
Nguồn: Stephen M. Walt, “The United States Has Become a Rogue State”, Foreign Policy, 26/03/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Chính quyền Trump thứ hai đang tỏ ra rắc rối, gây hại và nguy hiểm hơn nhiều so với dự tính của hầu hết các nhà quan sát—bao gồm cả tôi—và cuộc chiến bất khả thi đầy bi kịch với Iran đang chứng minh điều đó một cách không thể chối cãi. Hệ quả là, mọi quốc gia trên thế giới đều đang phải loay hoay tìm cách đối phó với một nước Mỹ ngày càng bất hảo. Hãy tự hỏi: Nếu bạn lãnh đạo Ả Rập Saudi, Brazil, Đức, Indonesia, Nigeria, Đan Mạch, Úc, v.v., bạn sẽ làm gì?
Đây là lý do tại sao đó là một bài toán hóc búa. Nước Mỹ vẫn rất hùng mạnh, dù họ đang theo đuổi những chính sách vốn sẽ làm họ suy yếu theo thời gian, như chủ nghĩa trọng thương sai lầm, các cuộc tấn công mù quáng vào khoa học và giới học thuật, thái độ thù địch lộ liễu với mọi kiểu người nhập cư, lún sâu vào sự lệ thuộc dầu mỏ, chi tiêu quân sự lãng phí, thâm hụt kinh tế triền miên…. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, các quốc gia khác vẫn phải lo sợ rằng quyền lực của Mỹ có thể được dùng để gây hại cho họ, dù là cố ý hay vô tình.
Thứ hai, như tôi đã tranh luận từ lâu ở nhiều nơi khác, Mỹ hiện đang hành xử như một bá quyền cá lớn nuốt cá bé, lợi dụng những vị thế đòn bẩy được xây dựng qua nhiều thập kỷ để bóc lột cả đồng minh lẫn đối thủ. Cách tiếp cận “tổng bằng không” đối với gần như mọi mối quan hệ bao gồm sự thù địch sâu sắc đối với hầu hết các định chế và chuẩn mực quốc tế, những hành vi thất thường có tính toán, và xu hướng đối xử với các nhà lãnh đạo nước ngoài bằng sự khinh miệt lộ liễu trong khi lại đòi hỏi sự phục tùng và lòng trung thành đến mức hạ nhục từ họ. Khi hệ lụy từ cuộc chiến ở Iran lan rộng khắp khu vực và thế giới, nó càng khẳng định rằng chính quyền này hoặc không hiểu hành động của mình sẽ ảnh hưởng đến các quốc gia khác ra sao, hoặc đơn giản là họ chẳng quan tâm.
Điều này dẫn tôi đến vấn đề thứ ba: Chính sách đối ngoại của Mỹ hiện nằm trong tay một bộ máy quan chức bất tài đến kinh ngạc, từ tổng thống đến cấp dưới. Tầm ảnh hưởng quốc tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng một trong những nguyên liệu then chốt là niềm tin của các quốc gia khác rằng những người họ đang làm việc cùng là những người thông minh, am tường và nói chung là biết mình đang làm gì. Tại thời điểm này, liệu có ai trong hàng ngũ cấp cao của chính quyền Trump xứng đáng với mô tả đó? Tôi thì không thấy ai. Thực hiện chính sách đối ngoại là một công việc khó khăn, và không chính phủ nào có thể làm đúng mọi thứ, nhưng chính quyền này lại đang tự phản lưới nhà hàng tuần trong khi vẫn khăng khăng rằng mình không bao giờ sai.
Để khiến mọi chuyện tệ hơn, một số đặc điểm này sẽ không dễ dàng được khắc phục sau khi Trump rời nhiệm sở, kể cả khi ông bị thay thế bởi một người có quan điểm hoàn toàn khác. Năng lực thể chế của bộ máy đối ngoại Mỹ đang bị rỗng hóa khi các công chức giàu kinh nghiệm nghỉ hưu hoặc bị sa thải (bao gồm cả một số sĩ quan quân đội cao cấp) và không được thay thế, hoặc bị lấp đầy bởi những người trung thành với phe Trump.
