Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở VN 1954-60 (P1)

Print Friendly

thdn

Biên dịch: Talawas

Lời giới thiệu: Tác phẩm Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở Việt Nam 1954-1960 (Fünfzig Jahre danach: Hundert Blumen in Vietnam 1954-1960) của nhà nghiên cứu Heinz Schütte do Khoa Đông Nam Á, Đại học Hamburg xuất bản ở dạng tạp chí nghiên cứu (Hamburger Südostasienstudien, Band 3) năm 2009, ngày 15/3/2010 này sẽ được nhà xuất bản Regiospectra ở Berlin  tái bản. Bản dịch tiếng Việt được thực hiện với sự cộng tác nhiệt tình của tác giả. Chúng tôi trân trọng cảm ơn tác giả đã dành cho talawas bản quyền tiếng Việt của tác phẩm này.

  1. Dẫn nhập [1]

Ngay khi các binh đoàn bách chiến bách thắng của Quân đội Nhân dân trở về Thủ đô Hà Nội, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hình thành sau cuộc kháng chiến tám năm chống thực dân Pháp và Hiệp định Genève 1954, đã sớm phải đón nhận hai cuộc khủng khoảng nội chính nặng nề: một ở nông thôn và một ở thành thị, mà cuộc khủng hoảng ở thành thị phần nào là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng ở nông thôn.

Cuộc khủng hoảng ở nông thôn là hệ quả của những sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất được tiến hành hối hả từ năm 1953. Nó dẫn tới sự khiếp hãi toàn diện, sự bất bình và các cuộc nổi loạn của nông dân ở các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, những cuộc nổi loạn đã bị quân đội dập tắt [2] Cuộc khủng hoảng ở thành thị là do phản kháng của giới trí thức. Biểu hiện rõ ràng nhất của sự phản khán này là phong trào Trăm hoa đua nở, hay phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Giai đoạn bừng nở ngắn ngủi và đầy sáng tạo này sẽ được trình bày trên những nét cơ bản và đặt trong bối cảnh lịch sử-chính trị của nó. Cuốn sách này là để chống lại sự lãng quên tập thể do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành và chống lại cách diễn giải lịch sử theo quan điểm phục tùng ý thức hệ [3]. Đấy là điều mà tôi thấy mình phải đảm nhận trách nhiệm với người bạn quá cố: Georges Boudarel.

Cuốn sách miêu tả đầy đủ nhất về sự kiện này là cuốn Cent Fluers écloses dans la nuit du Vietnam (Trăm hoa đua nở ở Việt Nam) [4] của Georges Boudarel xuất bản năm 1991, vốn không được biết đến ngoài một giới nghiên cứu hẹp. Những bài viết nhỏ hơn xuất bản cuối những năm 1950 và những năm 1960 [5], cũng như công trình Trăm hoa đua nở trên đất Bắc của Hoàng Văn Chí [6] xuất bản năm 1959 ở Sài Gòn, vào thời điểm chúng xuất hiện, có lẽ đã được độc giả hồi đó đọc như những tài liệu tâm lý chiến trong không khí Chiến tranh Lạnh (cũng có vài bài được viết cho mục đích ấy thật). Dưới những điều kiện đòi hỏi người ta phải tỏ rõ quan điểm trắng đen rạch ròi, “người ta” đơn giản là không tin vào những bài viết đó – người ta sống trong một cái credibility gap (sự khủng hoảng về tín nhiệm). Năm 1987, trongChoroniques Vietnamiennes có đăng một công trình với nhan đề “La Révolte des Itellectuels Communistes au Viet-Nam en 1956” (Cuộc nổi dậy của trí thức cộng sản Việt Nam năm 1956) [7]. Trong một nghiên cứu gần đây về chính sách văn hóa của miền Bắc Việt Nam, tác giả Kim N. B. Ninh đã dành một phần dài đề cập tới phong trào Nhân văn–Giai phẩm [8].

