Chiến lược leo thang của Iran sẽ không thành công

Nguồn: Raphael S. Cohen, “Iran’s Escalation Strategy Won’t Work,” Foreign Policy, 16/03/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Thói quen đánh cược của Tehran từng mang lại kết quả trong quá khứ, nhưng lần này có vẻ khác.

Chiến lược quân sự của chính quyền Iran luôn bao hàm một ván cược ngầm rằng họ có thể kiểm soát được sự leo thang. Trong phần lớn nửa thế kỷ qua, ván bài này chủ yếu đã thành công. Dù là bắt giữ con tin tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran, đánh bom doanh trại Thủy quân Lục chiến Mỹ ở Beirut và khu nhà ở của Không quân Mỹ tại Ả Rập Saudi, hay tài trợ cho các lực lượng ủy nhiệm từ Afghanistan đến Gaza và Iraq, hành động của Iran, cho đến tận gần đây, chưa bao giờ bị phản tác dụng nghiêm trọng.

Tháng này, Iran đã đặt ván cược lớn nhất từ trước đến nay vào khả năng kiểm soát leo thang của mình. Nhưng lần này, có vẻ như họ đang hướng tới một thảm họa.

Trong những cuộc đối đầu gần đây với Mỹ, Iran đã tìm cách kiểm soát vòng xoáy leo thang và theo đuổi việc sử dụng bạo lực theo kiểu “ăn miếng trả miếng” khá kiềm chế. Sau khi Mỹ tiêu diệt lãnh đạo Lực lượng Quds Qassem Suleimani vào năm 2020, Iran đã phóng tên lửa vào hai căn cứ quân sự của Mỹ ở Iraq, nhưng đáng chú ý là không làm người Mỹ nào thiệt mạng. Tương tự, sau Chiến dịch Búa Đêm (Midnight Hammer) vào tháng 6 năm ngoái, trong đó Mỹ tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran, Tehran đã đáp trả bằng một cuộc tấn công tên lửa khác – vào một căn cứ không quân của Mỹ ở Qatar, một lần nữa được dàn dựng để khẳng định quan điểm, nhưng không thúc đẩy một xung đột rộng lớn hơn. Trong những phản ứng này, Iran dường như quan tâm đến thông điệp công khai từ các tên lửa của mình hơn là bất kỳ hiệu quả quân sự thực tế nào.

Nhưng lần này thì khác. Iran đã theo đuổi cái có thể gọi một cách thiện ý là chiến lược “leo thang để xuống thang.” Họ không chỉ tấn công các mục tiêu của Israel và Mỹ mà còn cả các quốc gia khác trong khu vực, bao gồm những nước mà cho đến nay vẫn tương đối thân thiện với chính quyền này – như Oman, Qatar, và Thổ Nhĩ Kỳ. Hơn nữa, Iran còn nhắm mục tiêu vượt ra ngoài các cơ sở quân sự để tấn công cơ sở hạ tầng dầu mỏ, khách sạn, và sân bay, những huyết mạch của nền kinh tế khu vực. Có lẽ, họ đang giả định rằng, bằng cách gây tổn hại cho các đồng minh và đối tác của Mỹ trong khu vực – chưa kể đến mọi quốc gia khác phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ tại đây – họ sẽ làm gia tăng áp lực buộc chính quyền Trump chấm dứt chiến tranh.

Vấn đề là các chiến lược “leo thang để xuống thang” hiếm khi hiệu quả. Trong Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, nhà độc tài Iraq Saddam Hussein từng đặt cược rằng bằng cách bắn tên lửa vào Israel, ông có thể khiêu khích nước này tham chiến và từ đó phá vỡ – hoặc chí ít cũng làm phức tạp hóa – liên minh các đối tác Ả Rập do Mỹ dẫn đầu. Thay vào đó, Mỹ lại tích cực nỗ lực săn lùng các bệ phóng tên lửa của Iraq để đổi lấy việc Israel không tham gia vào xung đột. Chiến dịch săn lùng tên lửa Scud xét về mặt tác chiến là không mấy thành công, nhưng nó đã hiệu quả trong việc giữ Israel đứng ngoài cuộc xung đột và giữ cho liên minh chống Iraq đoàn kết.