Và vì chính trường Mỹ vẫn đang bị phân cực sâu sắc, các quốc gia khác cũng phải lo ngại rằng con lắc chính trị sẽ chỉ đơn giản là dao động qua lại giữa các thái cực. Người Mỹ đã bầu Trump không chỉ một mà là hai lần, và họ hoàn toàn có thể bầu một người tương tự một lần nữa. Với thực tế đó, làm sao bất kỳ quốc gia nào có thể tin tưởng vào bất kỳ cam kết nào mà Washington đưa ra hôm nay, hay dưới thời một tổng thống Đảng Dân chủ?
Điểm mấu chốt là phần còn lại của thế giới sẽ phải đối phó với một nước Mỹ hùng mạnh, có lẽ là cá lớn nuốt cá bé, và cực kỳ thất thường trong ít nhất ba năm tới và có thể lâu hơn. Nếu trường hợp là như vậy, thì các quốc gia khác nên làm gì, hãy nhớ rằng Mỹ không phải là kẻ săn mồi nguy hiểm duy nhất ngoài kia (và đối với một số nước, những mối nguy hiểm tức thời hơn còn nằm sát vách nhà).
Để nhắc lại câu hỏi của tôi: Nếu bạn điều hành chính sách đối ngoại của một quốc gia khác, bạn sẽ làm gì?
Dưới đây là những lựa chọn chính mà tôi biết.
1. Cân bằng quyền lực (Balance)
Xuyên suốt lịch sử, cách cổ điển để đối phó với các quốc gia hùng mạnh và nguy hiểm là cân bằng quyền lực, thông qua nỗ lực tự thân hoặc liên kết với các quốc gia khác (hoặc cả hai). Người ta thấy xu hướng này trong “quan hệ đối tác không giới hạn” của Nga và Trung Quốc, sự hỗ trợ mà Triều Tiên cung cấp cho Nga tại Ukraine, mạng lưới ủy nhiệm mà Iran hậu thuẫn khắp Trung Đông, và trong sự hỗ trợ tình báo mà Nga được cho là đang cung cấp cho Iran.
Một biến thể mà một số quốc gia có khả năng áp dụng là “cân bằng mềm”, sự phối hợp có ý thức trong hành động ngoại giao nhằm cản trở mục tiêu của một quốc gia hùng mạnh. Một minh chứng điển hình là quyết định phối hợp của Pháp, Đức và Nga nhằm phản đối nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc năm 2002 vốn cho phép Mỹ tấn công Iraq; dù nó không thuyết phục được chính quyền Bush từ bỏ chiến tranh, nhưng nó đã phơi bày sự cô lập của Mỹ (và Anh) đồng thời làm tăng cái giá chính trị mà mỗi bên cuối cùng phải trả.
Phản ứng của châu Âu trước lời đe dọa thâu tóm Greenland từ Đan Mạch của Trump là một ví dụ rõ ràng khác—một phản ứng ngoại giao có phối hợp nhằm ngăn chặn một quốc gia hùng mạnh thực hiện một hành động không mong muốn—mặc dù nó cũng có cả yếu tố quân sự. Cân bằng mềm dường như là điều mà Thủ tướng Canada Mark Carney đã nghĩ đến vào tháng 1 khi ông kêu gọi các cường quốc tầm trung trên thế giới xích lại gần nhau và tạo dựng các mối quan hệ đôi bên cùng có lợi vốn không phụ thuộc vào sự hợp tác từ một nước Mỹ bất ổn và cá lớn nuốt cá bé.
Chính quyền Trump đang đặt cược rằng cả những nỗ lực cân bằng cứng và mềm đối với quyền lực của Mỹ sẽ đều yếu ớt, thất thường và không mang lại nhiều hệ quả. Họ có thể đúng, vì nhiều quốc gia vẫn còn lưỡng lự một cách dễ hiểu trước việc thực hiện các hành động tốn kém để phản kháng quyền lực Mỹ, và ngay cả những nỗ lực “cân bằng mềm” cũng đối mặt với những vấn đề lớn về hành động tập thể. Tuy nhiên, những rào cản đó không phải là không thể vượt qua, đặc biệt nếu việc chiều lòng Mỹ chỉ dẫn đến những yêu sách mới hoặc các quốc gia khác bắt đầu coi quan hệ đối tác chặt chẽ với Mỹ là một gánh nặng hơn là một tài sản.
