Mỹ vẫn “nghiện” chiến tranh?

Nguồn: Stephen M. Walt, “The United States Is Still Addicted to War”, Foreign Policy, 02/03/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Bất kể họ nói gì, các tổng thống Mỹ dường như luôn thấy mình không thể cưỡng lại việc lao vào chiến tranh. Trở lại năm 1992, Bill Clinton thắng cử nhờ khẩu hiệu “vấn đề nằm ở kinh tế, đồ ngốc” và tuyên bố kỷ nguyên của chính trị cường quyền đã kết thúc. Thế nhưng, vừa nhậm chức, ông đã liên tục ra lệnh không kích nhiều quốc gia, duy trì các vùng cấm bay ở Iraq (và thỉnh thoảng ném bom nơi này), đồng thời phát động một chiến dịch không kích kéo dài vào Serbia năm 1999.

Năm 2000, George W. Bush bước chân vào Nhà Trắng bằng việc chỉ trích chính sách đối ngoại quá đà của Clinton, hứa hẹn với cử tri một nền ngoại giao mạnh mẽ nhưng “khiêm nhường”. Kết quả thế nào chúng ta đều đã rõ. Tám năm sau, một nghị sĩ trẻ tên Barack Obama đắc cử tổng thống, phần lớn nhờ vào việc ông là một trong số ít người thuộc đảng Dân chủ phản đối cuộc xâm lược Iraq năm 2003. Chỉ trong vòng một năm nhậm chức, ông đã nhận được giải Nobel Hòa bình mà bản thân chưa làm gì để xứng đáng, đơn giản vì người ta tin ông sẽ là một sứ giả hòa bình tận tụy. Obama thực sự đã nỗ lực trong một số vấn đề và cuối cùng đạt được thỏa thuận thu hẹp chương trình hạt nhân của Iran, nhưng ông cũng đã ra lệnh “tăng quân” một cách vô nghĩa ở Afghanistan, tiếp tay lật đổ chế độ Libya năm 2011, và ngày càng lạm dụng các đòn không kích bằng drone cùng các vụ ám sát có mục tiêu. Khi nhiệm kỳ hai kết thúc, Mỹ vẫn đang sa lầy tại Afghanistan mà chẳng thấy chiến thắng ở đâu.

Rồi đến lượt Donald Trump, một doanh nhân tầm thường và ngôi sao truyền hình thực tế, tranh cử vào năm 2016 với lời lẽ đanh thép lên án các “cuộc chiến không hồi kết”, công kích giới hoạch định chính sách đối ngoại và thề sẽ đặt “Nước Mỹ trên hết”. Sau chiến thắng bất ngờ, ông cũng lại tuyên bố tăng quân tạm thời ở Afghanistan, đẩy mạnh cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, ra lệnh ám sát một tướng cấp cao của Iran và liên tục tăng ngân sách quân sự. Trump không khơi mào cuộc chiến mới nào trong nhiệm kỳ đầu, nhưng ông cũng chẳng kết thúc được cuộc chiến nào.

Joe Biden thực sự đã chấm dứt một cuộc chiến khi đặt dấu chấm hết cho chiến dịch vô vọng tại Afghanistan, để rồi bị chỉ trích dữ dội vì dám nhìn thẳng vào thực tế mà các tiền bối đã lờ đi. Biden đã dẫn dắt một phản ứng quyết liệt của phương Tây trước cuộc xâm lược Ukraine của Nga năm 2022, nhưng đa số giới quan sát đã quên mất rằng những nỗ lực trước đó của ông nhằm lôi kéo Ukraine vào đường lối phương Tây lại khiến chiến tranh dễ xảy ra hơn. Sau khi ngó lơ vấn đề Palestine trong hai năm đầu, Biden lại cung cấp hàng tỷ USD vũ khí và lá chắn ngoại giao cho phản ứng tàn khốc của Israel sau vụ tấn công của Hamas vào tháng 10 năm 2023.

