
Nguồn: Dinny McMahon, “Beijing’s Growth Model Is Still Broken,” Foreign Affairs, 09/02/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Và nó đang gây tổn hại cho Trung Quốc cùng phần còn lại của thế giới.
Khi thị trường bất động sản Trung Quốc sụp đổ vào năm 2021, các nhà lãnh đạo nước này đã cuống cuồng tìm kiếm một động lực tăng trưởng kinh tế mới để thay thế cho việc xây dựng nhà ở. Đầu tư thêm vào cơ sở hạ tầng, vốn đã thúc đẩy phần lớn sự bùng nổ của đất nước trong nhiều thập kỷ, không còn là một lựa chọn: dân số đang đạt đỉnh, và sự sụp giảm doanh số bán đất đồng nghĩa với việc chính quyền địa phương thiếu vốn để chi cho các sân bay mới hay những con đường cao tốc tám làn xe. Bắc Kinh cũng không thể dựa thêm vào xuất khẩu. Trung Quốc hiện đã là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới, và xét đến chi phí lao động cũng như đất đai ngày càng tăng, “công xưởng của thế giới” không còn lợi thế chi phí đáng kể đối với hàng hóa giá rẻ nữa.
Như vậy chỉ còn lại tiêu dùng. Các nhà kinh tế từ lâu đã chỉ ra rằng tiêu dùng hộ gia đình ở Trung Quốc đóng góp tương đối ít vào hoạt động kinh tế so với các quốc gia khác. Năm 2024, theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, tiêu dùng chỉ chiếm 40% GDP của Trung Quốc, thấp hơn khoảng 20 điểm phần trăm so với mức trung bình toàn cầu. Một chính sách tập trung vào việc nâng chi tiêu hộ gia đình lên mức của Hàn Quốc (48%) hoặc Nhật Bản (55% vào năm 2022) có thể thúc đẩy tăng trưởng thêm hàng thập kỷ.
Nhưng trên thực tế, Trung Quốc không tái cân bằng nền kinh tế của mình theo hướng tiêu dùng. Điều đó không có nghĩa là họ không muốn tiêu dùng nhiều hơn. Họ muốn. Các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh đã công khai tán thành sự cần thiết phải tăng mức tiêu dùng: chẳng hạn, vào tháng 02/2025, Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường kêu gọi “thúc đẩy tiêu dùng để mở rộng cầu nội địa, giúp chu trình kinh tế được trơn tru và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.” Nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc hình dung rằng tiêu dùng cao hơn sẽ đến ở giai đoạn cuối của quá trình chuyển đổi kinh tế, chứ không phải giai đoạn đầu. Thay vì tái phân phối của cải để người dân có thể chi tiêu nhiều hơn ngay bây giờ, Bắc Kinh muốn tập trung vào việc tạo ra của cải mới với hy vọng điều đó sẽ thúc đẩy tiêu dùng lớn hơn trong tương lai.
Về lâu dài, cách tiếp cận này có thể dẫn đến một mô hình tăng trưởng cân bằng hơn. Nhưng trước cầu nội địa yếu do hậu quả của bong bóng bất động sản bị xì hơi, Trung Quốc đang tăng cường xuất khẩu thậm chí còn mạnh hơn trong ngắn hạn. Điều này không chỉ trì hoãn việc xoay trục sang tiêu dùng của chính nước này, mà còn có thể tước mất của cải của các quốc gia khác đang cố gắng cạnh tranh với Trung Quốc hoặc tìm kiếm chỗ đứng của họ trong nền kinh tế toàn cầu.
TẠM BIỆT PHÚC LỢI
Để tiêu dùng có thể dẫn dắt nền kinh tế Trung Quốc, những người dân vốn nổi tiếng tiết kiệm của đất nước này phải tiết kiệm ít hơn, hoặc thu nhập của họ phải tăng nhanh hơn so với nền kinh tế nói chung. Kiến tạo một cuộc chuyển đổi như vậy đòi hỏi phải tái phân phối của cải.
