
Nguồn: Hugo Bromley, “Europe Cannot Be a Military Power,” Foreign Affairs, 17/03/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Tại sao hội nhập quốc phòng có thể làm rạn nứt lục địa già?
Kể từ khi Thế chiến II kết thúc, các quốc gia Tây Âu đã dựa vào Mỹ để đảm bảo an ninh. Nhờ được bảo vệ như vậy, các nước này có thể tự do theo đuổi hội nhập kinh tế trong khi vẫn duy trì hệ thống chính phủ dân chủ của mình. Trách nhiệm được chia đôi, với Washington đảm nhận an ninh của lục địa, còn Brussels gánh vác vai trò kinh tế ngày một lớn hơn. Giờ đây, sự phân chia trách nhiệm này đang trở nên bấp bênh. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đề nghị mua lại Greenland, công kích các nhà lãnh đạo Châu Âu, và can thiệp vào chính trị nội bộ của các nước Châu Âu. Gần đây hơn, ông cảnh báo rằng, nếu các đồng minh NATO không hỗ trợ mở cửa Eo biển Hormuz, “điều đó sẽ rất tồi tệ cho tương lai của NATO.”
Thái độ đối đầu của Trump đã thúc đẩy các nhà lãnh đạo, trong đó có Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, kêu gọi “tự chủ chiến lược” khỏi Washington. Trên Foreign Affairs, các nhà phân tích – bao gồm Erik Jones và Matthias Matthijs – đã đề xuất rằng Liên minh Châu Âu phải đảm nhận vai trò lớn hơn trong an ninh của lục địa. Họ lập luận rằng điều này nên là một phần của nỗ lực rộng lớn hơn nhằm trở thành một “cường quốc toàn cầu” có khả năng đối trọng với các chính sách của chính quyền Trump.
Đây sẽ là một sai lầm. Liên minh Châu Âu là một công cụ hợp tác kinh tế. Nó là một dự án hòa bình, chứ không phải một dự án chiến tranh. Nó đã cực kỳ thành công trong nỗ lực này, đạt được mục tiêu nền tảng là gắn kết Pháp và Đức lại với nhau về mặt kinh tế. Nhưng thành công đó đòi hỏi cam kết liên tục của Washington đối với NATO. Thay đổi sự sắp xếp này sẽ tạo ra những căng thẳng giữa các quốc gia thành viên, và cuối cùng sẽ đe dọa các cấu trúc hợp tác hiện tại của Châu Âu. Ủy ban Châu Âu cần lùi lại và cho phép các liên minh của các quốc gia dân tộc từ trong và ngoài khối phát triển các quan hệ đối tác liên chính phủ mới. Chỉ thông qua quá trình này, Washington và Brussels mới có thể củng cố an ninh Châu Âu – và đảm bảo sự tồn tại của chính dự án Châu Âu.
ĐẶT NỀN MÓNG
Đối mặt với những lời đe dọa của Trump, các nhà lãnh đạo Châu Âu bao gồm Macron và Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen đã tuyên bố rằng Châu Âu nên hành động như một cường quốc toàn cầu. Dù Liên minh Châu Âu ngày càng tỏ ra hào hứng với việc đảm nhận trọng trách này, nhưng họ không ở vị thế để làm điều đó. Nói đúng hơn, Brussels hiện đang cần Washington hơn bao giờ hết. Lý do rất đơn giản: xuyên suốt lịch sử, lực lượng chịu trách nhiệm lớn nhất cho quá trình hội nhập Châu Âu chính là Mỹ. Sự ủng hộ của Washington đối với một Châu Âu thống nhất bắt nguồn từ cuối Thế chiến II và niềm tin của chính quyền Truman rằng hội nhập là cách hiệu quả nhất để tái thiết lục địa bị tàn phá và ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Cách tiếp cận của Mỹ không phải lúc nào cũng được hoan nghênh. Chính phủ Anh thậm chí còn xem mong muốn của Washington về hội nhập Châu Âu là sự can thiệp từ bên ngoài, đe dọa các hệ thống chính phủ dân chủ của Châu Âu.