Tôi biết đến phong trào Trăm hoa đua nở lần đầu khi đọc cuốn sách của Boudarel năm 1997 và bắt đầu tiến hành những cuộc thăm dò ý kiến những trí thức thời Pháp thuộc ở Hà Nội trong khuôn khổ một nghiên cứu về đề tài lai tạp văn hóa [9]. Trong chuyến thăm Việt Nam tiếp theo, tôi đã cho copy cuốn sách làm 25 bản để đưa cho những người tôi phỏng vấn, và như vậy tôi đã đặt chân vào cái vùng chính trị nhạy cảm cho đến nay vẫn bị giới sử học chính thống Việt Nam sợ hãi che đậy và việc thảo luận về nó trước sau vẫn bị các nhà quản lý tư tưởng và cơ quan an ninh Việt Nam luôn sốt sắng và huy động nhiều công sức để trấn áp. Những bản copy của tôi được truyền tay đọc, được nhân tiếp ra làm nhiều bản, tạo ra một cuộc tranh luận và cho phép tôi tiếp cận được với giới trí thức phản kháng vốn khép kín với tôi trước đó, nhất là sau khi, qua một người trung gian, tôi được giới thiệu gặp nhà thơ Hoàng Cầm. Thế là tôi đã có thể tìm đến những người ly khai hiện còn sống và thu thập những hồi ức của họ trong những cuộc nói chuyện dài. Có thể nói rằng trong hoàn cảnh như thế, cái máy photocopy đã đóng vai trò như một công cụ khai sáng vậy (10).

Nguồn tư liệu tiếp theo là những kho lưu trữ của Cộng hòa Dân chủ Đức, đặc biệt kho lưu trữ của Ủy ban Trung ương Đảng Xã hội Thống nhất Đức (SED) và Bộ Ngoại giao CHDC Đức, nơi lưu giữ rất nhiều tư liệu về Việt Nam và các sự kiện tôi quan tâm. Việc phát hiện kho lưu trữ của CHDC Đức là điều hồi hộp và may mắn, bởi nó tái hiện và xác nhận lại những câu chuyện về Nhân văn – Giai phẩm mà tôi được nghe kể ở Hà Nội. Như vậy, các kho lưu trữ ở Berlin đã xác nhận một sự kiện có thật đến nay vẫn bị chính thức chối bỏ ở Việt Nam. Thế là tôi đã có thể bắt đầu với việc tái dựng lại sự kiện này, và qua đó thể hiện lòng kính trọng sâu sắc của tôi với những nhân vật chính của nó. Những con người này đã phải trả giá cay đắng cho những gì mà chúng ta, giới chính trị cánh tả phương Tây những năm 1960, đã đòi hỏi (được) một cách dễ dàng, quá trớn và ồn ã. Một phần cuộc đời họ là hiện thân cho phần lịch sử chính thống của Việt Nam – lịch sử của chủ nghĩa yêu nước, của cuộc kháng chiến dũng cảm giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng nửa kia là phần lịch sử mà tất cả chúng ta đều biết, nhưng chỉ rất ít người dám nói về nó (11).

  1. Giới trí thức. Cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954 và ảnh hưởng của Trung Quốc

Những người đàn ông (và rất ít phụ nữ) mà tôi có dịp trò chuyện ở Hà Nội đều sinh ra trong các năm từ 1906 đến 1930. Nền độc lập do Hồ Chí Minh tuyên ngôn ngày 2.9.1945 được họ cảm nhận như một sự thanh lọc tâm hồn – một sự khai mở tươi trẻ, tràn trề đến những bến bờ mới, với khát vọng xây dựng một thế giới mới, công bằng và bình đẳng, ấm no và hạnh phúc. Những trải nghiệm tập thể trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã được kết tinh thành những huyền thoại lập nước và ý thức hệ chung của nhà nước mới.[10]

Từ những năm 1950, khi quân du kích Việt Minh đẩy được quân viễn chinh Pháp ra khỏi các tỉnh biên giới phía Bắc[11], và từ khi hình thành một vùng biên giới chung giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Trung Quốc, thì chủ nghĩa Mao đã xuất hiện trên vũ đài chính trị Việt Nam với các phương phápchỉnh huấn của nó. Sự giúp đỡ của Trung Quốc được Mao nhìn nhận như nhiệm vụ tương trợ lẫn nhau giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Bởi cuối những năm 1940, quân Việt Minh đã giúp Hồng quân Trung Quốc lánh nạn do sự truy đuổi của Quân đội Trung Hoa Quốc dân Đảng.[12]