Khi các nền kinh tế công nghiệp tiên tiến tái phân phối của cải, họ thường thực hiện bằng cách tăng lương tối thiểu, cắt giảm thuế thu nhập cá nhân, phát các tấm séc kích cầu, tăng trợ cấp phúc lợi, hoặc cắt giảm lãi suất thế chấp. Trung Quốc đã thực hiện một vài trong số các bước này. Chẳng hạn, vào năm 2023 và một lần nữa vào năm 2024, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã buộc các ngân hàng cắt giảm mạnh lãi suất đối với các khoản thế chấp hiện có, giảm khoản trả lãi hàng năm của các hộ gia đình khoảng 43 tỷ USD. Chính quyền các tỉnh thì tiến hành tăng lương tối thiểu hàng năm. Và, bắt đầu từ năm 2023, các cơ quan quản lý đã thúc đẩy các công ty niêm yết trả cổ tức cho cổ đông, điều mà họ thường miễn cưỡng thực hiện trước đây.
Nhưng Bắc Kinh đã kiên quyết từ chối làm một việc có thể tạo ra sự khác biệt lớn nhất: mở rộng đáng kể mạng lưới an sinh xã hội. Hệ thống hỗ trợ xã hội của Trung Quốc bị thiếu vốn triền miên. Quỹ bảo hiểm xã hội quốc gia, nơi hỗ trợ lương hưu của đất nước, có khả năng sẽ cạn kiệt vào năm 2035, đặt dấu hỏi về việc nghỉ hưu của hàng chục triệu người. Dù gần như tất cả công dân Trung Quốc đều có bảo hiểm y tế cơ bản, nhưng tỷ lệ hoàn trả thấp có nghĩa là chi phí y tế tự chi trả có thể khiến người ta kiệt quệ, đặc biệt là các gia đình phải nuôi cha mẹ già. Và nhiều trong số 300 triệu người di cư từ nông thôn ra thành phố để làm việc không thể tiếp cận các dịch vụ công được trợ cấp vì họ chỉ đăng ký để tiếp cận dịch vụ tại quê nhà, nơi chất lượng thường thấp hơn nhiều. Chính phủ nói rằng họ ủng hộ việc cấp cho người di cư trong nước quy chế cư trú cần thiết để cho phép họ tiếp cận nhà ở giá rẻ, trường công, chăm sóc y tế, và lương hưu giống như những người hàng xóm thành thị, nhưng lại không sẵn lòng chi tiền cho việc đó.
Các quan sát viên cho rằng lý do cho sự thiếu hụt chi tiêu này là ác cảm đã được tuyên bố của nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đối với “chủ nghĩa phúc lợi” – sự miễn cưỡng của ông khi thấy “’những kẻ lười biếng’ hưởng lợi mà không phải làm gì,” như ông đã viết vào năm 2021. Nhưng điểm mấu chốt lớn hơn là việc các nhà lãnh đạo đảng khăng khăng rằng các chương trình xã hội phải nằm “trong khả năng chi trả” của nhà nước.
Như hầu hết các quốc gia khác, Trung Quốc cũng có thâm hụt ngân sách. Năm 2025, chính phủ đặt mục tiêu thâm hụt ở mức 4%, mức cao nhất trong ba thập kỷ. Do đó, bất kỳ sự mở rộng hỗ trợ xã hội nào cũng sẽ được tài trợ bằng nợ. Tuy nhiên, các quan chức và học giả Trung Quốc từ lâu đã lo ngại rằng các chương trình xã hội được tài trợ bằng nợ có thể dẫn đến cái mà họ gọi là “Mỹ Latinh hóa” – ám chỉ sự đình trệ tăng trưởng của các nền kinh tế sôi động ở Mỹ Latinh như Argentina và Brazil vào những năm 1970 và 1980 sau khi các chính phủ dân túy ở những nước này cố gắng xây dựng hệ thống phúc lợi kiểu phương Tây tại các nền kinh tế đang phát triển. Trong một bài luận năm 2021 trên tạp chí lý luận chính của đảng, Tập giải thích rằng khi “một số nước Mỹ Latinh tham gia vào chủ nghĩa dân túy,” sự thiếu kỷ luật tài khóa dẫn đến đã khiến họ bị giam hãm trong bẫy thu nhập trung bình và ngăn cản họ bắt kịp các nền kinh tế tiên tiến như Mỹ và Liên minh Châu Âu.
Dân số già hóa nhanh chóng của Trung Quốc càng làm cho tình cảnh thêm đáng sợ. Tỷ lệ người già phụ thuộc của nước này – số người nghỉ hưu chia trên tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động – sẽ ngang bằng với Mỹ vào năm 2035 và EU vào năm 2046. Đến năm 2080, Trung Quốc sẽ có nhiều người nghỉ hưu hơn người lao động. Điều này gây ra những hậu quả to lớn cho nền kinh tế: khi dân số già đi, gánh nặng trên vai nhà nước cũng tăng lên do lương hưu, chi tiêu y tế và các chi phí khác đều tăng. Cùng lúc đó, vì quy mô lực lượng lao động bị thu hẹp, nhóm người nộp thuế cũng giảm theo, khiến nhà nước khó trang trải các chi phí ngày càng lớn.
