Hoàng Sa và Trường Sa sau Chiến tranh Thế giới thứ hai (P4)

Tác giả: Hồ Sĩ Quý

Xem thêm: Phần 1Phần 2; Phần 3

KẾT LUẬN

1. Trong lịch sử Biển Đông, trước năm 1838, các vương triều phong kiến Việt Nam và cả các nhà thám hiểm phương Tây đều chỉ biết ngoài khơi Biển Đông có một vùng quần đảo nửa chìm nửa nổi mênh mông trải dài từ bắc xuống nam mà Việt Nam gọi là Vạn Lý Trường Sa, bao gồm cả Quần đảo Hoàng Sa đã được biết đến và dựng bia chủ quyền năm 1816.

Mãi đến những năm 30 của thế kỷ XIX, Vua Minh Mạng với sự tham khảo kiến thức hàng hải phương Tây mới nhận ra diện mạo địa lý của Quần đảo Trường Sa.

Đại Nam nhất thống toàn đồ năm 1838 là bản đồ hành chính đầu tiên của triều Nguyễn và của Việt Nam (cũng là của thế giới) thể hiện rõ hiểu biết tường tận về hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bản đồ này có tọa độ địa lý mô phỏng thực địa, thể hiện rõ hai địa danh “Hoàng Sa” và “Vạn Lý Trường Sa”. Về mặt pháp lý, việc công bố bản đồ này, đã khẳng định rõ lập trường của nhà Nguyễn về chủ quyền biển đảo Việt Nam.

Cùng với các căn cứ pháp lý và lịch sử khác, bản đồ 1838 cũng là một cơ sở pháp lý vững chắc để người Pháp kế thừa và bảo vệ chủ quyền của nước mà Pháp có nghĩa vụ bảo hộ, đặc biệt từ sau khi ký Hiệp ước Patenôtre (Hoà ước Giáp Thân) với triều đình Huế năm 1884.

2. Giai đoạn Việt Nam thuộc Pháp – về mặt danh nghĩa là từ năm 1858 đến năm 1945, nhưng thực tế, trước đó hàng thế kỷ và sau đó hàng chục năm, người Pháp vẫn có ảnh hưởng rất lớn đối với lịch sử Việt Nam và đối với chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa. Năm 1950, Chính phủ Pháp mới trao lại toàn quyền quản lý hai quần đảo này cho Việt Nam[1].

Mặc dù Pháp đã công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia tự do (État Libre) trong khối Liên hiệp Pháp theo Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946[2], nhưng ngày 8/3/1949 Chính phủ Pháp lại ký Hiệp ước Élysee, thành lập chính quyền “Quốc gia Việt Nam” với tư cách là “quốc gia độc lập” (État Indépendance) cũng thuộc khối Liên hiệp Pháp; Bảo Đại là Quốc trưởng[3]. Để chuẩn bị cho việc từ bỏ vai trò cai trị ở Đông Dương, Pháp thu xếp chuyển giao quyền quản lý hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường sa cho chính quyền Bảo Đại.

Ngày 14/10/1950, Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ “Quốc gia Việt Nam” quyền quản lý toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chấm dứt chế độ bảo hộ của nước Pháp đối với hai quần đảo này. Tướng Phan Văn Giáo, Thủ hiến Trung phần Việt Nam lúc bấy giờ đã trực tiếp có mặt tại Hoàng Sa chủ tọa việc tiếp nhận. Cuộc chuyển giao chủ quyền hai quần đảo được mô tả là rất trang trọng, đúng nghi thức của việc chuyển giao giữa hai quốc gia và quan trọng hơn, đúng các chuẩn mực của luật pháp quốc tế.

Sự kiện này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các thế hệ người Việt kế tiếp. Bởi từ đây, người Việt Nam chính thức quản lý toàn bộ chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, kế tục truyền thống mà các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đã khởi lập từ xưa.

3. Trong giai đoạn Việt Nam thuộc Pháp, Chính phủ Pháp và các vương triều phong kiến An Nam đã thực thi nhiều hoạt động kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, pháp lý… rất thiết thực để củng cố chủ quyền tại Hoàng Sa và chiếm hữu thực tế, tuyên bố chủ quyền, phân vùng các cụm đảo và thiết lập chế độ đồn trú tại một số đảo ở Trường Sa.