Nhưng không ít trí thức đã rời bỏ hàng ngũ kháng chiến, mặc dù phần nhiều đã ở lại trong tinh thần kỷ luật trước sau như một, với niềm tin rằng các biện pháp chỉnh huấn là cần thiết cho cuộc kháng chiến chống thực dân. Bởi vì sau chiến thắng của quân cộng sản năm 1949, Trung Quốc được Việt Nam rất kính nể, và Trung Quốc không chỉ xuất khẩu ý thức hệ hay gửi các chuyên gia sang giúp đỡ mà còn viện trợ rất nhiều của cải vốn có ý nghĩa sống còn với miền Bắc Việt Nam nghèo nàn. Sự giúp đỡ này đã cho phép các lực lượng Việt Minh chuyển từ chiến tranh du kích sang tổ chức quân đội chính quy. Khi đó Chiến tranh Lạnh đã bùng phát: Trong khi Việt Minh được Trung Quốc giúp đỡ thì Mỹ, vốn đã chia tay với chính sách chống thuộc địa của Roosevelt, quay ra ủng hộ mạnh mẽ cuộc chiến của người Pháp.[13] Thế giới chia làm hai phe.[14]

Đại hội III của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 1.1950 tuyên bố chính thức Việt Nam đi theo đường lối Trung Quốc[15] và đẩy mạnh chủ trương đấu tranh giai cấp trong cả nước. Điều này dẫn tới việc thủ tiêu những người bị cho là những “phần tử phản cách mạng”. Sách vở Trung Quốc[16], đặc biệt những tác phẩm của Mao, được dịch ra tiếng Việt – vài tác phẩm do chính Hồ Chí Minh dịch – để truyền bá những phương pháp của Trung Quốc trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lê-Mao, trong việc tiến hành cách mạng và cải tạo tư tưởng ở Việt Nam. Tại Chiến khu Việt Bắc, từ những năm 1951 đã có các khóa chỉnh huấn tư tưởng dành cho trí thức. Việc giải phóng vùng biên giới phía Bắc là bàn đạp quyết định cho cuộc cách mạng ở miền xuôi Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước kháng chiến của Việt Minh dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Mao đã chuyển thành chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa.

Cuộc Cải cách Ruộng đất được phát động mạnh mẽ năm 1953 nhằm tổ chức các lực lượng nông dân cho cuộc tấn công quyết định vào quân viễn chinh Pháp. Cùng với bước tiến của Việt Minh, cuộc Cải cách Ruộng đất lan rộng từ các tỉnh miền núi phía Bắc xuống đồng bằng.[17] Cải cách Ruộng đất được tiến hành theo cách phân loại sở hữu của Trung Quốc, mặc dù hoàn cảnh Việt Nam hoàn toàn không tương đồng với hoàn cảnh của người bạn đồng thời là kẻ thù truyền kiếp phương Bắc này. Ở Việt Nam, nhất là ở miền Bắc, chủ yếu chỉ có các tiểu nông và trung nông[18]. Hầu hết các đại địa chủ đã chạy trốn từ lâu. Mặc dù vậy, do sự chênh lệch sở hữu quá lớn, việc phân chia lại ruộng đất vẫn là cần thiết và không thể tránh khỏi. Cuộc kháng chiến của Việt Minh là một phong trào dân tộc, tập hợp tất cả các lực lượng yêu nước thuộc mọi thành phần xã hội; ngược lại, cuộc Cải cách Ruộng đất là cuộc đấu tranh giai cấp với mục đích tối hậu là đánh đổ trật tự xã hội cũ. Nó hướng sự căm thù tới tất cả những ai không nghèo, không là bần cố nông, những người rốt cuộc bị coi là “những phần tử phản động”, có hại cho cách mạng. “Lòng căm thù giai cấp đã trở thành lòng căm thù giữa người với người”, một nhà văn lớn tuổi ở Hà Nội kể lại.[19]