Bắc Kinh không ngại vay mượn; xét cho cùng, họ đã cho phép chính quyền địa phương gánh những khoản nợ khổng lồ để tài trợ cho cơ sở hạ tầng. Sự khác biệt là họ xem cơ sở hạ tầng như một khoản đầu tư. Ngay cả khi cơ sở hạ tầng không tự hoàn vốn, nó vẫn có thể tạo ra của cải và giá trị mới. Ngược lại, Bắc Kinh cho rằng chi tiêu xã hội là một chi phí thường xuyên và một gánh nặng vô tận. Theo lời Tập, “Các phúc lợi xã hội không thể giảm xuống một khi chúng đã tăng lên.” Nếu Trung Quốc dự định thúc đẩy phúc lợi xã hội, họ sẽ làm điều đó một cách từ từ – chứ không phải ở mức độ có thể tái cân bằng nền kinh tế một cách có ý nghĩa theo hướng tiêu dùng. Thay vào đó, nếu các nhà lãnh đạo Trung Quốc định vay và chi tiêu, họ muốn số tiền đó giải quyết thách thức quan trọng nhất mà họ đang phải đối mặt: tiến lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị kinh tế.
CHẤT LƯỢNG HƠN SỐ LƯỢNG
Trong nhiều thập kỷ, mối bận tâm kinh tế bao trùm của Bắc Kinh luôn là tốc độ tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế vẫn quan trọng – Tập muốn GDP bình quân đầu người tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến 2035 – nhưng như thế là chưa đủ. Giờ đây, Tập nói về sự cần thiết của tăng trưởng “chất lượng cao,” hay sự tăng trưởng sẽ giúp chuyển đổi nền kinh tế Trung Quốc để có thể tránh bẫy thu nhập trung bình, giảm nhẹ tác động của dân số già hóa nhanh chóng, và thực hiện lời hứa của ông về “thịnh vượng chung,” với một Trung Quốc sung túc và công bằng hơn.
Để quản lý sự hội tụ của các mục tiêu này, Bắc Kinh cần một nền kinh tế có khả năng sản xuất hàng hóa giá trị cao mà các nền kinh tế đang phát triển có chi phí lao động thấp hơn không thể sao chép với giá rẻ. Điều này đòi hỏi Trung Quốc phải đổi mới và cải thiện các ngành sản xuất tiên tiến của mình. Họ cũng cần tăng thu thuế đủ để trang trải nhu cầu ngày càng tăng của người nghỉ hưu mà không gây quá nhiều gánh nặng cho lực lượng lao động đang thu hẹp. Điều này có nghĩa là thu nhập cần phải tăng đủ cao để ngay cả với gánh nặng thuế nặng hơn, người lao động vẫn có cuộc sống tốt hơn. Và để hiện thực hóa “thịnh vượng chung” mà không cần tái phân phối ồ ạt, Trung Quốc cần tìm cách tạo ra đủ của cải để mở rộng tầng lớp trung lưu và thúc đẩy tiêu dùng bằng cách phân chia phần lợi ích mới một cách công bằng hơn.
Để đạt được tất cả những mục tiêu đó, Bắc Kinh đã nắm lấy cái mà họ gọi là “lực lượng sản xuất chất lượng mới.” Trong mô hình này, tăng năng suất là cốt lõi của tăng trưởng, và các nhà lãnh đạo Trung Quốc có ý định sử dụng đổi mới sáng tạo và nâng cấp công nghiệp để tập trung những lợi ích này vào sản xuất. Hy vọng là bằng cách phát triển công nghệ độc quyền của riêng mình, các công ty Trung Quốc sẽ có thể dẫn đầu các ngành công nghiệp mới nổi đa dạng như công nghệ sinh học và phương tiện cất hạ cánh thẳng đứng chạy điện (hay còn gọi là xe bay), từ đó cho phép họ tạo ra biên lợi nhuận cao hơn so với khi họ chỉ sản xuất các bản sao giá rẻ của các công nghệ hiện có.