Từ năm 1930 đến năm 1933, chính quyền Pháp thuộc địa đã hoàn tất việc chiếm lĩnh và tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ Trường Sa, như ngày nay thế giới được biết [4].

Những hoạt động này đã được chính quyền Pháp chính thức ra thông báo quốc tế ngày 19/7/1933, (đăng trên Công báo nước Cộng hòa Pháp ngày 26/7/1933) tuyên bố về chủ quyền ở Trường Sa: “Chủ quyền các đảo nói trên và các đảo phụ thuộc từng đảo này, từ nay trở đi thuộc về nước Pháp” (Les îles et îlost susindiqués relèvent désormais de la souveraiineté française)[5]. Kèm theo danh sách liệt kê tên, tọa độ các cụm đảo, phân loại toàn bộ Quần đảo Trường Sa thành 6 cụm đảo cùng với thời điểm chiếm lĩnh và tuyên bố chủ quyền: Trường Sa Lớn – ngày 13/4/1930; các đảo An Bang, Ba Bình, Nhóm Song Tử gồm Song Tử Đông và Song Tử Tây, Loại Ta và Thị Tứ – được chiếm lĩnh và tuyên bố chủ quyền từ ngày 7/4/1933 đến ngày 12/4/1933.

Đây là sự kiện có ý nghĩa lớn đối với chủ quyền Trường Sa trong công pháp quốc tế.

Nghĩa là, lần đầu tiên trong lịch sử Biển Đông, Quần đảo Trường Sa được chiếm hữu chính thức theo nghi thức quốc tế, được tuyên bố về mặt pháp lý và ngoại giao với các bên có liên quan và với thế giới. Trước đó, người Anh cũng đã từng nghiên cứu ở đây, người Trung Quốc, người Nhật, người Philippines… đôi khi cũng đã từng đánh cá, buôn bán, trú bão… Nhưng trước năm 1930 và 1933 chưa có bất cứ quốc gia nào thực hiện hành vi chiếm hữu, đặt chủ quyền theo nghi thức quốc tế, như nước Pháp đã thực hiện. Tài liệu giải mật của CIA công bố năm 2012 cũng ghi nhận sự kiện này[6].

4. Ngày nay, vấn đề chủ quyền trên Biển Đông đã được quan niệm và ứng xử quốc tế ít nhiều khác với những năm đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, việc người Pháp phân loại toàn bộ Trường Sa và lần lượt khẳng định chủ quyền của mình với toàn bộ các cụm đảo, đến nay vẫn là tiền đề có cơ sở khoa học quan trọng để Việt Nam phân chia các đảo ở Quần đảo Trường Sa thành 8 cụm đảo phục vụ việc quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên quần đảo.

Hiện nay có 6 quốc gia/vùng lãnh thổ có yêu sách đối với Quần đảo Trường Sa, trong đó Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan có yêu sách đối với toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa và toàn bộ Quần đảo Trường Sa. Nhưng ngoài Việt Nam, không một quốc gia nào có căn cứ lịch sử và pháp lý tin cậy và có sức thuyết phục như việc phân chia toàn bộ Trường Sa thành 6 cụm đảo vào năm 1933 như Việt Nam. Hơn thế nữa, trong hồ sơ ngoại giao quốc tế và các nước có liên quan, ngay từ ngày 23/9/1930, văn bản Thông cáo ngoại giao của Toàn quyền Đông Dương đã được gửi đến, ghi rõ rằng “Từ ngày 13/4/1930 nước Pháp đã chính thức đặt chủ quyền của An Nam đối với Quần đảo Trường Sa (An Nam’s sovereignty over Spratlys islands) dưới sự bảo hộ của Pháp”.