Gần đây hơn, Nga cũng thử các chiến thuật tương tự. Những lời đe dọa tiến hành chiến tranh hạt nhân của Điện Kremlin có thể đã ảnh hưởng đến các quyết định gửi viện trợ quân sự cho Ukraine của chính quyền Biden, nhưng không ngăn chặn hoàn toàn sự hỗ trợ đó. Tháng 9 năm ngoái, Nga đã cho máy bay không người lái bay vào Ba Lan, theo đó vi phạm không phận NATO, đồng thời tăng cường các hoạt động bí mật ở châu Âu để gây áp lực buộc NATO ngừng hỗ trợ Ukraine. Nhưng những hành động đó chỉ làm tăng thêm quyết tâm của châu Âu trong việc ủng hộ Ukraine và phản đối sự xâm lược của Nga.

Chiến lược “leo thang để xuống thang” của Iran gần như chắc chắn cũng sẽ phản tác dụng. Khả năng mà các quốc gia bị nước này nhắm mục tiêu, bao gồm cả thông qua lực lượng ủy nhiệm ở Lebanon là Hezbollah – Azerbaijan, Bahrain, Cyprus, Iraq, Israel, Jordan, Kuwait, Oman, Qatar, Ả Rập Saudi, và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) – tham gia vào cuộc chiến chống lại Iran cũng nhiều như khả năng họ thúc đẩy một lệnh ngừng bắn. Suy cho cùng, các đợt bắn phá tên lửa của Iran không chỉ đánh vào các căn cứ của Mỹ, mà còn vào cả dân thường và nền kinh tế của các quốc gia này. Đã có những dấu hiệu ban đầu cho thấy Ả Rập Saudi, UAE, và nhiều nước khác đang cân nhắc việc trả đũa.

Điều đó sẽ làm sâu sắc thêm tình thế lưỡng nan về chiến lược của Tehran. Các quốc gia Vùng Vịnh sở hữu kho vũ khí đáng gờm của riêng họ. Chỉ riêng ngân sách quốc phòng của Ả Rập Saudi đã là 78 tỷ USD vào năm 2025, gấp khoảng ba lần so với Iran. Ngay cả khi các nước này chọn không tham gia trực tiếp vào cuộc chiến, họ vẫn có thể hỗ trợ theo những cách khác: cung cấp tình báo hoặc đóng băng tài sản của Iran. Cánh cửa cũng có thể mở ra cho sự can thiệp của châu Âu, bởi NATO hiện đã đánh chặn các tên lửa trên bầu trời Thổ Nhĩ Kỳ và một máy bay không người lái đã rơi tại một căn cứ của Anh ở Cyprus.

Các chiến thuật khác của Iran chắc chắn sẽ làm mất lòng cả những quốc gia ở xa hơn. Phần lớn châu Á – bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, và Nhật Bản – phụ thuộc vào dầu mỏ từ Vịnh Ba Tư, nhưng những hệ lụy kinh tế đang được cảm nhận ở cả những nơi xa xôi như Mỹ Latinh. Dù các quốc gia này không nhất thiết ủng hộ hành động của Mỹ và Israel, nhưng các chiến thuật của Iran sẽ không nhận được cảm tình từ họ. Nếu một chính quyền Iran tuyệt vọng bắt tay thực hiện một chiến dịch khủng bố toàn cầu, như một số chuyên gia dự đoán, điều đó cũng sẽ không giúp họ có thêm bất kỳ người bạn nào.

Ngay cả khi các nước này thúc giục Mỹ và Israel chấm dứt chiến tranh, thì liệu điều đó có hiệu quả không? Chiến lược của Iran vẫn dựa trên một khẳng định mơ hồ rằng nhóm nước này có đủ đòn bẩy đối với Tổng thống Mỹ Donald Trump hoặc Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu để buộc Mỹ hoặc Israel thay đổi chính sách. Có rất ít bằng chứng cho thấy trường hợp đó sẽ xảy ra.

Trump đã là một người có quan điểm cứng rắn với Iran kể từ khi nước Cộng hòa Hồi giáo này mới thành lập. Năm 1980, ông từng kêu gọi can thiệp quân sự chống lại Iran để giải quyết cuộc khủng hoảng con tin. Kể từ đó, ông luôn ủng hộ việc sử dụng bàn tay sắt – bao gồm cả vũ lực – để đối phó với những sai phạm của Iran. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông đã biến việc rút khỏi Kế hoạch Hành động Toàn diện Chung, thường được biết đến với tên gọi thỏa thuận hạt nhân Iran, và thay thế nó bằng chiến dịch “áp lực tối đa” làm trọng tâm trong chính sách Trung Đông của mình. Ông gọi việc tiêu diệt Suleimani là một trong những thành tựu rực rỡ nhất trong nhiệm kỳ đầu của mình và xem các cuộc tấn công năm ngoái vào các cơ sở hạt nhân của Iran là một “thành công vang dội.”