Vì thế, Bắc Kinh đang tham gia vào một nỗ lực từ trên xuống để tạo ra những đột phá khoa học và đổi mới công nghiệp có thể thương mại hóa và đem bán. Điều đó trông như thế nào còn tùy thuộc vào từng ngành, nhưng thường bao gồm miễn thuế, đầu tư công vào cơ sở hạ tầng, tài trợ cho nghiên cứu và phát triển, mua sắm chính phủ, và trợ cấp cho người tiêu dùng. Ví dụ, trong lĩnh vực xe điện, tất cả các chính sách này đã giúp đưa Trung Quốc trở thành nhà lãnh đạo toàn cầu không thể tranh cãi.
Nhưng Bắc Kinh cũng muốn giữ lại các ngành công nghiệp cũ. Thay vì để các ngành thâm dụng lao động truyền thống như dệt may và sản xuất đồ chơi chuyển sang các nước đang phát triển để tìm kiếm lao động giá rẻ hơn, các nhà hoạch định chính sách đang nỗ lực giữ các ngành này ở lại Trung Quốc bằng cách triển khai robot, phần mềm công nghiệp, và trí tuệ nhân tạo để giảm chi phí sản xuất và tăng biên lợi nhuận. Các công ty tiên tiến của Trung Quốc có thể sản xuất công nghệ cho phép các ngành công nghiệp cấp thấp của họ duy trì khả năng cạnh tranh. Chiến lược này có thêm lợi ích là tạo ra cầu nội địa cho các công ty kỹ thuật và máy móc cao cấp của Trung Quốc. Và dù sự chuyển đổi công nghiệp như vậy loại bỏ một số công việc “cổ cồn xanh” (công việc chân tay) – mà nhiều khả năng sẽ được chuyển ra nước ngoài đến các nơi có chi phí thấp hơn – nó tạo ra những công việc “cổ cồn tím” mới cho các kỹ thuật viên lành nghề với mức lương cao hơn các vị trí trên dây chuyền lắp ráp truyền thống.
Tuy nhiên, Bắc Kinh hy vọng lợi ích việc làm lớn nhất từ sự chuyển dịch sang sản xuất tiên tiến của Trung Quốc sẽ là các công việc chuyên môn “cổ cồn trắng.” Một ví dụ tiêu biểu là Apple, công ty thuê ngoài tất cả hoạt động sản xuất của mình, nhưng vẫn sử dụng 90.000 người chỉ riêng tại Mỹ. Những người này bao gồm kỹ sư, nhà nghiên cứu, nhà phát triển phần mềm, nhà thiết kế sản phẩm, quản lý chuỗi cung ứng, nhân viên bán hàng, nhà nghiên cứu thị trường, chuyên gia tiếp thị, chuyên gia vận động hành lang, và luật sư sở hữu trí tuệ – nói cách khác, những nhân viên cổ cồn trắng được trả lương cao. Bắc Kinh muốn các công ty trong các ngành công nghiệp cao cấp của chính mình cũng cung cấp những loại công việc tốt này cho hàng chục triệu sinh viên tốt nghiệp đại học trẻ tuổi ở Trung Quốc.
VẪN LÀ SẢN XUẤT TẠI TRUNG QUỐC
Bằng cách tập trung vào đổi mới sáng tạo và nâng cấp công nghiệp, Bắc Kinh hy vọng sẽ tạo ra các công ty có khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn và trả lương cao hơn. Lương và lợi nhuận lớn hơn sẽ chuyển thành cơ sở thuế mở rộng cho nhà nước, từ đó cho phép họ chi nhiều hơn cho các hỗ trợ xã hội cho dân số già hóa. Các công ty có lợi nhuận cao hơn cũng sẽ thúc đẩy thị trường chứng khoán, thay thế lĩnh vực bất động sản đã bão hòa để trở thành động lực tạo ra của cải cho tầng lớp trung lưu. Trong một Trung Quốc sung túc, công bằng hơn của tương lai này, người dân – cuối cùng – sẽ có thể tiêu dùng ở mức cao hơn nhiều so với ngày nay.
Nhưng tầm nhìn đó không chỉ là dài hạn; nó còn chứa đựng một nghịch lý. Giữ lại các ngành công nghiệp cũ trong khi mở rộng sang các ngành mới có nghĩa là sản xuất công nghiệp của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng. Vấn đề là khi thu nhập tăng lên, mọi người thường chi một phần lớn hơn những gì họ kiếm được cho các dịch vụ và ít hơn cho hàng hóa vật chất. Ngay cả khi các hộ gia đình Trung Quốc có mua thêm một số mặt hàng được sản xuất, họ cũng không thể nào tiêu thụ hết lượng gia tăng khổng lồ trong sản xuất công nghiệp của Trung Quốc. Phần còn lại của thế giới sẽ được yêu cầu lấp đầy khoảng trống đó.