5. Cũng không nên quên rằng, khi nói Việt Nam có yêu sách đối với toàn bộ Hoàng Sa và Trường Sa, thì trên thực tế gồm hai nhóm các yêu sách đã gửi Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế: 1) Yêu sách về chủ quyền lãnh thổ đối với Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và 2) Yêu sách biển đối với các vùng biển và thềm lục địa tạo ra từ đất liền Việt Nam và các đảo ở hai quần đảo này (Hồ sơ của Việt Nam về Ranh giới thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý ở khu vực giữa Biển Đông đệ trình Ủy ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc (CLCS) ngày 17/7/2024, là thuộc loại yêu sách này). Các chính khách, các nhà ngoại giao, các chuyên gia Việt Nam và quốc tế hiểu rất rõ, đối với yêu sách về chủ quyền thì luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ (Territorial Acquisition) là căn cứ pháp lý. Còn đối với yêu sách về biển thì Luật Biển quốc tế, trong đó có UNCLOS năm 1982 là căn cứ pháp lý.

6. Trong số các hoạt động bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa thời Pháp thuộc, công lao của Tuần báo L’Éveil Économique de l’Indochine và chủ bút Henri Cucheroussset là điều không được phép quên lãng. Chính là nhờ tiếng nói của tờ báo này mà thái độ của Phủ Toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội và Chính phủ Pháp ở Paris từ những năm 20 thế kỷ XX đã trở nên tích cực hơn đối với vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam.

Với Trường Sa, năm 1922 Viện Hải dương học Nha Trang được thành lập, cũng là một sự kiện có ý nghĩa. Việc nghiên cứu diện mạo địa chất, chế độ gió mùa, các điều kiện hải dương học… của các nhà khoa học Pháp cùng một số công chức người Việt đã thúc đẩy chính quyền thuộc địa Pháp củng cố chủ quyền ở Hoàng Sa và chiếm lĩnh thực tế, phân vùng và tuyên bố chủ quyền chi tiết trên từng cụm đảo ở Trường Sa. Việc xác định chủ quyền của Việt Nam ở Trường Sa trước công pháp quốc tế được đẩy mạnh từ giữa những năm 20 thế kỷ XX.

7. Thái độ của Nhật Bản về Hoàng Sa, Trường Sa đầu thế kỷ XX chủ yếu chỉ là những tham vọng về mặt kinh tế ở các nhà buôn người Nhật. Đến năm 1938, khi đã đi với phe Phát xít, Nhật Bản mới bất chấp sự phản đối của Pháp, chiếm các đảo nằm ngoài khơi Đông Dương làm bàn đạp chiếm đóng đảo và lãnh thổ các nước ở châu Á. Hoàng Sa và Trường Sa trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, bị Nhật Bản tuyên bố là lãnh thổ của Nhật Bản, nhưng đều bị Pháp phản đối về phương diện ngoại giao và pháp lý. Sau khi thua trận, ngày 26/8/1945, quân đội quân phiệt Nhật đã rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong hoàn cảnh lịch sử phức tạp thời hậu chiến, Pháp đưa quân quay trở lại Hoàng Sa và Trường Sa.

8. Còn với Trung Quốc, suốt chiều dài lịch sử trước năm 1909, Trung Quốc đã nhiều lần thừa nhận chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa. Ý đồ chiếm hữu phi pháp của Trung Quốc chỉ xuất hiện từ năm 1909 (khi Lý Chuẩn, một đô đốc của Lưỡng Quảng lý khai, đổ bộ không quá 24 giờ lên đảo Phú Lâm thuộc Quần đảo Hoàng Sa) và bắt đầu về phương diện ngoại giao từ năm 1921 (khi thống đốc dân sự tỉnh Quảng Đông ký công lệnh coi Hoàng Sa là thuộc Nhai huyện, Hải Nam). Mỗi lần Trung Quốc hoặc Nhật Bản có ý định thực hiện những tham vọng ở Biển Đông, chính quyền Pháp và các vương triều phong kiến Việt Nam đều tỏ thái độ đủ kiên quyết và có những công cụ pháp lý và chính trị xử lý các tình huống hiệu quả.

Lần đầu tiên Trung Quốc thực sự xâm chiếm Trường Sa là vào tháng 1/1946 (trên đảo Ba Bình) và Hoàng Sa là vào ngày 26/6/1946 (trên đảo Phú Lâm), lấy lý do là để giải giáp quân đội Nhật căn cứ vào Tuyên bố của Hội nghị Cairo và Potsdam. Thế lực của Pháp ở Đông Dương lúc đó đã không còn như trước.