Do đó, các thể chế hội nhập kinh tế Châu Âu ban đầu được thiết kế để bổ sung, chứ không phải thay thế, chủ quyền quốc gia. Thỏa hiệp này đã chứng minh được sức bền phi thường. Các nhà lãnh đạo Châu Âu đã nỗ lực xóa bỏ rào cản về giao tiếp và trao đổi, bắt đầu bằng việc thành lập Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) vào năm 1948, và Cộng đồng Than Thép Châu Âu (ECSC) vào năm 1951. Sáu năm sau, ECSC được Hiệp ước Rome chuyển đổi thành Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC). Khi dự án Châu Âu dần đi sâu và mở rộng, các thể chế và cơ quan hội nhập kinh tế cũng bám rễ vững chắc.
Tuy nhiên, quá trình này không đi kèm với một sự hội nhập tương tự về năng lực quốc phòng. Sau khi Quốc hội Pháp bỏ phiếu chống lại ý tưởng về một Cộng đồng Phòng thủ Châu Âu vào năm 1954, không có chính sách quốc phòng chung nào thực sự có ý nghĩa được phát triển. Thay vào đó, NATO quyết định cung cấp một khuôn khổ phòng thủ chung thông qua hợp tác liên chính phủ, đảm bảo sự liên minh của Châu Âu với Mỹ để chống lại Liên Xô. Đổi lại, Washington chấp nhận rằng họ sẽ phải gánh phần lớn gánh nặng tài trợ và triển khai các tài sản quân sự cần thiết để răn đe sự bành trướng của Liên Xô.
Hồi kết của Chiến tranh Lạnh đã tạo ra một sự thay đổi. Để phản ứng lại sự sụp đổ của Bức tường Berlin năm 1989 và sự thống nhất nước Đức năm 1990, Washington đã hợp tác với Paris và Berlin để thúc đẩy hội nhập Châu Âu chặt chẽ hơn. Hiệp ước Maastricht năm 1992 – nền tảng thành lập Liên minh Châu Âu – đã ràng buộc các bên ký kết vào một “Liên minh ngày càng chặt chẽ” cả về kinh tế và chính trị, đạt được một phần thông qua việc tạo ra đồng euro. Để ngăn chặn sự phân biệt đối xử kinh tế quá mức chống lại Mỹ, hiệp ước này được gắn liền với việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và một cách tiếp cận pháp lý mới để đảm bảo các thông lệ công bằng trong thương mại quốc tế.
Nhưng ngay cả mức độ hội nhập hạn chế do Maastricht đề xuất cũng gặp phải khó khăn ở các quốc gia thành viên. Cử tri Đan Mạch đã từ chối hiệp ước này trong một cuộc trưng cầu dân ý, và Copenhagen sau đó được trao một loạt quyền miễn trừ để đổi lấy sự đồng thuận. Tại Pháp, cử tri đã ủng hộ hiệp ước, nhưng chỉ với 51% số phiếu. Quá trình phê chuẩn tại Quốc hội đã làm rạn nứt Đảng Bảo thủ Anh, làm suy yếu nghiêm trọng chính phủ của Thủ tướng John Major. Nếu Hiệp ước Maastricht còn bao gồm một cam kết thực sự về phòng thủ chung, việc phê chuẩn có lẽ sẽ là điều bất khả.
Dù vậy, thỏa thuận cũ vẫn được giữ nguyên. Sức mạnh quân sự của Mỹ đã đảm bảo rằng các nước Châu Âu có thể đào sâu hội nhập kinh tế và theo đuổi việc mở rộng trong khi bỏ qua vấn đề phòng thủ chung. Giá trị của sự phân chia trách nhiệm này được đánh giá cao ở Washington, và được Thượng nghị sĩ Mỹ Richard Lugar bày tỏ rõ ràng nhất trong một bài phát biểu năm 1993. Ông lập luận rằng NATO là cần thiết để ngăn chặn “niềm tự hào dân tộc lành mạnh” – điều rất quan trọng đối với một lục địa hòa bình và thịnh vượng – biến thành “chủ nghĩa dân tộc bài ngoại tàn phá.” Lugar cũng cảnh báo, nếu liên minh này rạn nứt, Châu Âu sẽ có “nguy cơ vỡ vụn một lần nữa.”
CỤC DIỆN THAY ĐỔI
Trong giai đoạn giữa các cuộc tấn công ngày 11/09/2001 và việc Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014, mối đe dọa đối với khu vực Châu Âu-Đại Tây Dương chủ yếu đến từ chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo toàn cầu. Giờ đây, mối đe dọa đó đến từ một nơi gần nhà hơn rất nhiều, một thực tế đã được xác nhận qua cuộc xâm lược toàn diện của Tổng thống Nga Vladimir Putin vào Ukraine năm 2022. Hồi kết của Chiến tranh Lạnh đã buộc dự án Châu Âu phải thay đổi; thời đại mới này, khi toàn vẹn lãnh thổ của Châu Âu lại một lần nữa gặp rủi ro, cũng phải thúc đẩy một hành động tương tự.