Những sai lầm của Biden (cùng sự ngoan cố bám trụ quyền lực của ông) đã dọn đường cho Trump trở lại Phòng Bầu dục, một lần nữa với lời hứa trở thành vị tổng thống của hòa bình, chấm dứt chủ nghĩa can thiệp liên miên đã ngốn của người Mỹ hàng nghìn tỷ USD và hàng ngàn sinh mạng. Nhưng thay vì một sự đoạn tuyệt mạnh mẽ với quá khứ, Trump nhiệm kỳ 2.0 hóa ra còn động tay động chân hơn cả những người tiền nhiệm mà ông từng chế nhạo. Chỉ trong năm đầu tiên trở lại, Mỹ đã ném bom ít nhất bảy quốc gia, ráo riết tiêu diệt các thủy thủ đoàn ở Caribe và Thái Bình Dương chỉ vì nghi ngờ họ chở ma túy, bắt cóc lãnh đạo Venezuela để kiểm soát dầu mỏ (trong khi để quốc gia này rơi vào tay một kẻ độc tài mới), và giờ đây là phát động cuộc chiến thứ hai chống lại Iran trong vòng chưa đầy một năm. Sau khi tuyên bố với thế giới rằng hạ tầng hạt nhân của Iran đã bị “xóa sổ” vào mùa hè năm ngoái, giờ đây ông lại nói Mỹ phải ném bom nó để ngăn chặn “các mối đe dọa cận kề”.

Điều gì đang xảy ra vậy? Kể từ năm 1992, hết tổng thống này đến tổng thống khác của cả hai đảng đều tranh cử với lời hứa làm người kiến tạo hòa bình, nhưng hễ nhậm chức là họ không cưỡng lại được ham muốn cho ném bom một thứ gì đó ở những vùng đất xa xôi. Một lần nữa, chúng ta phải tự hỏi: Liệu nước Mỹ có đang nghiện chiến tranh?

Cho đến trước nhiệm kỳ hai của Trump, người ta có thể giải thích xu hướng này bằng sự kiêu ngạo của giới tinh hoa chính sách đối ngoại (The Blob), những kẻ coi vũ lực là công cụ hữu hiệu để bành trướng trật tự tự do toàn cầu. Nhưng lời giải thích này không còn khớp với những hành động của Trump hiện nay. Trump vẫn căm ghét giới tinh hoa (cái mà ông gọi là “nhà nước ngầm”), đổ lỗi cho họ về những thất bại ở nhiệm kỳ đầu, đã thanh trừng bộ máy an ninh quốc gia và bổ nhiệm hàng loạt thuộc hạ trung thành vào các vị trí then chốt. Cuộc chiến mới nhất này không thể đổ lỗi cho The Blob được nữa.

Những người bào chữa cho chính sách này có thể lập luận rằng Mỹ gánh vác những trách nhiệm toàn cầu đặc thù, và dù các tổng thống có vào cuộc với những lý tưởng hòa bình đến đâu, họ cũng sớm bị dạy cho một bài học về sự cần thiết của việc sử dụng quyền lực Mỹ khắp thế giới. Vấn đề là việc ném bom vô tội vạ hiếm khi giải quyết được các gốc rễ chính trị, chẳng giúp nước Mỹ an toàn hơn, và chắc chắn là chẳng có lợi gì cho những quốc gia mục tiêu. Ngay cả một đất nước chậm hiểu như Mỹ lẽ ra cũng phải học được bài học này từ lâu. Vậy nên câu đố vẫn còn đó: Tại sao Washington cứ tiếp tục làm vậy, ngay cả dưới thời một tổng thống vốn rất khao khát một giải pháp hòa bình thực thụ (chứ không phải cái giải rởm mà ông ta nhận được từ FIFA)?