Nhưng cũng đầu năm 1946, Pháp đã đặt bia chủ quyền ở Ba Bình (Trường Sa) và tháng 6/1946, đã khôi phục quân đồn trú tại nhóm đảo An Vĩnh (Hoàng Sa). Ngày 17/1/1947, tức là mười ngày sau khi Trung Quốc (lúc bấy giờ là Trung Hoa Dân Quốc) tuyên bố đã chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa (nhưng thực ra mới chỉ chiếm được đảo Phú Lâm), Cao ủy D’Argenlieu đã cử pháo hạm Le Tonkinois cùng với một số ca nô đổ bộ lên đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc cụm Nguyệt Thiềm, phía tây quần đảo, cách Phú Lâm chừng hơn 45 hải lý. Tại đây, Pháp khôi phục lại chế độ đồn trú, hoạt động khí tượng thủy văn, hàng hải và nghiên cứu khoa học… cho mãi đến khi Trung Hoa đại lục cưỡng chiếm bằng quân sự gây đổ máu vào tháng 1/1974.

Tháng 4/1950, sau khi thua trận chạy ra Đài Loan, quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Phú Lâm và đảo Ba Bình. Với Pháp lúc đó, mặc dù khả năng kết thúc chế độ thuộc địa đã là một thực tế rất cận kề, nhưng các trạm đồn trú của Pháp vẫn tiếp tục duy trì ở Hoàng Sa được mô tả là khá chính quy.

Bảy năm sau, Trung Quốc đại lục (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) mới bí mật chiếm đóng đảo Phú Lâm vào đêm 20 rạng ngày 21/2/1956. Và, mãi tới năm 1974 Trung Quốc mới thực sự chiếm được Hoàng Sa trong trận hải chiến làm 64 sĩ quan và chiến sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa hy sinh; năm 1988 mới lần đầu tiên đặt chân được đến Trường Sa bằng cuộc chiến xâm lược lên đảo Gạc Ma làm 74 sĩ quan và chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh.

9. Không phải ngay từ đầu và cũng không phải mọi quan chức Pháp có trọng trách ở Đông Dương đều hiểu rõ lịch sử, ý nghĩa to lớn và có thái độ hợp lý với chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa (như Báo Eveil Economique ngày 30/12/1928 đã phản ánh). Nhưng kể từ khi Vương triều Gia Long đặt bia chủ quyền tại Hoàng Sa vào năm 1816 đến tận khi kết thúc chế độ thực dân ở Việt Nam, Chính quyền Pháp tại Hà Nội đã luôn có ý thức rõ rệt về chủ quyền biển đảo Việt Nam, trước những tham vọng lớn hoặc nhỏ của người Trung Quốc và người Nhật Bản và phần nào đó là của người Anh.

Trên Quần đảo Hoàng Sa, trong suốt thời kỳ thuộc Pháp, các hoạt động thể hiện chủ quyền được thực thi liên tục và rất có hiệu quả. Đơn vị hành chính của từng địa phương (cụm đảo Nguyệt Thiềm, cụm đảo An Vĩnh) thuộc quần đảo được thiết lập và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình. Vị trí hành chính của Quần đảo Hoàng Sa trong khu vực Trung Kỳ được xác định từ năm 1933 là đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bà Rịa để quản lý. Chế độ công chức, quân đội đồn trú cùng với các chế độ tài chính, lương bổng, thưởng phạt… được thực thi ở tầm quốc gia. Chế độ thuế, khai thác tài nguyên, quan hệ với ngư dân các nước… được duy trì và kiểm soát. Các trạm khí tượng thiên văn và các trạm hải đăng… được xây dựng với trình độ khu vực và quốc tế trên đảo Boisée (Phú Lâm) và trên đảo Pattle (Hoàng Sa). Tại Hoàng Sa, chùa do Vua Minh Mạng xây năm 1835 được tu bổ và tôn tạo; trường học, khu vực dân cư, khu công chức… cũng được chú ý xây dựng, mặc dù cư dân không đông.

