Đài Loan không cần phải lựa chọn giữa Đại lục và Hoa Kỳ

Nguồn: Trịnh Lệ Văn (Cheng Li-wun), “Taiwan Doesn’t Have to Choose,” Foreign Affairs, ngày 03/03/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Hòa bình xuyên eo biển đòi hỏi phải hợp tác với cả Bắc Kinh và Washington.

Trong thời kỳ bất ổn toàn cầu và cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt, trách nhiệm duy trì hòa bình không chỉ thuộc về các cường quốc. Các quốc gia tầm trung và nhỏ có vị trí chiến lược đang tạo ra sức ảnh hưởng vượt xa quy mô của họ. Nếu biết sử dụng khả năng tự quyết và đòn bẩy một cách hiệu quả, họ có thể giảm bớt căng thẳng xung quanh các điểm nóng toàn cầu và giúp ngăn chặn xung đột khu vực hoặc thế giới.

Đài Loan chính là một nơi như vậy. Dù chỉ có khoảng 23 triệu dân, Đài Loan lại là cửa ngõ sống còn tiến ra Tây Thái Bình Dương. Nơi đây nằm dọc theo các tuyến đường biển thiết yếu của thương mại toàn cầu và là nước dẫn đầu trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến, bao gồm chất bán dẫn, theo đó khiến hòn đảo này trở thành một phần không thể thiếu đối với hệ sinh thái đổi mới của thế giới. Bất kỳ sự gián đoạn hay xung đột nào trong hoặc xung quanh Eo biển Đài Loan đều sẽ gây ảnh hưởng vượt ra ngoài khu vực, cản trở thương mại toàn cầu, đe dọa an ninh năng lượng, và phá vỡ các mắt xích then chốt trong chuỗi cung ứng công nghệ.

Trong lúc Bắc Kinh và Washington cạnh tranh tầm ảnh hưởng ở Thái Bình Dương, cách Đài Loan quản lý quan hệ giữa hai bờ eo biển sẽ quyết định xem khu vực này có duy trì được hòa bình và ổn định hay không. Nhiều nhà quan sát cho rằng Đài Loan phải lựa chọn, ngả về hoặc phe này hoặc phe kia. Nhưng khuôn khổ nhị nguyên là sai lầm. Đài Loan mạnh nhất khi giữ được không gian để theo đuổi các nhu cầu của riêng mình, chứ không phải khi trở thành tiền đồn của một quốc gia hay đối tác phụ thuộc của một quốc gia khác.

Đài Loan có thể giảm thiểu nguy cơ xung đột bằng cách duy trì khả năng răn đe đáng tin cậy, tránh các bước đi khiêu khích làm thay đổi nguyên trạng, và duy trì các kênh liên lạc cởi mở xuyên eo biển. Ưu tiên sự ổn định không có nghĩa là thụ động. Thay vào đó, nó đòi hỏi một cuộc đối thoại chủ động dựa trên chính lợi ích của Đài Loan, gắn kết với Washington như một đối tác an ninh, đồng thời quản lý quan hệ với Bắc Kinh để ngăn chặn những hành động khiêu khích hoặc tính toán sai lầm không đáng có ở Eo biển Đài Loan.

Quốc dân đảng, một trong hai đảng chính trị lớn của Đài Loan, mà tôi vừa được bầu làm lãnh đạo vào tháng 10, xem hòa bình xuyên eo biển không phải là đích đến cuối cùng, mà là nền tảng cho sự hợp tác mang tính xây dựng với cả Trung Quốc đại lục và Mỹ. Điều này có nghĩa là nối lại đối thoại có cấu trúc với Bắc Kinh trong những điều kiện phù hợp với hiến pháp của Trung Hoa Dân Quốc, bộ luật mà Đài Loan đang dựa vào để tự quản lý chính mình. Điều này cũng đồng nghĩa với việc thiết lập các quan hệ được thể chế hóa nhiều hơn giữa hai bờ eo biển, đủ mạnh để vượt qua bất kỳ sự thay đổi chính trị trong nước nào, chẳng hạn như kết quả của các cuộc bầu cử tương lai ở Đài Loan. Hòa bình xuyên eo biển đòi hỏi nhiều hơn là chỉ thiện chí; nó còn đòi hỏi một lộ trình đáng tin cậy mà Bắc Kinh có thể tin tưởng xem là khuôn khổ thực sự cho sự ổn định, và Washington cũng như cộng đồng quốc tế có thể ủng hộ vì nó phù hợp với lợi ích và giá trị của chính họ.

