam trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là ở chỗ, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lục để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận chủ quyền. Nghị quyết của Ðại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 ghi rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dựng vũ lục trái với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thự đắc bởi một quốc gia khác do đe dọa sử dựng vũ lục hoặc sử dựng vũ lục. Bất kỳ sự thự đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dựng vũ lục hoặc sử dựng vũ lục đều là bất hợp pháp” (The territory of a State shall not be the object of military occupation resulting from the use of force in contravention of the provisions of the Charter. The territory of a State shall not be the object of acquisition by another State resulting from the threat or use of force. No territorial acquisition resulting from the threat or use of force shall be recognized as legal)[14].

(còn tiếp)

Bài viết được trích từ Chương 4, cuốn QUÁ TRÌNH XÁC LẬP VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THỜI THUỘC PHÁP của  GS.TS. Hồ Sĩ Quý (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), do Nxb. Khoa học xã hội xuất bản tại Hà nội, tháng 12/2025.

———————

[1] Bộ Ngoại giao (1988), Các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế (Sách Trắng), Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 5.

[2] Báo “Chính Luận” (Sài Gòn), số 2982, ngày 31/1/1974.

[3] Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1979, tr. 127-128.

[4] Bộ Ngoại giao (1988), Các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế, (Sách Trắng), Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 6.

[5] Xem: 1) BBC (2018), Hoàng Sa 1974: Chính phú Mỹ nói gì?, https://www.bbc. com/vietnamese/vietnam-42723441; 2) BBC (2011), Thái độ của Mỹ sau trận Hoàng Sa 1974, https://www.bbc.com/vietnamese/world/2011/10/111003_paracels_1974_documents; 3) Schuster, Carl O. (2017), Battle for Paracel Islands with U.S. troops gone from South Vietnam, China made a move at sea in 1974, and the ripple effects are still being felt, 4/19/2017, https://www.historynet. com/battle-paracel-islands/?f.

[6] Nguyễn Vǎn Hưởng (201đ), Phán xét: Các nước lón đã can thiệp vào chiến tranh Việt Nam như thế nào, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 478-479.

[7] Một số hoạt động cần thiết phải được liệt kê:

    • Ngày 5/4/1975, Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam đã triển khai kế hoạch tiếp quản Quần đảo Trường Sa.
    • Từ ngày 13 đến ngày 28/4/1975, các lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo có quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ, đồng thời triển khai lực lượng đóng giữ các đảo một số vị trí khác trong Quần đảo Trường Sa.
    • Ngày 5/6/1975, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    • Ngày 2/7/1976, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI (1976 – 1981), Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất được bầu vào ngày 25/4/1976, đã quyết định đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn toàn có nghĩa vụ, quyền hạn tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa.
    • Ngày 12/5/1977, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    • Ngày 28/9/1979, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố Sách Trắng: “Chủ quyền Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, trong đó đã giới thiệu 19 tài liệu liên quan đến chủ quyền Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    • Tháng 12/1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách Trắng “Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”.
    • Ngày 12/11/1982, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố về hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam.
    • Tháng 12/1982, huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Ðà Nẵng được thành lập.
    • Ngày 9/12/1982, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 193-HÐBT thành lập huyện Trường Sa thuộc tỉnh Ðồng Nai. Ngày 11/12/1982, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 194-HÐBT thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Ðà Nẵng.
    • Ngày 28/12/1982, Quốc hội khóa VII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra nghị quyết sáp nhập huyện Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh.
    • Từ ngày 23/1/1997 theo Nghị định số 07/1997/NÐ-CP của Chính phủ, huyện đảo Hoàng Sa thuộc Ðà Nẵng; theo đó, huyện Hoàng Sa có diện tích: 305km2, chiếm 23,76% diện tích thành phố Ðà Nẵng, với địa giới bao gồm một quần đảo có tên gọi là Quần đảo Hoàng Sa với các đảo san hô nằm cách đất liền khoảng 170 hải lý (315km). Huyện bao gồm các đảo: đảo Hoàng Sa, đảo Ðá Bắc, đảo Hữu Nhật, đảo Ðá Lồi, đảo Bạch Quy, đảo Tri Tôn, đảo Cây, đảo Bắc, đảo Giữa, đảo Nam, đảo Phú Lâm, đảo Linh Côn, đảo Quang Hòa, cồn Bông Bay, cồn Quan Sát, cồn cát Tây, đá Chim Yến, đá Tháp.
    • Ngày 11/4/2007, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Nghị định số đ5-NÐ/CP quyết định thành lập 3 đơn vị hành chính trực thuộc huyện Trường Sa: 1) Thị trấn Trường Sa, gồm đảo Trường Sa Lớn và phụ cận; 2) Xã Song Tử Tây, gồm đảo Song Tử Tây và phụ cận; 3) Xã Sinh Tồn, gồm đảo Sinh Tồn và phụ cận.
    • Nǎm 1988, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã huy động lực lượng vũ trang đánh chiếm các bãi cạn phía tây bắc Quần đảo Trường Sa. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông báo cho Liên hợp quốc và gửi các công hàm tố cáo và phản đối Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đánh chiếm các bãi cạn thuộc Quần đảo Trường Sa: Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Tn Nghĩa, Gạc Ma, Xu
    • Tháng 4/1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố Sách Trắng “Các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế”.
    • Ngày 1/7/1989, tỉnh Phú Khánh được tách làm hai tỉnh: Phú Yên và Khánh Hòa, huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa.
    • Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển nǎm 1982.
    • Ngày 1/1/1997, Ðà Nẵng tách khỏi tỉnh Quảng Nam – Ðà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc thành phố Ðà Nẵng.
    • Ngày 25/4/2009, thành phố Ðà Nẵng công bố quyết định bổ nhiệm ông Ðặng Công Ngữ giữ chức Chủ tịch UBND huyện Hoàng
    • Ngày 9/2/2007, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa X) ra Nghị quyết số 09-NQ/TW công bố “Chiến lược Biển Việt Nam”.
    • Ngày 21/6/2012, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật số: 18/2012/ QH13 “Luật Biển Việt Nam”.
    • Ngày 25/đ/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật số: 82/2015/ QH13 “Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Việt Nam”.
    • Ngày 6/2/2020, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 203/QÐ-TTg về việc “Thành lập Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến nǎm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”
    • Ngày 26/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 89đ/QÐ-TTg về “Chương trình tǎng cường nǎng lục và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến nǎm 2030”.
    • Ngày 24/11/2021, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 31/CT-TTg về “Ðổi mới và tǎng cường tổ chức thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến nǎm 2030”.
    • Ngày 16/6/2022, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 729/QÐ-TTg về “Chương trình truyền thông về biển và đại dương đến nǎm 2030”.
    • Ngày 25/11/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật số: 95/2015/ QH13 “Bộ luật Hàng hải Việt Nam”.
    • Ngày 21/11/2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật số: 18/2017/ QH14 “Luật Thuỷ sản”.
    • Ngày 22/10/2018, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XII ra Nghị quyết số 3đ-NQ/TW về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến nǎm 2030, tầm nhìn đến nǎm 2045”.
    • Ngày 6/2/2020, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 203/QÐ-TTg về việc “Thành lập Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến nǎm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
    • Ngày 26/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 89đ/QÐ-TTg về “Chương trình tǎng cường nǎng lục và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến nǎm 2030”.
    • Ngày 24/11/2021, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 31/CT-TTg về “Ðổi mới và tǎng cường tổ chức thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến nǎm 2030”.
    • Ngày 16/6/2022, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 729/QÐ-TTg về “Chương trình truyền thông về biển và đại dương đến nǎm 2030”.