Và đừng quên một hình thức cân bằng quyền lực khác: Một số quốc gia lo sợ Mỹ có thể tấn công họ hoặc sợ rằng Mỹ không còn là một bên bảo hộ đáng tin cậy sẽ bị thôi thúc tăng cường an ninh bằng cách tự trang bị năng lực răn đe hạt nhân. Những lo ngại về độ tin cậy của Mỹ đã dẫn đến việc Pháp đề xuất mở rộng khả năng răn đe của mình ra rộng hơn ở châu Âu, và các nước như Nam Hàn và Nhật Bản một lần nữa đang cân nhắc nhu cầu về năng lực răn đe của riêng họ. Cuộc chiến với Iran—và việc loại bỏ một số nhà lãnh đạo Iran tương đối thận trọng—sẽ chỉ làm củng cố thêm quan điểm của những người tin rằng sai lầm lớn nhất của họ là đã không bắt chước Triều Tiên để bứt tốc sở hữu “bom” khi còn có cơ hội.
2. Phù thịnh (Bandwagoning)
Dù hầu hết các học giả theo thuyết Hiện thực khẳng định rằng việc “phù thịnh” một quốc gia săn mồi hùng mạnh là rủi ro và do đó hiếm thấy, một số quốc gia vẫn coi đây là lựa chọn tốt nhất của mình. Đặc biệt, các quốc gia yếu thế và dễ tổn thương có thể kết luận rằng họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc ngả theo Mỹ và hy vọng vào điều tốt đẹp nhất, và các quốc gia muốn dùng sự hỗ trợ của Mỹ để thúc đẩy các mục tiêu theo chủ nghĩa xét lại của chính họ sẽ vui mừng nhảy lên con thuyền này.
Israel, Ả Rập Saudi và các quốc gia nhỏ vùng Vịnh là những ví dụ điển hình cho loại hành vi cơ hội này. Nhóm này cũng bao gồm các nhà lãnh đạo cánh hữu như Viktor Orban của Hungary, Javier Milei của Argentina, Marine Le Pen của Pháp, hay Benjamin Netanyahu của Israel, những người coi Trump là một nhân vật danh tiếng và lôi cuốn, có cùng sự chán ghét đối với dân chủ tự do và nhiều chuẩn mực toàn cầu. Không ai ngạc nhiên khi mỗi nhà lãnh đạo này—bao gồm cả Trump—đã công khai ủng hộ nỗ lực tái đắc cử đầy khó khăn của Orban tại Hungary.
Tuy nhiên, việc phù thịnh với một nước Mỹ thất thường và cá lớn nuốt cá bé không phải là không có rủi ro. Có một điều, những thất bại như cuộc chiến Iran, nền kinh tế Mỹ trì trệ, và tỷ lệ ủng hộ thấp của Trump đang làm hoen ố thương hiệu MAGA và có thể khiến việc liên minh chặt chẽ với Mỹ trở nên ít lợi lộc hơn đối với các chính trị gia dân túy nước ngoài.
Hơn nữa, sự ủng hộ của công chúng đối với hầu hết các lãnh đạo này dựa trên việc họ tự khắc họa mình là những nhà dân tộc chủ nghĩa nhiệt thành, điều này không nhất quán với việc phục tùng lâu dài một cường quốc ngoại bang có xu hướng cá lớn nuốt cá bé. Những lo ngại như vậy có thể giải thích tại sao Le Pen, lãnh đạo thực tế của đảng Tập hợp Quốc gia cực hữu tại Pháp, đã hơi giữ khoảng cách với Trump trong những tháng gần đây.
3. Thao túng chính trị
Các quốc gia chọn đứng sát cạnh Mỹ và muốn dùng quyền lực Mỹ để thúc đẩy các mục tiêu riêng sẽ tăng cường gấp đôi nỗ lực chèo lái chính sách đối ngoại của Mỹ theo hướng có lợi cho họ.
Netanyahu và một số tổ chức then chốt trong nhóm vận động hành lang cho Israel đã giúp thuyết phục Trump phát động cuộc chiến mới nhất, và Thái tử Ả Rập Saudi Mohammed bin Salman được cho là đang hối thúc Trump triển khai bộ binh trong cuộc chiến. Có thể cá chắc rằng Israel và các quốc gia vùng Vịnh sẽ tiếp tục vận động hành lang Nhà Trắng và Quốc hội để dòng vũ khí không bị gián đoạn, và người ta cũng có thể kỳ vọng những hình thức trục lợi gây ảnh hưởng lộ liễu hơn (các thương vụ làm ăn mới cho Jared Kushner hay Tập đoàn Trump?) sẽ tiếp diễn chừng nào Trump còn tại vị. Nhưng cuộc chiến ở Iran cũng là một rủi ro cho các quốc gia này: Càng bị coi là một cuộc chiến được chiến đấu thay cho kẻ khác, nguy cơ bị phản phệ càng lớn nếu cuộc chiến diễn ra tồi tệ.