Theo Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc hiện chiếm 27% sản lượng công nghiệp toàn cầu vào năm 2023. Không quốc gia nào thống trị sản xuất toàn cầu đến mức độ này kể từ Mỹ ngay sau Thế chiến II, thời điểm nhiều nền kinh tế thế giới còn nằm trong đống đổ nát. Liên Hiệp Quốc dự báo rằng, với các xu hướng hiện tại, thị phần của Trung Quốc sẽ tăng lên 45% vào năm 2030. Bất kể tỷ lệ chính xác là bao nhiêu, các quốc gia trên thế giới cũng khó có thể dung thứ cho một làn sóng hàng hóa Trung Quốc giá rẻ, chất lượng cao, và ngày càng sáng tạo tràn ngập thị trường nội địa của họ.
Các nước công nghiệp tiên tiến sẽ gánh chịu hậu quả nặng nề nhất từ động cơ xuất khẩu được tăng tốc của Trung Quốc. Các quốc gia như Đức, vốn là nhà sản xuất lớn về xe hơi, hóa chất, và máy móc công nghiệp, sẽ phải đối mặt với một tương lai mà cầu dành cho sản phẩm của họ giảm sút và thị phần toàn cầu của họ bị các đối thủ Trung Quốc nuốt mất. Các nước đang phát triển cũng phải đối mặt với những thách thức của riêng mình. Khi Trung Quốc sản xuất hàng hóa cấp thấp ngày càng hiệu quả hơn, nước này sẽ ngăn các nền kinh tế có chi phí lao động thấp hơn dấn thân vào con đường đi đến thịnh vượng mà chính Trung Quốc đã từng đi.
Trớ trêu thay, ngay cả khi mô hình tăng trưởng mới của Trung Quốc đe dọa sự thịnh vượng của các quốc gia khác, nó có thể không mang lại lợi nhuận mong muốn tại quê nhà. Để mô hình kinh tế của Trung Quốc thành công, nó phải mang lại lợi nhuận, tiền lương, và thu ngân sách thuế cao hơn. Nhưng trong nửa đầu năm 2025, GDP thực tế của Trung Quốc tăng 5,3% theo thống kê của chính phủ, nhưng thu ngân sách thuế lại giảm 1,2%. Một phần của vấn đề là dư thừa công suất công nghiệp: Các công ty của Trung Quốc đã xây dựng các nhà máy có khả năng sản xuất hàng hóa vượt xa nhu cầu, điều này đã đẩy giá xuống, quét sạch lợi nhuận, cắt giảm thuế, kìm hãm tăng trưởng tiền lương, và tạo ra cảm giác bất an cho người lao động. Nếu Bắc Kinh không thể đảo ngược tình trạng dư thừa công suất này, họ sẽ chật vật để mang lại sự thịnh vượng khi đối mặt với sự suy giảm nhân khẩu học.
Các nhà kinh tế cả ở Trung Quốc và trên toàn thế giới đang tiếp tục kêu gọi Trung Quốc xoay trục sang tăng trưởng dựa vào tiêu dùng được thúc đẩy bởi việc tái phân phối của cải. Nó nghe giống như định nghĩa của một đề xuất đôi bên cùng có lợi: công chúng Trung Quốc sẽ có cuộc sống tốt hơn, và Trung Quốc sẽ nhập khẩu nhiều hơn từ phần còn lại của thế giới. Nhưng Bắc Kinh đang đi theo hướng ngược lại. Những thứ mà Trung Quốc cần từ nước ngoài dần chỉ còn là hàng hóa cơ bản, hàng xa xỉ, các kỳ nghỉ ở nước ngoài, và một số ít hàng hóa công nghệ cao mà họ chưa thể tự sản xuất. Như các nhà lãnh đạo Trung Quốc nói, họ muốn đảm bảo rằng chiếc bánh kinh tế lớn hơn trước khi chia nó công bằng hơn. Nhưng vẫn còn phải xem liệu họ có thể vẹn cả đôi đường – vừa muốn giữ bánh lại vừa muốn ăn bánh – được hay không.
Dinny Mcmahon là người đứng đầu bộ phận Nghiên cứu Thị trường tại Trivium China và là tác giả của cuốn sách “China’s Great Wall of Debt”
