
Nguồn: Eswar Prasad, “The Middle-Power Dilemma”, Project Syndicate, 02/02/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Bài phát biểu gần đây của Thủ tướng Canada Mark Carney tại Davos đã nhận được sự tán dương nhiệt liệt lần thứ ba trong lịch sử Diễn đàn Kinh tế Thế giới, sau hai lần trước đó dành cho Nelson Mandela và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky. Bài phát biểu đã tạo được tiếng vang lớn bởi nó đã chỉ rõ và không mập mờ một thực tế đang dần hiện hữu ở khắp mọi nơi: Trật tự dựa trên luật lệ thời hậu chiến vốn là nền tảng duy trì sự ổn định và thúc đẩy thịnh vượng chung đang dần tan rã.
Mỹ, quốc gia trở thành cường quốc thống trị sau khi Liên Xô tan rã, giờ đây không còn mặn mà với việc dẫn dắt thế giới một cách tích cực hay duy trì các định chế mà chính mình từng tiên phong gây dựng. Đồng thời, Trung Quốc đang khao khát tiếp quản vai trò lãnh đạo mà Mỹ đang từ bỏ, nhưng một hệ thống pháp quyền còn lỏng lẻo cùng mô hình kinh tế trọng thương của Bắc Kinh đã khiến cộng đồng quốc tế khó lòng đặt trọn niềm tin.
Chẳng hạn, Trung Quốc luôn tìm cách xây dựng hình ảnh là người bảo vệ trung thành cho thương mại tự do và hệ thống dựa trên luật lệ, thế nhưng họ lại vừa tận dụng, vừa lạm dụng chính những quy tắc đó để trục lợi, trong khi vươn mình trở thành một cường quốc xuất khẩu hàng đầu, Bắc Kinh đồng thời lại dựng rào cản hạn chế các quốc gia khác tiếp cận thị trường nội địa của mình. Hệ quả là, thế giới đang lo sợ bị nhấn chìm bởi làn sóng hàng hóa Trung Quốc, nhất là khi nền kinh tế này đang tăng trưởng ngày càng mất cân bằng và phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu.
Khi cuộc đối đầu giữa hai siêu cường thế giới ngày càng mang tính bài trừ lẫn nhau, phần còn lại của thế giới bị cuốn vào một vòng xoáy tiêu cực tác động lên cả kinh tế, chính trị nội bộ lẫn địa chính trị. Carney đã chỉ ra thực trạng nghiệt ngã mà các cường quốc tầm trung như Canada đang phải đối diện, bị kẹt giữa hai siêu cường không đáng tin cậy, khi mỗi bên đều có những khiếm khuyết riêng cùng những toan tính thiếu minh bạch. Nhìn vào phản ứng sau bài diễn thuyết, có thể thấy lời kêu gọi các quốc gia cùng liên kết để kiểm soát những bất ổn kinh tế và địa chính trị mới đang tìm được tiếng nói chung từ các nhà lãnh đạo trên khắp thế giới.
Tuy nhiên, lộ trình tiến tới sự thống nhất giữa các cường quốc tầm trung vẫn đầy rẫy chông gai, bởi nhóm này là một tập hợp không đồng nhất từ các nước giàu đến nghèo, từ quốc gia nhỏ bé đến những nước lớn. Với một cộng đồng đa dạng như vậy, lợi ích của họ hiếm khi nào có thể đồng nhất hoàn toàn. Dù Carney đã đề xuất một hướng đi thực dụng, đó là các nước nên bắt tay nhau theo từng nhóm vấn đề cụ thể thay vì cố gắng tạo ra một mặt trận chung toàn diện, nhưng những nỗ lực hợp tác theo từng trường hợp (ad hoc) như vậy khó có thể rèn đúc nên những liên minh sâu sắc dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau.
Người ta vẫn bắt gặp những bất đồng sâu sắc ngay cả giữa các quốc gia vốn có nhiều điểm tương đồng về lợi ích. Đơn cử như các nền kinh tế mới nổi hàng đầu, dù chia sẻ tiếng nói chung trong nhiều vấn đề nhưng vẫn luôn nuôi dưỡng sự nghi kỵ lẫn nhau. Cả Trung Quốc và Ấn Độ đều ủng hộ việc chuyển dịch quyền biểu quyết tại các định chế lớn như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới về phía các nền kinh tế mới nổi. Tuy nhiên, những tranh chấp biên giới cùng nỗi lo ngại của New Delhi về việc bị người láng giềng lấn át đã khiến hai bên khó có thể đặt niềm tin vào nhau.