4. Đa dạng hóa và giảm thiểu rủi ro
Khi bạn đối phó với một đối tác không đáng tin cậy, điều thông minh cần làm là giảm sự phụ thuộc vào họ, ngay cả khi làm vậy có phần tốn kém. Xu hướng này đã lộ rõ kể từ khi Trump công bố mức thuế trả đũa vào tháng 4 năm 2025, sau đó các đối tác thương mại của Mỹ đã làm việc ngày đêm để giảm sự lệ thuộc vào thị trường Mỹ bằng cách ký kết các thỏa thuận thương mại tự do với nhau. Canada đã giảm căng thẳng với Trung Quốc và đàm phán các hiệp định thương mại mới với Indonesia và Ấn Độ, và Liên minh châu Âu cũng hành động tương tự với Ấn Độ và Mercosur.
5. Thoái thác (hay “cứ nói không”)
Như bất kỳ bậc cha mẹ nào cũng biết, đôi khi những bên rất yếu thế có thể đạt được mục đích bằng cách lầm lì từ chối tuân theo một yêu cầu, với hy vọng rằng bên mạnh hơn sẽ thiếu cả ý chí lẫn sự kiên nhẫn để ép buộc tuân thủ. Các đồng minh NATO của Mỹ đã thoái thác khi Trump yêu cầu họ giúp khai thông eo biển Hormuz, ví dụ vậy, vì họ không được tham vấn trước cuộc chiến, chẳng có lý do gì để giải cứu Trump khỏi những sai lầm của chính ông, và có lẽ hy vọng rằng thất bại đó sẽ dạy cho Washington một bài học thực sự cần thiết.
Hoặc các quốc gia có thể giả vờ tuân thủ một yêu cầu, nhưng rồi kéo dài thời gian, thông báo về những rắc rối bất ngờ, gây khó khăn cho việc xác minh tuân thủ, và nói chung là tung hỏa mù nhiều nhất có thể. Sự hấp dẫn của chiến lược này là rõ ràng: Nó né tránh được sự đối đầu trực diện với Washington nhưng cũng giúp tránh được cái giá phải trả khi tuân thủ hoàn toàn.
Các quốc gia khác đã từng sử dụng chiến thuật này chống lại Mỹ trong quá khứ: Các nước NATO liên tục hứa tăng chi tiêu quốc phòng nhưng mỗi lần đều làm không tới, hoặc Israel hứa tháo dỡ một số khu định cư nhưng thực hiện chậm nhất có thể và xây mới những khu khác để thay thế chúng trong lúc đó. Chính quyền Trump được cho là đang nỗ lực xác định xem Trung Quốc có thực hiện các cam kết kinh tế đã đưa ra trong nhiệm kỳ đầu của Trump hay không. (Tôi cá là họ không.)
Đó là một thế giới rộng lớn, bận rộn và phức tạp, ngay cả một quốc gia rất hùng mạnh như Mỹ cũng không thể theo dõi mọi thứ mà các quốc gia khác có thể đã đồng ý làm trong quá khứ và xác định xem họ có đang thực hiện đúng cam kết hay không.
6. Làm xấu hình ảnh nước Mỹ
Quyền lực cứng vẫn là phương tiện chính của chính trị thế giới, nhưng các quốc gia hùng mạnh cũng hưởng lợi khi họ được coi là có đạo đức, trung thực và đáng tin cậy một cách tương đối, và nỗ lực làm cho thế giới tốt đẹp hơn ít nhất là một số lúc. Phẩm chất này là điều mà đồng nghiệp quá cố của tôi, Joseph Nye, gọi là “quyền lực mềm”: Các quốc gia giành được ảnh hưởng khi những nước khác thấy họ hấp dẫn và phần lớn là thiện chí.