ĐỐI THOẠI XUYÊN EO BIỂN

Đài Loan có thể giúp ổn định khu vực bằng cách quản lý quan hệ của mình với Trung Quốc đại lục một cách có trách nhiệm. Tuy nhiên, một số hành động và ngôn từ chính thức của Đài Loan đã làm gia tăng căng thẳng một cách không cần thiết. Chúng bao gồm những lời lẽ ngày càng mang tính đối đầu, xem quan hệ giữa hai bờ eo biển là vấn đề sống còn; việc đình chỉ các cơ chế liên lạc bán chính thức kể từ năm 2016; và các động thái chính trị mang tính biểu tượng ám chỉ rằng Đài Loan có thể đang tiến tới độc lập về mặt pháp lý. Những bước đi này có thể huy động được sự ủng hộ của một số nhóm cử tri trong nước trong ngắn hạn, nhưng lại thu hẹp tính linh hoạt ngoại giao rộng hơn của Đài Loan.

Trong những năm gần đây, hòa bình xuyên eo biển thường bị định nghĩa một cách đơn giản là sự vắng bóng của chiến tranh, thay vì là một tình trạng đòi hỏi sự quản lý cẩn trọng. Vì thế, quan hệ đang xấu đi với Trung Quốc đại lục không bị xem là một thất bại chính trị. Khi căng thẳng leo thang được mô tả là tất yếu, được thúc đẩy chỉ bởi tham vọng của Bắc Kinh và hoàn toàn nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Đài Bắc, nó sẽ khuyến khích một niềm tin mang tính định mệnh rằng xung đột là không thể xoa dịu. Niềm tin đó làm thổi bùng sự lo âu ở trong nước cũng như sự bất ổn ở nước ngoài.

Dưới sự lãnh đạo của tôi, lập trường cốt lõi của Quốc dân đảng về vấn đề quan hệ giữa hai bờ eo biển vẫn nhất quán. Quốc dân đảng ủng hộ khuôn khổ hiến pháp của Trung Hoa Dân Quốc, phản đối Đài Loan độc lập, và đề cao cái gọi là “Đồng thuận 1992” – một công thức cho quan hệ giữa hai bờ eo biển, thừa nhận rằng chỉ có “một Trung Quốc” nhưng cho phép mỗi bên có cách diễn giải riêng về ý nghĩa của nó – làm cơ sở cho sự can dự. Những lập trường này nhìn chung phù hợp với cách tiếp cận phổ biến của cộng đồng quốc tế, trong đó các quốc gia tuân thủ chính sách “một Trung Quốc” của riêng họ trong khi vẫn duy trì các quan hệ thực chất với Đài Loan.

Đồng thuận 1992 thường bị hiểu sai một cách cố ý. Cốt lõi của nó phản ánh công thức “một Trung Quốc, mỗi bên tự diễn giải.” Nó không ấn định một định nghĩa duy nhất về việc thế nào là Trung Quốc, cũng không buộc các chính phủ ở Bắc Kinh hay Đài Bắc phải từ bỏ lập trường hiến pháp của họ. Chẳng hạn, Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc vẫn tiếp tục định nghĩa lãnh thổ quốc gia theo cách bao gồm cả đại lục, dù quyền quản trị bị chia cắt – và Đồng thuận 1992 công nhận thực tế đó, cho phép cả hai bên tham gia đối thoại mang tính xây dựng mà không cần phải giải quyết các tranh chấp chủ quyền.

Về bản chất, Đồng thuận 1992 hoạt động như một hình thức mơ hồ chiến lược. Đối với Đài Loan, sự mơ hồ này không phải là điểm yếu, mà thực sự là một tài sản chiến lược. Nó bảo vệ chủ quyền của Đài Loan và tạo ra không gian cho hòn đảo phát triển.