Thái độ cứng rắn của Netanyahu đối với Iran cũng nhất quán tương tự. Ông đã cảnh báo về những mối nguy từ chính quyền Iran suốt hơn ba thập kỷ. Từ rất sớm, ông thậm chí còn so sánh mối đe dọa từ một Iran có vũ khí hạt nhân với mối đe dọa từ Liên Xô. Và giống như Trump, ông luôn hoài nghi về các giải pháp ngoại giao đối với sự phổ biến hạt nhân của Iran. Giờ đây, khi Netanyahu đã nhìn thấy cơ hội để chấm dứt mối đe dọa này bằng quân sự, sẽ rất khó để bất kỳ tác nhân khu vực nào có thể thuyết phục ông lùi bước.

Tất cả những điều này còn chưa tính đến các cá tính và yếu tố chính trị cụ thể liên quan. Trump xem việc lùi bước là dấu hiệu của sự yếu đuối. Như chúng ta đã thấy gần đây với các biểu thuế toàn cầu, ông thường hành động quyết liệt hơn khi một chính sách không được lòng dân, gây ra hệ lụy kinh tế, hoặc gặp phải rào cản. Trump và Netanyahu cũng cho thấy họ sẵn sàng đi ngược lại mong muốn của các đồng minh và đối tác. Cả hai nhà lãnh đạo đang ở trong năm bầu cử và có lý do để tin rằng một chiến thắng quân sự sẽ có lợi cho vận mệnh chính trị của họ. Những lời thỉnh cầu từ các tác nhân khu vực khác, nếu có, nhiều khả năng sẽ bị phớt lờ.

Nếu vì một cơ hội nào đó mà chiến lược “leo thang để xuống thang” của Iran tạo ra được áp lực ngoại giao để chấm dứt chiến tranh – hoặc, khả năng cao hơn, là sự kết hợp giữa dư luận Mỹ đang giảm sút và áp lực kinh tế toàn cầu khiến Trump đảo ngược lộ trình – Tehran vẫn sẽ gây ra thiệt hại dài hạn cho chính mình. Dù sở hữu nguồn tài nguyên dầu mỏ, nền kinh tế tả tơi của Iran vẫn phụ thuộc vào những quan hệ tốt đẹp với phần còn lại của khu vực. Ước tính khoảng 60% thương mại của Iran là với các nước láng giềng. Trước cuộc xung đột hiện tại, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Iran, nhưng Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, và UAE cũng nằm trong nhóm năm đối tác hàng đầu.

Iran tự xem mình là bá chủ tự nhiên của Trung Đông nhờ vào dân số đông đảo, dầu mỏ dồi dào, và lịch sử đế chế có từ thời Ba Tư cổ đại. Nhưng thật khó để nước này trở thành lãnh đạo khu vực nếu họ chọn bắn phá cả bạn lẫn thù. Những ký ức ở Trung Đông thường tồn tại rất lâu, và những hành động của Iran trong tháng này có thể để lại tiếng vang qua nhiều thế hệ. Ngay cả khi chính quyền này tồn tại được sau những trận bom của Mỹ và Israel, họ vẫn sẽ bước ra khỏi cuộc xung đột này trong tình trạng nghèo hơn, yếu hơn, và bị cô lập hơn bao giờ hết. Nói cách khác, ngay cả khi Iran thắng cuộc chiến này theo nghĩa hẹp, thì chiến thắng của họ chắc chắn sẽ là một chiến thắng phải trả giá rất đắt.

Và đó chính là vấn đề với thói quen đánh cược chiến lược của Iran. Cứ gieo xúc xắc đủ nhiều, và cuối cùng xác suất sẽ chống lại bạn. Iran sắp học được bài học này, và họ sẽ chỉ có thể tự trách mình.

Raphael S. Cohen là giám đốc Chương trình Chiến lược và Học thuyết tại Dự án Không quân của Tập đoàn Rand và là giám đốc Chương trình An ninh Quốc gia thuộc Trường Chính sách Công Rand.