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã không mang lại sự thống nhất cho Việt Nam. Việt Nam bị chia đôi theo Hiệp định Genève về Đông Dương, hiệp định mà miền Bắc Việt Nam đã phải ký dưới áp lực của Trung Quốc và Liên Xô dựa trên những điều kiện chính trị thực tiễn thời đó. Tuy nhiên giới lãnh đạo miền Bắc vẫn tin tưởng rằng cuộc tổng tuyển cử diễn ra trong thời gian sắp tới theo thỏa thuận ở Genève sẽ mang lại chiến thắng cho miền Bắc và sự thống nhất đất nước. Phía bắc vĩ tuyến 17 hình thành một chính quyền cộng sản, còn phía nam là một nhà nước tư bản. Các cường quốc hiện diện ở cả hai miền, và Pháp lại tiếp tục gửi quân chiếm đóng một lần nữa. Sự lạc hậu dai dẳng từ những năm 1930, sự bóc lột tận xương tủy thời phát-xít Nhật, nạn đói 1944-45 với hơn 1 triệu người chết, những khó khăn thời hậu chiến do hệ quả của sự tàn phá, đói nghèo, các làn sóng di dân khổng lồ, những mâu thuẫn căng thẳng do Cải cách Ruộng đất, và vài năm sau là cải tạo tư sản, đã dẫn tới sự hình thành chế độ chuyên chế ở miền Bắc với sự thống trị của giới lãnh đạo theo lập trường tư tưởng sắt đá. Mục đích của họ không chỉ là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở phía bắc vĩ tuyến 17, mà, song hành cùng mục đích thống nhất đất nước, họ còn quyết tâm đưa chủ nghĩa xã hội vào phía Nam nữa. Chiến thắng Điện Biên Phủ, như Graham Greene[20] đã chỉ ra, là biểu tượng cho sự bất lực và là dấu chấm hết cho chủ nghĩa thuộc địa châu Âu. Tất cả những người mà tôi phỏng vấn ở Hà Nội đều đã ở trong cơn say chiến thắng – ivre de victoire – đó là cuộc chiến của họ, là chiến thắng của họ, mang lại tự do cho họ. “Một thời lãng mạn”, nhà thơ Huy Cận (1920 – 2004) đã nói với tôi như thế. Huy Cận, bên cạnh người bạn thân Xuân Diệu, là một trong những gương mặt lừng lẫy nhất của phong trào Thơ Mới những năm 1930. Huy Cận chưa bao giờ là một người ly khai, hơn thế, ông còn bị nhiều người xem như một “ông quan cách mạng”. Ông nói thêm, với chút cảm thán: “Ta lãng mạn, bởi vì ta yêu nước”.[21]

Sau khi cuộc cách mạng chính trị-dân tộc đã kết thúc ít nhất vào năm 1954 ở miền Bắc, người ta bắt đầu tiến hành cách mạng xã hội và cách mạng văn hóa. Tiếp theo cuộc Cải cách Ruộng đất ở nông thôn là cuộc đấu tranh chống phong trào Trăm hoa đua nở – Nhân văn–Giai phẩm ở thành thị, và cuộc đấu tranh này đã kết thúc bằng sự lãnh đạo độc tôn của Đảng và nhà nước trong các lĩnh vực trí thức, văn hóa và tư tưởng. Từ 1958 đến 1960 đã diễn ra cuộc cải tạo tư sản;[22] và cũng do thiếu một giai cấp tư sản thực sự, cuộc đấu tranh này đã nhắm cả vào những người buôn bán nhỏ, những người bị cho là “có biểu hiện tư sản”.[23] Trong những năm 1960 – không hẳn rốt cuộc chỉ vì cuộc chiến tranh mới bùng phát và sự leo thang ném bom của Mỹ – đã hình thành một nền kinh tế chiến tranh với sự loại bỏ giới tiểu thương và với sự thống trị của giới lãnh đạo gốc gác nông dân. Phong trào Việt Minh, Liên minh Kháng chiến Giải phóng Dân tộc từ những ngày đầu 1945/46 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kể từ 1953/54, mà thực ra, như đã nói, từ 1950/51, nay bị thay thế bằng một cuộc đấu tranh giai cấp với mục đích thành lập chế độ chuyên chính mácxít–lêninnít trên khắp miền Bắc.