Hệ quả là, các đối thủ của Mỹ sẽ nỗ lực bôi nhọ hình ảnh của Washington bằng cách khắc họa đất nước này như một kẻ ích kỷ, hung hăng, nguy hiểm, và là một hình mẫu cần bị bác bỏ thay vì ngưỡng mộ và noi theo. Một hệ quả của chiến lược này—mà Trung Quốc đã theo đuổi trong một thời gian—là đứng ngoài cuộc và để nước Mỹ tiếp tục vấp ngã. Như Napoleon Bonaparte được cho là đã nói: Đừng bao giờ cản bước kẻ thù khi chúng đang phạm sai lầm.
Và trời ạ, chính quyền Trump đang làm việc này dễ dàng hơn bao giờ hết! Khoe khoang về việc đánh chìm tàu ở vùng Caribe chỉ dựa trên nghi ngờ, giúp ám sát các nhà lãnh đạo nước ngoài, ngược đãi người nhập cư và khách du lịch, áp lệnh cấm đi lại đối với hơn mười quốc gia, ra lệnh trừng phạt tài chính đối với các quan chức nước ngoài vì tội lỗi không thể tha thứ là chỉ trích tổng thống, khoe khoang rằng quyền lực là tất cả những gì quan trọng, áp đặt các mức thuế quan nhảy vọt như một con chuột túi phê thuốc, phát động một cuộc chiến với hệ lụy cho toàn bộ nền kinh tế thế giới mà không có ý niệm rõ ràng nó sẽ dẫn tới đâu—danh sách này còn kéo dài mãi.
Khi hình ảnh của Mỹ chuyển dịch từ một cường quốc có thiện chí dù đôi khi sai lầm sang một kẻ nhẫn tâm, tàn bạo, dối trá theo phản xạ và chỉ biết đến mình, ngay cả những nhà lãnh đạo muốn làm ăn với Washington cũng sẽ phải dè chừng việc xích lại gần.
Các chiến lược khác nhau nhằm đối đầu với Mỹ đang bổ sung cho nhau. Càng nhiều quốc gia bắt đầu tìm cách cân bằng quyền lực—dù ở dạng cứng hay mềm—thì các quốc gia khác càng dễ dàng giữ khoảng cách. Vai trò của Mỹ trên thế giới càng bị coi không phải là thiện chí rộng rãi mà là gây hại tích cực, thì càng khó để nhiều quốc gia đứng về phía Mỹ và các nhà lãnh đạo nước ngoài càng hưởng lợi từ việc đứng lên chống lại Washington. Càng nhiều quốc gia nói không, những nước khác càng dễ làm theo, vì ngay cả một siêu cường cũng không thể theo dõi mọi hành vi thách thức nhỏ lẻ của từng nước và trừng phạt tất cả chúng cùng một lúc.
Đây là bài học chính mà người Mỹ nên rút ra từ loạt phản ứng khả thi này đối với hành vi hiện tại của Washington. Lợi thế lớn của một quốc gia hùng mạnh là có biên độ sai số đáng kể và nhiều nguồn lực để rút ra khi giải quyết các vấn đề. Nhược điểm là trong khi một số nước tìm cách khai thác quyền lực của Mỹ cho lợi ích riêng, những nước khác sẽ thấy nó đáng lo ngại và tìm cách chế ngự hoặc kiềm tỏa nó.
Vì lý do này, một cường quốc có tầm nhìn xa sẽ sử dụng quyền lực của mình một cách kiềm chế, tuân thủ các chuẩn mực được chấp nhận rộng rãi bất cứ khi nào có thể, thừa nhận rằng ngay cả những đồng minh thân cận cũng sẽ có nghị trình riêng, và làm việc để thiết lập các thỏa thuận với bên khác mà tất cả các bên đều có lợi. Việc duy trì bàn tay sắt của quyền lực cứng là có giá trị, nhưng việc bọc nó trong một chiếc găng nhung cũng quan trọng không kém. Mỹ đã làm việc này khá tốt trong phần lớn 75 năm qua và đã hưởng lợi rất nhiều, nhưng các nhà lãnh đạo hiện tại đang nhanh chóng vứt bỏ sự thông thái đó xuống biển.
Như tôi đã cảnh báo hơn hai thập kỷ trước, “nếu Mỹ rốt cuộc lại thúc đẩy sự sụp đổ của các mối quan hệ đối tác hiện có và làm nảy sinh các liên minh mới nhằm kiềm chế chúng ta, chúng ta chỉ có thể tự trách bản thân mà thôi”.
Stephen M. Walt là chuyên gia phân tích tại Foreign Policy và Giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Harvard.