Nhu cầu thay đổi càng trở nên cấp bách bởi sự dịch chuyển quyền lực toàn cầu hướng về Thái Bình Dương. Khi Hiệp ước Maastricht được ký kết vào năm 1992, Liên minh Châu Âu và Mỹ cùng nhau chiếm hơn một nửa nền kinh tế toàn cầu. Thị phần của Mỹ vẫn giữ nguyên, ở mức 26,3% vào năm 2023. Nhưng tỷ trọng của Liên minh Châu Âu đã bị thu hẹp đáng kể, xuống chỉ còn 14,7%. Trong khi đó, Trung Quốc vươn lên trở thành đối thủ ngang tầm của Mỹ. WTO được hình thành như một phương tiện để điều chỉnh quan hệ thương mại Mỹ-EU như một phần của nền kinh tế toàn cầu hóa mới, nhưng nó lại thất bại trong việc thách thức Trung Quốc về hành vi đánh cắp tài sản trí tuệ có hệ thống và các chính sách công nghiệp phản cạnh tranh của nước này. Bắc Kinh ngày càng trở nên quyết đoán trên trường quốc tế, và do đó Washington cảm thấy cần phải chuyển dời các nguồn lực của mình khỏi Châu Âu, để bảo vệ Đài Loan và đối phó với những thách thức ở Mỹ Latinh.
Chính quyền Trump đã đúng khi cho rằng quan hệ xuyên Đại Tây Dương cần được tái cấu trúc. Như Peter Harrell đã lập luận trên Foreign Affairs, cách tiếp cận mang tính phổ quát và pháp lý đối với thương mại quốc tế từng được theo đuổi trong thập niên 1990 đã không còn phù hợp trong kỷ nguyên của cạnh tranh giữa các siêu cường. Các thỏa thuận thương mại mới mà Washington ký với Liên minh Châu Âu và Anh vào năm 2025, với trọng tâm là an ninh kinh tế và giải quyết tình trạng dư thừa công suất của Trung Quốc, là một bước đi đúng hướng. Tuy nhiên, các hành động khác của Washington lại làm suy yếu những thành tựu này. Việc Trump liên tục sẵn sàng chấp nhận các chiêu trò thao túng của Putin một cách mù quáng đã khiến Ukraine và các đối tác thân thiết ở Châu Âu bối rối và thất vọng. Cách tiếp cận đàm phán hỗn loạn của Tổng thống Mỹ làm xói mòn chính những thỏa thuận thương mại mà chính quyền của ông đã đàm phán. Và tệ nhất là, nỗ lực mua lại Greenland của Trump đã buộc các đối tác NATO phải đặt câu hỏi về những giả định nền tảng mà liên minh này dựa vào.
NHỮNG Ý ĐỊNH TỐT ĐẸP
Giữa bối cảnh này, cũng dễ hiểu khi xuất hiện những lời kêu gọi Liên minh Châu Âu trở thành một “cường quốc toàn cầu.” Nhưng những lời kêu gọi ấy mang theo nguy cơ gây ra thảm họa cho cả hai bờ Đại Tây Dương. Liên minh Châu Âu không có quân đội, và Brussels không thể chi tiền trực tiếp cho quốc phòng. Họ chỉ có thể trợ cấp cho các quốc gia thành viên thông qua các khoản tài trợ tài chính hoặc, về lý thuyết, bằng cách phát hành nợ chung. Theo hệ thống hiện tại, hành động trợ cấp sẽ tương đương với việc chuyển giao nguồn tiền từ Đức và Hà Lan sang Pháp, Hy Lạp, Ý, và các quốc gia chi tiêu cao khác. Vấn đề là những nước có khả năng hưởng lợi này có các quan ngại an ninh chính đáng khác nhau, chủ yếu ở Đông Địa Trung Hải, Trung Đông, và Bắc Phi, những khu vực ít liên quan đến mối đe dọa từ Nga. Việc yêu cầu người nộp thuế ở Đức và Hà Lan tài trợ vô thời hạn cho những cam kết này có nguy cơ gây ra phản ứng dữ dội đầy nguy hiểm.