Không khí chính trị sau chiến thắng Điện Biên Phủ trở nên rất căng thẳng do hậu quả của những diễn biến gây thất vọng cho Việt Minh sau Hiệp định Genève, những diễn biến dẫn tới sự chia cắt đất nước. Trong nỗ lực xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, người ta đã cho tiến hành thô bạo cuộc Cải cách Ruộng đất cũng như thực hiện các cuộc thanh trừng trong Đảng và các tổ chức quần chúng sau chiến dịch cải tạo tư sản. “Trong bầu không khí của sự cảnh giác cao độ, của sự sợ hãi và của tương lai mờ mịt, đã xuất hiện những tín hiệu nghi ngờ đầu tiên trong giới trí thức”[24], bởi lẽ, như đã nói, giới trí thức cũng có những kỳ vọng lớn vào chế độ mới, chế độ mà họ đã góp phần xây dựng sau những năm dài hi sinh gian khổ. Họa sĩ, nhà văn Trần Duy cho rằng sự li khai đã bắt đầu ngay trong kháng chiến, vì ngay từ thời đó đã có nhiều trường phái văn nghệ tỏ ra khác nhau rõ ràng. Ví dụ như người bạn mà ông ngưỡng mộ, nhà thơ Văn Cao, tác giả Quốc ca Việt Nam, ngay từ những năm 1952/53 – dù vẫn còn dè dặt – đã có những phát biểu thẳng thừng chống lại Tố Hữu. Theo đó, Tố Hữu không những là kẻ đa mưu quỷ kế, mà còn quị lụy Hồ Chí Minh trong những bài thơ của mình[25], và, trung thành với đường lối của Tổng Bí thư Trường Chinh (tôi sẽ đề cập tới đường lối này ngay dưới đây), đã hạ thấp vai trò của thơ ca xuống mức chỉ còn là tuyên truyền – điều khiến cho rất nhiều văn nghệ sĩ và trí thức không thể chịu nổi.

Cuộc kháng chiến chống Pháp không chỉ diễn ra trên mặt trận quân sự, mà còn diễn ra trên mặt trận tư tưởng. Điều này hoàn toàn phù hợp với khẩu hiệu của Hồ Chí Minh trong một bức thư “gửi các đồng chí họa sĩ” tháng 12 năm 1951: “Văn hóa, văn nghệ cũng là một mặt trận.” Cũng trong bức thư này, Hồ Chí Minh viết: “Chắc có người nghĩ: Cụ Hồ đưa nghệ thuật vào chính trị. Đúng lắm. Văn hoá, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.”[26]

Tháng 2 năm 1957, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã gửi thông điệp sau tới Đại hội 2 Hội Văn học và Nghệ thuật Việt Nam: “Nhân dân ta đòi hỏi các văn nghệ sĩ thực hiện trách nhiệm ‘kỹ sư tâm hồn’ của mình qua sự thể hiện triệt để các tư tưởng lớn, các tình cảm cao đẹp, đạo đức quý báu, thanh trừ các tình cảm xấu xa và thói hư tật xấu.”[27] Chính sách này đã được Tổng Bí thư kiêm nhà tư tưởng hàng đầu của Đảng, Trường Chinh (1907 – 1988), triển khai chi tiết qua hàng thập kỷ: trong bảnĐề cương văn hóa năm 1943 cũng như trong bản báo cáo nhan đề Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam tại Đại hội Văn hóa Toàn quốc tháng 7 năm 1948 ở Việt Bắc.[28] Nguyễn Hữu Đang, người cộng tác thân cận với Trường Chinh từ những năm 1930 khi họ xuất bản tờ báo Tin tức của Đảng, cho biết Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam đã được soạn thảo từ năm 1943 dưới nhan đề Đề cương văn hóa Việt Nam.[29] Bản đề cương này trình bày các tính chất của nền văn hóa Việt Nam và đặt nền tảng cho một nền văn hóa (mới) dân tộc và khoa học, và cụ thể là nhằm mục đích phối hợp cuộc cách mạng chính trị và cách mạng văn hóa, thuyết phục giới trí thức tiểu tư sản thành thị ngả theo lý tưởng cộng sản. Đảng Cộng sản Đông Dương đã huy động một mặt trận văn hóa như vậy để giành giật sự ủng hộ của người dân từ tay Pháp và Nhật, những thế lực cũng đang tìm mọi cách lôi kéo dân chúng bằng những chính sách văn hóa của họ.[30]