Một lý do hiển nhiên là sự tập trung quyền lực hành pháp diễn ra từ đầu Chiến tranh Lạnh và bành trướng mạnh mẽ trong cuộc chiến chống khủng bố. Chúng ta đã trao cho các tổng thống quyền tự quyết quá lớn về chiến tranh và hòa bình, về việc ngoại giao, về một bộ máy tình báo khổng lồ với khả năng hành động bí mật, đồng thời chấp nhận một mức độ bảo mật cho phép nhánh hành pháp dễ dàng che đậy sự thật khi cần. Tổng thống của cả hai đảng đều hân hoan đón nhận sự tự do này và hiếm khi chấp nhận các nỗ lực cắt giảm quyền lực của họ. Sự lạm quyền này được tiếp tay bởi một Quốc hội ngày càng miễn cưỡng trong việc giám sát thực chất. Vì vậy, khi chính quyền Obama từng chủ động xin một lệnh cho phép sử dụng vũ lực mới (nhằm thay thế các nghị quyết lỗi thời đã cấp quyền cho cuộc chiến chống khủng bố và cuộc xâm lược Iraq), Quốc hội đã từ chối vì các nghị sĩ không muốn phải chịu trách nhiệm công khai. Và giờ đây họ lại phàn nàn rằng chính quyền Trump chẳng thèm xin phép họ trước khi phát động một cuộc chiến vô nghĩa khác vào Iran.

Thứ hai, như Sarah Kreps và Rosella Zielinski đã lập luận, các tổng thống Mỹ tự do gây chiến vì họ đã học được cách không bắt người dân Mỹ phải đóng thuế ngay lập tức. Triều Tiên là cuộc chiến cuối cùng mà Mỹ trực tiếp tăng thuế để chi trả; kể từ đó, các tổng thống chỉ việc vay mượn, để thâm hụt gia tăng và đẩy khoản nợ cho các thế hệ tương lai. Kết quả là đa số người dân Mỹ không cảm nhận được hệ lụy kinh tế của ngay cả những chiến dịch tốn kém và kéo dài như ở Iraq hay Afghanistan, với chi phí ít nhất 5 nghìn tỷ USD.

Chế độ quân sự tình nguyện cũng giúp các quyết định gây chiến trở nên dễ dàng hơn, vì những người xông pha trận mạc đều tự nguyện đăng ký và ít có khả năng than phiền hơn một lính nghĩa vụ nào đó. Nó cũng cho phép tầng lớp tinh hoa như Trump (và các con ông) trốn tránh nghĩa vụ quân sự hoàn toàn, từ đó làm giảm sự ảnh hưởng cá nhân của giới giàu có và quyền lực trước các quyết định chiến tranh, dần biến quân đội chuyên nghiệp thành một giai cấp tách biệt với xã hội mà những người này đáng lẽ phải bảo vệ. Nhưng đừng đổ lỗi cho quân đội cho những quyết định sử dụng vũ lực lặp đi lặp lại; chính những chính trị gia dân sự mới là người cầm lái.

Tuy nhiên, bạn hoàn toàn có thể đổ lỗi cho tổ hợp quân sự-công nghiệp. Xin lưu ý: Tôi không nói rằng Lockheed Martin hay Boeing vận động hành lang để gây chiến với ai đó, nhưng khi bạn kinh doanh vũ khí, bạn cũng đang kinh doanh sự bất ổn. Điều đó đồng nghĩa với việc vẽ ra một thế giới đầy rẫy hiểm họa (mà một vài trong số đó có thể cần phải được triệt hạ từ sớm), nơi ngoại giao bị xem nhẹ và các giải pháp bạo lực bị thổi phồng. Không phải ngẫu nhiên mà các tập đoàn quốc phòng là nhà tài trợ lớn cho các tổ chức tư vấn chính sách (think tank), những nơi luôn thuyết phục người Mỹ rằng mối đe dọa rình rập khắp nơi, và rằng Mỹ phải thực hiện biện pháp quân sự để đối phó chúng dù chúng có xảy ra ở đâu trên cõi đất này, và ngân sách quốc phòng khổng lồ là liều thuốc duy nhất. Một khi đã mua sắm đủ loại khí giới, thật khó để cưỡng lại sự cám dỗ của việc đem chúng ra dùng. Ngoài ra còn có các nhóm lợi ích đặc biệt như AIPAC và các thành phần diều hâu của Israel đôi khi thành công trong việc thuyết phục các tổng thống tham chiến và khiến các lãnh đạo Quốc hội không dám phản đối.