Một lĩnh vực quốc phòng Châu Âu hợp nhất cũng đòi hỏi các quốc gia phải từ bỏ các nguồn việc làm và doanh thu xuất khẩu trọng yếu để ủng hộ một hệ thống có rất ít sự giám sát hoặc phối hợp dân chủ. Bất chấp những lời lẽ hoa mỹ của Macron, Pháp đang là quốc gia phản đối mạnh mẽ nhất việc hợp nhất lĩnh vực quốc phòng Châu Âu. Bởi một bước đi như vậy sẽ buộc Paris phải từ bỏ các nguyên tắc độc lập dân tộc vốn đã dẫn dắt chính sách quốc gia của họ kể từ năm 1958. Việc Pháp chần chừ không chịu từ bỏ quyền kiểm soát quốc phòng đã phá hỏng dự án máy bay chiến đấu FCAS Pháp-Đức. Người ta rất dễ chỉ trích Paris vì điều này, nhưng nhiều quan ngại của họ là có thể hiểu được. Để tạo ra một lĩnh vực quốc phòng Châu Âu sẽ đòi hỏi sự hiểu biết chung giữa tất cả các quốc gia thành viên về bản chất của những mối đe dọa mà Châu Âu phải đối mặt, cách những mối đe dọa đó định hình sự phát triển của các năng lực mới, ai sẽ kiểm soát tài sản trí tuệ đằng sau những năng lực đó, và trên hết, một cách tiếp cận chung đối với xuất khẩu vũ khí. Brussels không sở hữu đủ năng lực, chuyên môn, hoặc tính chính danh dân chủ để trả lời những câu hỏi này.
Một hiệp ước mới có thể giải quyết vấn đề này và thiết lập cả khuôn khổ lẫn sự đồng thuận cho việc hội nhập Châu Âu sâu rộng hơn trong lĩnh vực quốc phòng. Nhưng nỗ lực đàm phán một hiệp ước như vậy sẽ làm đảo lộn nền chính trị của châu lục. Một số quốc gia thành viên hiện nằm ngoài NATO và đang cam kết trung lập, hoặc công khai bày tỏ thiện cảm với Nga. Việc thay đổi hiệp ước vì phòng thủ chung sẽ phá hủy khuôn khổ hợp tác mỏng manh đang gắn kết Bắc Âu và Nam Âu lại với nhau. Các quốc gia thành viên phía Bắc nhiều khả năng sẽ tìm cách cắt giảm các chương trình phúc lợi ở các quốc gia phía Nam như một phần của bất kỳ động thái thúc đẩy chi tiêu quốc phòng mới nào, như Ngoại trưởng Đức Johann Wadephul đã ám chỉ vào tháng trước. Sự phản đối của công chúng đối với những đợt cắt giảm đó tại các quốc gia này sẽ là rất lớn.
Trên hết, bất kỳ động thái nào hướng tới chính sách quốc phòng chung đều sẽ đe dọa khế ước xã hội của Đức. Sự kết hợp giữa nguồn việc làm dồi dào trong ngành sản xuất-chế tạo và tư cách thành viên trong khu vực đồng euro đã giúp duy trì nước này suốt hàng thập kỷ. Nhưng giờ đây, khế ước xã hội đó đã bắt đầu rạn nứt. Ngành sản xuất-chế tạo của Đức đang chật vật thích nghi sau khi mất đi quyền tiếp cận nguồn năng lượng giá rẻ của Nga. Họ cũng đang chịu áp lực khổng lồ và ngày càng chất chồng từ sự cạnh tranh của Trung Quốc. Hồi tháng 2, Brussels đã quyết định hỗ trợ Ukraine thông qua việc phát hành nợ chung thay vì sử dụng tài sản bị tịch thu của Nga, bất chấp sự phản đối của Berlin. Về cơ bản, những người ủng hộ quyền lực chung Châu Âu đang yêu cầu những người nộp thuế ở Đức phải đồng thời tăng chi tiêu quốc phòng, mua sắm các thiết bị quân sự chủ yếu được sản xuất bên ngoài nước Đức, và trợ cấp cho chi tiêu quốc phòng của các nước Châu Âu khác. Xét riêng lẻ, mỗi yêu cầu trong số này đều mang tính châm ngòi xung đột, có nguy cơ làm tăng sự ủng hộ đối với các đảng phái cực đoan của cả cánh tả và cánh hữu. Khi gộp chung lại, chúng chẳng khác gì một thùng thuốc súng chực chờ bùng nổ.