Cuộc cách mạng ở Việt Nam đã không bắt đầu từ năm 1945, mà chúng ta phải tìm lại cội rễ của nó ở một thời điểm xa hơn thế nhiều. Những dấu vết của nó không chỉ hiện diện ở Đông Dương thuộc địa mà còn ở Thái Lan và đặc biệt ở Trung Quốc. Ngay từ những năm 1930, Đảng Cộng sản Đông dương đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của cách mạng Trung Quốc và Liên Xô. Ví dụ Nguyễn Ái Quốc[31], tức Hồ Chí Minh sau này, đã hoạt động với tư cách đại diện của Quốc tế Cộng sản tại Trung Quốc từ 1938 đến 1941, nơi ông giữ chức Thư ký Đảng, trước khi ông đảm nhiệm công tác văn hóa và tuyên truyền cho một đơn vị quân đội[32]. Thời gian này ông đã dịch một văn bản tiếng Trung về vấn đề nông dân[33], tiếp theo là một bài viết về trường kì kháng chiến, cụ thể là bài Luận trì cửu chiến (Về chiến tranh trường kỳ) của Mao Trạch Đông tháng 5 năm 1938. Trong đó Mao giải thích: “Kinh nghiệm… đã chứng minh rằng, cả hai chủ thuyết đều sai: thuyết về sự nô lệ không tránh khỏi của Trung Quốc cũng như thuyết về một chiến thắng nhanh chóng. Thuyết thứ nhất dẫn tới xu hướng thỏa hiệp, thuyết thứ hai dẫn tới việc coi thường kẻ thù. Cách tiếp cận vấn đề của các tín đồ hai thuyết này đều chủ quan, phiến diện, nói ngắn gọn: phi khoa học.”[34]

Những người cộng sản Việt Nam đã tin vào hình dung của Mao về cuộc đấu tranh cách mạng. Có thể nói rằng, họ cũng tin vào những quan điểm của Mao về một Chế độ dân chủ mới (Tân dân chủ chủ nghĩa luận, 1940) và vai trò của giới trí thức trong chế độ ấy. Trên thực tế, Trường Chinh đã tiếp nhận những quan điểm của Mao trong Tân dân chủ chủ nghĩa luận để đưa vào Đề cương văn hóa năm 1943 của mình, trong đó lần đầu tiên Trường Chinh nói tới văn hóa như một mặt trận mà ở đó người cộng sản phải hoạt động – bên cạnh mặt trận kinh tế và mặt trận chính trị. Nền văn hóa Việt Nam cần có tính dân tộc, khoa học và đại chúng, nghĩa là hướng tới đông đảo quần chúng. Và “quần chúng” có nghĩa là trung tâm văn hóa sẽ dời từ thành thị về nông thôn, cũng như cuộc đấu tranh sẽ dời từ các trung tâm đô thị về các làng mạc. Trong đó, cuộc kháng chiến sẽ là cỗ xe lịch sử chuyên chở cuộc cách mạng trong văn học nghệ thuật. Hội họa, thi ca và văn chương sẽ rời bỏ thị thành về nông thôn để xua tan bóng đêm và sự lạc hậu (của các chế độ phong kiến và thuộc địa) và thay vào đó là ánh sáng của văn minh và tiến bộ của thời đại mới, thời đại cách mạng. Đô thị bị bỏ lại trong tay đế quốc. Đô thị trở thành hiện thân của cái ác, của sự thoái hóa và suy đồi. Các hình thức văn hóa và xã hội mới sẽ được sinh ra từ khối quần chúng nông thôn, khối quần chúng xem ra còn lưu giữ được hồn cốt, tinh thần và bản chất của nền văn hóa Việt Nam.[35]

Các hoạt động văn hóa, dù đó là thi ca, hội họa hay âm nhạc, giờ đây đều được cấp cho chức năng đạo đức hay chính trị và không còn khác gì với tuyên truyền. Nhiệm vụ của các hoạt động văn hóa là thuyết phục dân chúng đi theo lý tưởng cộng sản, cho dù ban đầu chúng còn xuất hiện dưới hình thức chủ nghĩa yêu nước kháng chiến hay chủ nghĩa dân tộc. Để đạt được mục đích này, Hội Văn hóa Cứu quốc (1943 – 1948) đã được thành lập dưới sự lãnh đạo của một người cộng sự lâu năm của Tổng bí thư: Nguyễn Hữu Đang, nhân vật mà chúng ta sẽ phải nói tới rất nhiều dưới đây. Nhiệm vụ cụ thể của Hội Văn hóa Cứu quốc là thuyết phục trí thức đi theo Việt Minh.

(Còn tiếp)

Nhà sử học Heinz Schütte hiện sống tại Paris. Tác phẩm đã xuất bản: Giữa hai chiến tuyến: Những người lính Đức và Áo chạy sang phía Việt Minh(Zwischen den Fronten: Deutsche und österreichische Überläufer zum Vietminh), Logos Verlag, Berlin 2006. 