Còn một lý do cuối cùng khiến các tổng thống Mỹ trở nên nghiện chiến tranh: Sử dụng vũ lực đã trở nên quá dễ dàng và dường như không có rủi ro. Tên lửa hành trình, máy bay tàng hình và drone cho phép Mỹ (và một số quốc gia khác) tiến hành các chiến dịch không kích quy mô lớn mà không cần đổ quân trên bộ và không phải lo lắng nhiều về đòn trả đũa trực tiếp (ít nhất là lúc đầu). Iran có thể đánh trả theo nhiều cách, nhưng họ không thể hy vọng gây ra mức độ thiệt hại trên đất Mỹ tương đương với những gì Washington có thể trút xuống họ. Khi đối mặt với một thách thức ngoại giao hóc búa, hoặc khi cần một công cụ để đánh lạc hướng dư luận khỏi các bê bối trong nước (như vụ Jeffrey Epstein chẳng hạn), quân bài quân sự trở nên vô cùng hấp dẫn. Như Thượng nghị sĩ Richard Russell từng nói vào những năm 1960: “Nếu việc đi bất cứ đâu và làm bất cứ điều gì trở nên quá dễ dàng, chúng ta sẽ luôn luôn đi đâu đó và làm một điều gì đó.”

Tôi thường gọi đây là vấn đề của “nút bấm đỏ khổng lồ”. Giống như mỗi vị tổng thống đều có một cái nút đỏ trên bàn, và khi rắc rối từ các chính sách đối ngoại xảy ra (hoặc khi cần một cái cớ đánh lạc hướng), các cố vấn sẽ vào Phòng Bầu dục và mô tả vấn đề. Họ sẽ kết luận rằng việc bấm nút sẽ thể hiện quyết tâm, chứng tỏ ông đang hành động và có thể mang lại kết quả tốt. Nếu họ thật lòng, họ có thể thừa nhận việc bấm nút không phải là tuyệt đối bắt buộc và làm vậy có thể sẽ khiến mọi chuyện tồi tệ hơn. Nhưng họ sẽ nhấn mạnh rằng rủi ro khi làm vậy sẽ rất nhỏ, chi phí nằm trong tầm tay, còn nếu không bấm, vấn đề chắc chắn sẽ trở nên tệ hơn, và ông sẽ trông thật nhu nhược. Họ kết thúc buổi báo cáo bằng một câu trịnh trọng: “Quyền quyết định là ở ngài, thưa Tổng thống”. Cần phải có những nhà lãnh đạo với bản lĩnh phi thường mới có thể liên tục khước từ sự cám dỗ đó.

Để nói cho rõ, làn sóng bạo lực mới nhất này là đợt đổ máu vô nghĩa nhất của quân đội Mỹ kể từ năm 2003. Nhưng những gì nó nói lên về cơn nghiện chiến tranh của nước Mỹ cũng quan trọng không kém những gì nó tiết lộ về vị tổng thống đương nhiệm.

Chẳng phải vụ gai xương hồi đó là cái cớ để Trump trốn đi nghĩa vụ sao? Nếu vậy thì bản thân ông ta vốn đã chẳng thèm bận tâm đến chuyện tình nguyện nhập ngũ rồi, đúng không?

Stephen M. Walt là chuyên gia phân tích tại Foreign Policy và Giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Harvard.