TRÁNH XA BỜ VỰC CHIA RẼ
Để đổi mới thỏa thuận Châu Âu-Đại Tây Dương, các thể chế của Liên minh Châu Âu phải lùi lại khỏi các vấn đề quốc phòng và tập trung vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua các thẩm quyền hiện có. Trong ngắn hạn, sẽ không có sự thay thế nào cho việc Mỹ cung cấp các năng lực đắt tiền và công nghệ tiên tiến cần thiết để răn đe Nga. Trong dài hạn, các chương trình chi tiêu mới nên được phát triển thông qua các thỏa thuận liên chính phủ, với việc NATO tập trung vào duy trì khả năng tương tác giữa các thành viên. Washington không nên kỳ vọng sự gia tăng chi tiêu quốc phòng giữa các quốc gia thành viên EU sẽ bằng nhau về tỷ lệ phần trăm. Thay vào đó, những cam kết này nên khác nhau, tùy thuộc vào không gian tài khóa và sự sẵn lòng của cử tri đối với việc gia tăng chi tiêu. May mắn thay, các quốc gia ở Bắc Âu và ở sườn phía đông của NATO chính là những nước có khả năng và sẵn sàng tăng cường ngân sách quốc phòng nhất để đối phó với mối đe dọa từ Nga.
Các nước Châu Âu cũng nên tìm kiếm các đối tác bên ngoài biên giới của họ. Các dự án như chương trình phát triển máy bay chiến đấu GCAP giữa Ý, Nhật Bản, và Anh sẽ giúp tăng cường an ninh cho Châu Âu. Tương tự, Ba Lan đã đúng khi hướng tới Hàn Quốc để tìm nguồn cung thiết bị quân sự và học hỏi chuyên môn, vì cả hai đều dựa vào lực lượng bộ binh thông thường quy mô lớn. Các quốc gia thành viên EU nên cam kết trao tư cách đối tác cho tất cả các đồng minh hiệp ước của Mỹ trong các sáng kiến tài trợ quốc phòng của Brussels. Điều này sẽ khuyến khích sự hợp tác đôi bên cùng có lợi và hạn chế mong muốn của Ủy ban Châu Âu trong việc sử dụng tái vũ trang như một công cụ để hội nhập.
Đối tác quan trọng nhất của Mỹ trong quá trình tái cân bằng này vẫn là Anh. Thông qua hợp tác hạt nhân và công nghiệp-quốc phòng, cũng như mạng lưới chia sẻ tình báo Ngũ Nhãn, London và Washington duy trì một tình bạn địa chính trị chưa từng có và ngày càng sâu sắc. Chính phủ Bảo thủ tiền nhiệm đã tiên phong trong các quan hệ đối tác quốc phòng “tiểu đa phương” thông qua AUKUS, thỏa thuận an ninh giữa Australia, Anh, và Mỹ, và thông qua Lực lượng Viễn chinh Chung, một phương tiện hợp tác giữa các nước Baltic và Biển Bắc để chống lại các hành động của Nga. Nhưng nói vậy không có nghĩa là London đang làm tất cả những gì họ nên làm. Bất chấp sự ủng hộ mạnh mẽ của lưỡng đảng dành cho Ukraine, chi tiêu quốc phòng của Anh vẫn tăng quá chậm và dự kiến sẽ không đạt 3,5% cho đến năm 2035. Washington nên khuyến khích Anh chi tiêu 3% GDP trước khi Quốc hội hiện tại kết thúc nhiệm kỳ vào năm 2029.
Bằng cách ưu tiên hợp tác liên chính phủ giữa các quốc gia có cùng chí hướng, Washington và Brussels có thể đảm bảo hòa bình và thịnh vượng ở Châu Âu cho một thế hệ nữa. Tuy nhiên, để làm được điều đó, các nhà hoạch định chính sách ở cả hai bờ Đại Tây Dương cần nhìn nhận các thể chế Châu Âu đúng với bản chất của chúng, chứ không phải như những gì họ mong muốn. Phân chia trách nhiệm giữa các vấn đề kinh tế và quân sự đã duy trì nền hòa bình trên toàn khu vực Châu Âu-Đại Tây Dương trong hơn 70 năm qua. Bỏ qua sự sắp xếp này là đánh cược với thảm họa.
Hugo Bromley là Nghiên cứu viên Lịch sử Ứng dụng tại Trung tâm Địa chính trị, Đại học Cambridge.