[8] Theo thông tin của Tổ chức “Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á” (AMTI – Asia Maritime Transparency Initiative, một tổ chức chuyên nghiên cứu chiến lược và thực trạng biển châu Á, thuộc CSIS, Mỹ), thì đến nay (2024), Việt Nam đã chiếm giữ từ 49 đến 51 vị trí đồn trú trải rộng trên 27 thực thể ở Biển Ðông (hiện có hai dự án đang được xây dựng trên bãi đá Cornwallis South Reef). Các cơ sở đó được xây dựng trên 21 bãi đá và rạn san hô ở Quần đảo Trường Sa, cùng với 14 giàn khoan biệt lập được gọi là “Trạm dịch vụ kinh tế, khoa học và công nghệ” (hay DK), tại 6 vị trí (underwater banks) biển phía Ðông Nam mà Việt Nam không xem là có tranh chấp (trong khi Trung Quốc và Ðài Loan thì xem là một phần của chuỗi đảo tranh chấp). Xem: Amti (2014), Vietnam island tracker, https://amti.csis.org/ island-tracker/vietnam/. Cũng mục này, trang tiếng Việt của Amti thì viết rằng: “Việt Nam đã tiến hành cải tạo tại 10 đá ngầm và đảo nhỏ mà Việt Nam giữ quyền kiểm soát trước chiến dịch xây dựng đảo của Trung Quốc. Tổng cộng, Việt Nam đã cải tạo hơn 120 mẫu đất mới tại những thực thể này. Ngoài việc chỉ thực hiện chưa đến 4% so với quy mô hoạt động cải tạo của Trung Quốc, các phương pháp mà Việt Nam sử dựng ít mang tính hủy hoại hơn nhiều” (Xem: 1) Amti (2024), Việt Nam island tracker, https://amti. csis.org/island-tracker/vietnamese-occupied-features-vi/?lang=vi); 2) Amti (2023), Vietnam ramps up spratly island dredging, https://s.net.vn/RBEi).

[9] Xem: Hancox, David and Victor Prescott (1995), A Geographical Description of the Spratly Islands and an Account of Hydrographic Surveys Amongst Those Islands, “Maritimes Briefing”, ISBN 1-897643-18-7 1995. Volume 1, Number 6. file:///Users/Mac/Downloads/mb_1-6%20(1).pdf

[10] Xem: Công vǎn mật Pháp – Anh nǎm 1937 khẳng định, Trung Quốc vào nǎm 1899 đã thừa nhận Hoàng Sa không phải là của Trung Quốc, http:// www.nghiencuubiendong.vn/component/tag/b%E1%BA%B1ng%20ch%E1%BB%A9ng.

[11] Xem: Hancox, David and Victor Prescott (1995), A Geographical Description of the…, Sđd.

[12] Xem: Hancox, David and Victor Prescott (1999), Secret Hydrographic Surveys in the Spratly Islands, Nxb. Coronet Books Inc, 219 cc.

[13] Pedrozo, Raul (Pete) (2014). A CNA Occasional Paper China versus Vietnam: An Analysis of the Competing Claims in the South China Sea. 2014. https://www.cna.org/cna_files/pdf/IOP-2014-U-008433.pdf).

[14] UN (1970), Declaration on Principles of International Law Concerning Friendly Relations and Cooperation among States in accordance with the Charter of the United Nations, G.A. res. 2đ25, Annex, 25 UN GAOR, Supp. (No. 28), U.N. Doc. A/5217 at 121 (1970), http://hrlibrary.umn.edu/instree/principles1970.html.