Chính sách quan hệ giữa hai bờ eo biển của Quốc dân đảng cũng tuân thủ sự đồng thuận quốc tế. Không có quốc gia nào, kể cả Mỹ, công nhận quan hệ xuyên Eo biển Đài Loan là quan hệ giữa hai quốc gia có chủ quyền, và cũng không có quốc gia nào ủng hộ Đài Loan độc lập. Cùng lúc đó, nhiều quốc gia duy trì quan hệ thực chất với Đài Loan và ủng hộ sự tự trị của hòn đảo. Việc bảo vệ nguyên trạng này, trong đó các quốc gia có thể ủng hộ chủ quyền thực tế của Đài Loan trong khi công nhận các tuyên bố “một Trung Quốc” của Bắc Kinh, đòi hỏi sự thỏa hiệp cẩn trọng. Đài Loan cần tránh các động thái đơn phương có thể buộc các quốc gia khác phải chọn phe. Việc duy trì Đồng thuận 1992 và phản đối Đài Loan độc lập sẽ gìn giữ thế cân bằng mong manh ở Eo biển Đài Loan và thúc đẩy hòa bình.

Quốc dân đảng hiểu rằng văn hóa cũng có thể củng cố vị thế của Đài Loan. Trung Quốc đại lục và Đài Loan có chung cội nguồn ngôn ngữ và văn hóa sâu sắc, nhưng qua thời gian, hệ thống chính trị và xã hội của họ đã tiến hóa theo những hướng khác nhau do những lựa chọn lịch sử và vị trí địa lý của mỗi bên. Việc cùng tồn tại của hai quỹ đạo khác biệt này không nhất thiết phải dẫn đến sự thù địch. Nếu được quản lý đúng đắn và được hỗ trợ bởi đối thoại cũng như giao lưu, thì tính bổ trợ về văn hóa có thể làm giảm bớt những ma sát chính trị.

Việc tôi nhấn mạnh vào niềm tự hào về di sản Trung Hoa trong chiến dịch tranh cử lãnh đạo Quốc dân đảng phản ánh một sự khẳng định về mặt văn hóa. Xã hội Đài Loan mang tính đa nguyên và dân chủ. Việc công nhận cội nguồn lịch sử và ngôn ngữ không hề làm suy yếu điều này; nó chỉ thừa nhận sự tiếp nối của nền văn minh. Sự tự tin về văn hóa cho phép Đài Loan gắn kết với Bắc Kinh mà không cảm thấy bất an, và gắn kết với thế giới mà không cần phải phòng thủ.

RĂN ĐE ĐI ĐÔI VỚI ĐỐI THOẠI

Nếu Quốc dân đảng trở lại nắm quyền trong cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo của Đài Loan vào năm 2028, chương trình nghị sự về quan hệ giữa hai bờ eo biển của đảng sẽ tập trung vào các chính sách nhằm thể chế hóa hòa bình. Điều này đòi hỏi phải tạo ra các cơ chế để giảm thiểu tính toán sai lầm và tăng cường khả năng dự đoán. Quan trọng nhất, Quốc dân đảng sẽ thiết lập các kênh liên lạc xử lý khủng hoảng để tạo liên hệ trực tiếp giữa Bắc Kinh và Đài Bắc. Chương trình nghị sự chính sách của Quốc dân đảng cũng sẽ tập trung vào việc mở rộng giao lưu nhân dân – gắn kết các nhóm đa dạng như sinh viên, nhà nghiên cứu, lãnh đạo doanh nghiệp, nghệ sĩ, và các gia đình ở hai bờ eo biển – và xây dựng sự hợp tác thiết thực trong những lĩnh vực mà các vấn đề chung đòi hỏi các giải pháp chung, bao gồm y tế công cộng và bảo vệ môi trường. Mục tiêu là tạo ra đủ sự kết nối con người và sự can dự về mặt thể chế để những bất đồng không tự động biến thành đối đầu. Bản thân tính có thể dự đoán được đã là một hình thức răn đe. Khi cả hai bên duy trì liên lạc thường xuyên qua nhiều kênh, thay vì giao tiếp chủ yếu qua các tín hiệu quân sự, các sự cố sẽ ít có khả năng leo thang thành khủng hoảng hơn.