Nhìn rộng hơn, nếu các cường quốc tầm trung không thể tập hợp đủ ý chí để vượt lên trên những toan tính ngắn hạn, họ có nguy cơ trở thành nguồn cơn của sự bất ổn thay vì là mỏ neo mới cho trật tự địa chính trị. Đơn cử như sau khi Nga mở chiến dịch quân sự toàn diện tại Ukraine, Ấn Độ đã từ chối thực hiện các lệnh trừng phạt cùng phương Tây, đứng cùng phía với Nga và Trung Quốc để đổi lấy nguồn dầu giá rẻ và dồi dào, dù nước này đã đi ngược lại với chính những giá trị và thể chế dân chủ mà họ vốn coi là tương đồng với các nền kinh tế phương Tây. Chiến lược “bắt cá hai tay” này rõ ràng khó có thể giúp Ấn Độ trở thành một trụ cột ổn định của thế giới.
Ngay cả Châu Âu, dù vẫn luôn khao khát khẳng định vị thế cường quốc, cũng đang dần bị đẩy ra ngoài lề. Sự suy yếu về kinh tế cùng những lực lượng ly tâm nội tại đã khiến lục địa này không thể tìm được tiếng nói chung đủ trọng lượng. Tất nhiên, Châu Âu vẫn biết cách chuyển mình để ứng phó khi chủ quyền bị đe dọa trực tiếp, như cách họ đã làm với vấn đề Ukraine hay Greenland. Thế nhưng, nếu thiếu đi quyết tâm xây dựng một liên minh bền chặt hơn, cũng như không có những biện pháp quyết liệt để vực dậy nền kinh tế, Châu Âu sẽ mãi chỉ ở thế phòng thủ bị động thay vì có thể xác lập vai trò lãnh đạo.
Những quốc gia vốn có mối quan hệ sâu rộng về cả kinh tế lẫn an ninh với cả Trung Quốc và Mỹ giờ đây đang bị đẩy vào thế phải chọn phe – một viễn cảnh rõ ràng là đầy oái oăm và khó xử. Một vài quốc gia dù đang nỗ lực duy trì thế cân bằng giữa hai bên nhưng cũng luôn đối mặt với rủi ro bị sập vào cái bẫy của bên này hay bên kia.
Kế đến là những trường hợp như Singapore, Hàn Quốc và Việt Nam, những quốc gia vốn không dễ gì rũ bỏ được mối ràng buộc chặt chẽ về thương mại và tài chính với Trung Quốc. Dù luôn cảnh giác trước nguy cơ bị cuốn sâu hơn vào vòng xoáy kinh tế và chính trị của Bắc Kinh, họ vẫn tỏ ra ngần ngại trong việc phản kháng quá quyết liệt đối với cường quốc số một khu vực. Trong bối cảnh cả Nhật Bản, đầu tàu kinh tế một thời của châu Á, lẫn Mỹ đều không còn là những đối trọng đủ hiệu quả và tin cậy, các quốc gia này sẽ tiếp tục bị chao đảo trước những cơn sóng dữ địa chính trị, thay vì có thể góp phần làm dịu đi tình hình
Các cường quốc tầm trung giờ đây gần như không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải chung sống với một thế giới mà sự bất ổn đã trở thành điều bình thường mới. Họ có thể chọn làm trầm trọng thêm vấn đề, hoặc trở thành một lực lượng kiến tạo để duy trì sự ổn định từ các vùng biên. Điều này không nhất thiết đòi hỏi một sự thống nhất tuyệt đối, nhưng để đạt được sự gắn kết cần thiết vẫn là một bài toán hóc búa, bởi lẽ nó đòi hỏi các quốc gia phải tự chấn chỉnh nội bộ, biết nhìn xa hơn những lợi ích ngắn hạn và nỗ lực hun đúc những mối liên kết sâu sắc hơn.
Eswar Prasad là Giáo sư Kinh tế tại Đại học Cornell kiêm học giả cấp cao tại Viện Brookings.