Bia chủ quyền của Cộng hòa Pháp và Vương quốc An Nam tại Hoàng Sa được đặt lần thứ hai vào năm 1938.

Tại Hoàng Sa, các vụ tranh chấp lớn và nhỏ về những vấn đề cụ thể và cả về vấn đề “Quốc tịch” của Hoàng Sa (chữ dùng của các quan chức Pháp tại Hà Nội thời đó) với Trung Quốc đều được xử lý thỏa đáng. Hai lần chính quyền Pháp đã yêu cầu Trung Quốc cùng đệ đơn ra trọng tài quốc tế. Nhưng Trung Quốc luôn từ chối. Hoàng Sa chỉ bị mất về tay Nhật Bản trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ hai (từ năm 1938 đến năm 1946) khi bản thân nước Pháp cũng bị Phát xít Đức đô hộ. Nhưng ngay cả trong khi quyền lực của Pháp ở Việt Nam bị lung lay những năm 1945 – 1950, chính quyền Pháp vẫn chú ý tích cực đến vấn đề chủ quyền. Tình huống đảo Phú Lâm bị xâm hại bởi Trung Hoa Dân Quốc và sự đấu tranh quyết liệt của chính quyền Pháp những năm 1946 – 1947 với sự có mặt của pháo hạm Le Tonkinois tại Hoàng Sa, trong lúc đang có chiến tranh tại Bắc Việt Nam, là thể hiện rõ nhất thái độ và lập trường của Pháp.

Về mặt pháp lý chưa bao giờ người Pháp từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa.

10. Ngày 7/9/1951, tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ “Quốc gia Việt Nam” đã long trọng tuyên bố trước thế giới, “chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên hai Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” và nói rõ đây là “cơ hội để dập tắt các mầm mống tranh chấp sau này”. Kết thúc hội nghị là việc ký kết Hòa ước với Nhật ngày 8/9/1951.

Trong hòa ước này, ở Điều 2, đoạn F, ghi rõ: “Nhật Bản khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với các Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. 50 phái đoàn yên lặng nghe lời tuyên bố của Việt Nam, không một quốc gia nào phản đối. Tuyên bố của Việt Nam hiện vẫn được lưu giữ tại Hồ sơ ngoại giao của các quốc gia tham dự Hội nghị San Francissco năm 1951 và tại các trung tâm thông tin lớn trên thế giới. Trung Quốc đại lục sau đó mới phản ứng bằng cách bảo lưu yêu sách của họ qua tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao Chu Ân Lai ngày 15/8/1951. Nhưng ở Đài Bắc, Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch, người đã đặt bút ký trong Tuyên bố Cairo năm 1943, lại không có phản ứng gì; vì Hội nghị San Francisco đã tuân thủ đúng những điều mà Hội nghị Cairo năm 1943 đã ký – Món quà hậu chiến của Trung Quốc chỉ có Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, không thể có Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ chưa bao giờ thuộc về Trung Quốc (Khoản 8 của Tuyên bố Cairo năm 1943 được trích lại rõ ở Tuyên ngôn Potsdam. Không có dòng chữ nào nói rằng các Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa sẽ được trả cho Trung Quốc như gần đây Trung Quốc giải thích). Lúc đó, đa số các nước vẫn công nhận Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch là đại diện chính thức cho Trung Quốc.

Nghĩa là, trên thực tế, cộng đồng thế giới đã biểu thị sự đồng thuận với lập trường của Việt Nam – một lần nữa Hoàng Sa, Trường Sa đã được tuyên bố thuộc chủ quyền không tranh chấp của Việt Nam.