Răn đe là quan trọng, nhưng việc quá phụ thuộc vào việc tích lũy vũ khí có nguy cơ làm bóp méo các ưu tiên quốc gia, không những không làm cho Đài Loan an toàn hơn, mà còn chuyển hướng các nguồn lực khỏi tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Quốc phòng nên được hiểu như một dạng bảo hiểm chống lại các sự cố có xác suất thấp nhưng tác động lớn, chứ không phải là sự thay thế cho một chiến lược toàn diện. Chỉ riêng chi tiêu quốc phòng không thể tạo ra hòa bình.

Quốc dân đảng tin rằng sự răn đe thực sự đòi hỏi ba trụ cột: khí tài quân sự đủ năng lực, nhân sự được đào tạo và có động lực, cùng các kênh đối thoại đáng tin cậy để ngăn chặn tính toán sai lầm. Những nhà phê bình đánh đồng an ninh của Đài Loan với chi tiêu vũ khí đã phớt lờ thực tế rằng quân đội tình nguyện của Đài Loan đang thiếu nhân sự trầm trọng và giới lãnh đạo quân đội đang phải chật vật để giữ chân các phi công. Không có kho vũ khí tiên tiến nào có thể mang lại sự răn đe nếu không có con người vận hành chúng. Quốc dân đảng ủng hộ sự đầu tư mạnh mẽ cho quốc phòng – nhưng khoản đầu tư đó phải minh bạch, có trách nhiệm giải trình, và nhằm giải quyết những khoảng trống trong năng lực thực tế của Đài Loan. Răn đe mà không có các kênh liên lạc tốt hơn sẽ làm gia tăng căng thẳng bằng cách ép buộc người ta hoặc phải cam chịu, hoặc phải leo thang mà không đưa ra các lối thoát tiềm năng.

Hòa bình cũng đòi hỏi phải hợp tác với Bắc Kinh. Đài Loan và Trung Quốc đại lục sở hữu những thế mạnh bổ sung cho nhau, có nghĩa là cộng tác và giao lưu trong kinh doanh, nghiên cứu, và công nghiệp có thể tạo ra lợi ích hữu hình cho các công ty và người lao động Đài Loan. Việc xem mọi lĩnh vực hợp tác giữa hai bờ eo biển là mối đe dọa an ninh là phản tác dụng. Nó khiến cho cả nền kinh tế Đài Loan lẫn triển vọng về các quan hệ ổn định trở nên tồi tệ hơn.

Nhưng hợp tác với Bắc Kinh không có nghĩa là từ bỏ Mỹ. Đài Loan không cần phải lựa chọn; trên thực tế, hòn đảo mạnh nhất khi làm việc hiệu quả với cả hai cường quốc. Mỗi quan hệ phục vụ một mục đích riêng biệt. Sự gắn kết của Đài Loan – và của Quốc dân đảng – với Mỹ là sâu sắc và lâu bền. Kể từ Thế chiến II, Đài Loan và Mỹ đã chia sẻ cam kết đối với các giá trị dân chủ và sự ổn định của khu vực. Mỹ đã đóng vai trò thiết yếu trong việc hỗ trợ sự củng cố dân chủ và sự tăng trưởng của nền kinh tế thị trường tại Đài Loan.

Việc hợp tác với cả Bắc Kinh và Washington không chỉ là có thể mà còn là cần thiết. Cả hai bên đều không nên xem cách tiếp cận như vậy là sự phản bội. Đối với Washington, một Đài Loan duy trì quan hệ kinh tế với đại lục trong khi ngày càng tiến sâu vào hợp tác công nghệ và hợp tác rộng hơn với Mỹ chính xác là kiểu đối tác kiên cường, thực dụng mà họ cần ở châu Á. Một đối tác có năng lực tự quản lý các quan hệ phức tạp của riêng mình sẽ tốt hơn cho nước Mỹ so với một bên phụ thuộc liên tục đòi hỏi sự trấn an. Đối với Bắc Kinh, việc thiết lập các quan hệ ổn định, có thể dự đoán được với Đài Loan sẽ mang lại lợi ích cho họ tốt hơn là các áp lực có thể đẩy hòn đảo này đi tới chỗ ngả hẳn vào vòng tay của Washington. Một Đài Loan gắn kết về kinh tế và văn hóa với đại lục trong khi vẫn duy trì hệ thống dân chủ và các quan hệ đối tác chiến lược cũng cho thấy sự hợp tác xuyên eo biển không cần phải có những điều kiện tiên quyết về mặt chính trị. Chìa khóa ở đây là sự minh bạch: mỗi cường quốc cần hiểu rõ quan hệ của Đài Loan với bên kia, điều này sẽ cho phép cả hai cùng được hưởng lợi từ sự ổn định và thịnh vượng của Đài Loan.

MỌI THỨ BẮT ĐẦU TỪ TRONG NƯỚC

Để thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực một cách hiệu quả, Đài Loan phải củng cố các nền tảng nội bộ của mình. Thành công kinh tế của Đài Loan trong lịch sử dựa trên sự phát triển cân bằng và thế mạnh công nghiệp đa dạng trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, tăng trưởng ngày càng tập trung vào chất bán dẫn và một nhóm nhỏ các lĩnh vực công nghệ cao, làm hạn chế lợi ích lan tỏa sang các ngành công nghiệp truyền thống, đồng thời góp phần gây ra tình trạng trì trệ tiền lương trên phần lớn nền kinh tế. Về mặt chính trị, sự phân cực trong nước đã làm suy yếu sự gắn kết quốc gia và làm giảm khả năng thể hiện sức mạnh cũng như mục đích của Đài Loan.

Chỉ bằng cách làm việc với cả Bắc Kinh và Washington, Đài Loan mới có thể cải thiện khả năng phục hồi ở trong nước. Và giới lãnh đạo Đài Loan cần xây dựng lại sự đồng thuận trong nước xoay quanh nhận thức rằng lợi ích chung của hòn đảo – sự thịnh vượng, an ninh, quản trị dân chủ – vượt xa các lợi ích đảng phái.

Đài Loan phải duy trì vị thế là một bên tham dự không thể thiếu trong nền kinh tế toàn cầu và nỗ lực nâng cao giá trị của mình đối với thế giới. Điều này có nghĩa là phải tiếp tục trân trọng các thể chế dân chủ, xã hội dân sự, và hồ sơ nhân quyền của Đài Loan, vốn vẫn là những nguồn lực quan trọng cho tính chính danh quốc tế và quyền lực mềm. Thực tế là các đánh giá quốc tế đã nhiều lần xếp hạng Đài Loan là một trong những nền dân chủ vững mạnh nhất châu Á, và trong nhiều trường hợp là của thế giới – đó là một niềm tự hào. Nền dân chủ của Đài Loan là không thể đem ra thương lượng.

Nhưng ngủ quên trên những thành tựu này trong khi hy vọng rằng chỉ riêng sự răn đe sẽ giúp ngăn chặn chiến tranh là không đủ. Đài Loan không nên là một đối tượng thụ động chịu áp lực địa chính trị, chỉ có giá trị qua những gì người khác áp đặt lên mình. Để trở thành một lực lượng ổn định thực sự, các nhà lãnh đạo Đài Loan cần mở rộng nền tảng kinh tế của hòn đảo vượt ra ngoài sự thống trị của chất bán dẫn, định hướng lại chi tiêu quốc phòng để tránh xa việc mua sắm mang tính biểu tượng, đồng thời mở các kênh liên lạc có kiểm soát với Bắc Kinh thay vì xem mọi sự can dự đều là đầu hàng. Chỉ bằng cách chủ động định hình môi trường chiến lược của mình, Đài Loan mới có thể đảm bảo hòa bình lâu dài giữa hai bờ eo biển cũng như một nền kinh tế và xã hội sôi động ở trong nước.

Trịnh Lệ Văn (Cheng Li-Wun) là Chủ tịch Quốc dân đảng.