11. Lịch sử của việc thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa thời thuộc Pháp là lịch sử của quá trình nước Pháp công nhận và chịu trách nhiệm kế thừa các triều đại phong kiến Việt Nam, thực thi và củng cố hiệu quả hơn chủ quyền của Việt Nam ở hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo Điều 2 (4) Hiến chương Liên hợp quốc, sự chiếm đóng trái phép của Trung Hoa Dân Quốc (từ năm 1956 trên đảo Ba Bình – Itu Aba, Quần đảo Trường Sa) và của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (từ năm 1956 trên đảo Phú Lâm – Woody, Quần đảo Hoàng Sa; từ năm 1974 trên toàn bộ Hoàng Sa; và từ năm 1988 và 1995 đối với 7 thực thể khác thuộc Quần đảo Trường Sa), không thể làm mất đi chủ quyền danh nghĩa của Việt Nam đối với toàn bộ hai quần đảo này. Sự chiếm đóng thực tế nhưng phi pháp (Illegall Corpus Occupandi) không thể thay thế yếu tố tinh thần (Animus) trong sự thụ đắc lãnh thổ (Territorial Acquisition) để tạo thành chủ quyền danh nghĩa công pháp (Title of Legal Clear Sovereignty).

Lịch sử này là tường minh và đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của công pháp quốc tế.

Bài viết được trích từ cuốn QUÁ TRÌNH XÁC LẬP VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA THỜI THUỘC PHÁP của  GS.TS. Hồ Sĩ Quý (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), do Nxb. Khoa học xã hội xuất bản tại Hà nội, tháng 12/2025.

——————

[1] Ngay từ cuối thế kỷ XVIII, Chúa Nguyễn Ánh với số phận lịch sử đặc biệt của mình, đã có quan hệ mật thiết với nhiều người Pháp, đặc biệt là với Pigneau de Béhaine (tên Việt là Bá Đa Lộc, 1741 – 1799), Jean- Baptiste Chaigneau (tên Việt là Nguyễn Văn Thắng, 1769 – 1832), anh em Jean-Marie Dayot (tên Việt là Nguyễn Văn Trí, 1759 – 1809) và Fe’lix Dayot (1761 – 1821), Philippe Vannier (tên Việt là Nguyễn Văn Chấn, 1762 – 1842), Godefroy de Forçant (tên Việt là Lê Văn Lăng, mất năm 1809) – những người đã trực tiếp giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, cũng là những người rất am hiểu hàng hải, hải quân và vai trò của việc chiếm lĩnh biển đảo đối với mỗi quốc gia. Tầm nhìn và những phán quyết sáng suốt của Nguyễn Ánh – Gia Long trong các hoạt động có liên quan đến chiếm hữu, quản lý và bảo vệ chủ quyền biển đảo chắc chắn chịu ảnh hưởng từ những người này. Xem: Thuỵ Khuê (2017), Vua Gia Long và người Pháp, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội (Chương 3: Tóm tắt giai đoạn lịch sử 1777 – 1802).

[2] Điều 1. của Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946: Chính phủ Pháp công nhận Cộng hòa Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, Quốc hội, quân đội và ngân sách nhà nước riêng, là một phần của Liên bang Đông Dương và Liên bang Pháp, và cam kết phê chuẩn các quyết định được đưa ra bởi cuộc trưng cầu dân ý. (Un accord a été signé à Hanoï entre la France et le Viêt-Nam. (Le gouvernement français reconnaît la République du Viêt-Nam comme un État libre, ayant son gouvernement, son Parlement, son armée et ses financée, faisant partie de la Fédération Indochinoise et de l’Union française, et s’engage à entériner les décisions prises par les populations consultées par référendum). https://www.lemonde.fr/archives/article/1946/03/09/un-accord-a-ete-signe-a-hanoi-entre-la-france-et-le-viet-nam_3142301_1819218.html).

[3] Hiệp định Pháp – Việt 8/3/1949 (Accords de l’Elysée). https://nghiencuulichsu.com/2014/06/16/hiep-dinh-phap-viet-ngay-8-thang-3-nam-1949-hiep-dinh-elysee/

[4]  Xem: Chemillier – Gendreau, Monique (1998), Chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Sđd, tr. 203.

[5] Ministere des Affaires Étrangéres, Journal officiel de la République Francaise, 26 Juillet 1933, page 7837, https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k6546979v/ f25.item.zoom (Thư viện số Thư viện Quốc gia Pháp).

[6] CIA (2012), Sovereignty Claims in the South China Sea (Declassified and Approved For Release 2012/12/12: cia-rdp08c01297r000300180010-1), https://www.cia. gov/readingroom/docs/cia-rdp08c01297r000300180010-1.pdf.