————————

Chú thích

[1] Tác giả xin cảm ơn Hannelore Windsor và Cao Quang Nghiệp đã giúp hiệu đính bản thảo.

[2] Công văn của Đại sứ CHDC Đức Pfürtzner từ Hà Nội ngày 27 và 29.11.1956 và ngày 08.1.1957 cũng như các báo cáo gửi Bộ Ngoại giao CHDC Đức tại Berlin kèm theo các công văn này. Trong đó nêu rõ, các vụ nổi loạn diễn ra tại những vùng Công giáo và do các phần tử phản động chịu ảnh hưởng của các linh mục Công giáo khiêu khích. – Lưu trữ chính trị của Bộ Ngoại giao, Berlin (PolA, AA), Bộ Ngoại giao (MfAA), 8699, thẻ 3, trang 000231-000245.

[3] Các diễn giải lịch sử này thực ra là tiếp nối của truyền thống viết sử tập quyền và kiểm duyệt của nhà nước Khổng giáo.

[4] Boudarel 1991a và 1991b

[5] Fall 1957; Honey 1957; Honey 1959; Như Phong 1962

[6] Hoàng Văn Chí 1964. Hoa Mai (Sài Gòn 1958) gồm một số bản dịch các bài đăng trên Nhân văn.

[7] Hoàng Giang 1987. Xem thêm Boudarel 1997, tr. 131-140; Schütte 2002 và 2003.

[8] Ninh 2002, đặc biệt trang 121-163

[9] Schütte 1999a, 1999b, xem thêm Schütte 2001

[10] So sánh Marr 1995, tr. 345 và 552, cũng như: Dương Thu Hương 1996, tr. 268tt.

[11] Đặng Văn Việt 1990

[12] Qiang Zhai 2000, tr. 5

[13] Theo đó Pháp đã cố gắng thuyết phục Mỹ (và thế giới phương Tây nói chung) rằng cuộc chiến tranh ở Đông Dương không phải là cuộc chiến để giữ thuộc địa, mà đó là đóng góp của Pháp trong việc đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản. Tham khảo: Fall 1964, tr.69/70, tr. 225.

[14] Tham khảo: Tường Vũ 2006

[15] Hy V. Luong 1992, tr. 158

[16] Tháng 5.1950, Rudy Schröder (tên Việt Nam là Lê Đức Nhân, còn có tên khác là Kerkhof), một sĩ quan chống phát-xít gốc Đức trong hàng ngũ Lê-dương chạy theo Việt Minh, đã đọc tác phẩm On the Party của Liu Zhaoquis bằng tiếng Anh và có ghi chú về điều này trong nhận kí. Fonds Maria Schröder, Lưu trữ cá nhân của Heinz Schütte (FMS).

[17] Starobin 1968, tr. 91

[18] 98,2% đất nông nghiệp được sở hữu bởi các chủ có từ dưới 5 hécta đất trở xuống (xem Fall, The Two Viet-Nams, op.cit., tr. 308). Tuy nhiên chỉ có một phần mười số hộ sở hữu trên 1 hécta, và khoảng ba phần tư hộ gia đình không có sở hữu đất (xem Papin 2001, tr. 367). Moise năm 1983 cho rằng ảnh hưởng Trung Quốc thực ra không lớn như người ta tưởng; xem đặc biệt tr. 234-236. Nếu điều đó là đúng thì vấn đề đặt ra là, tại sao trong các cuộc nói chuyện của tôi với các trí thức ở Hà Nội, họ luôn nói tới ảnh hưởng trực tiếp của Trung Quốc? Vậy người ta có thể giả định rằng, bộ máy tuyên truyền Việt Nam đã tìm cách đổ hết những sai lầm trong cơn lên đồng cách mạng theo đường lối “tả khuynh” của họ thời đó cho Trung Quốc, để rửa sạch mình chăng?

[19] “La haine de classe devient la haine personnelle de chacun.” Trò chuyện với Hoàng Hữu Xứng tại Hà Nội 5.12.1997

[20] Greene 1980, tr. 137

[21] Trò chuyện tại Hà Nội 29.11.1997

[22] Thao khảo bản điều tra mẫu mực, chưa được công bố của Nguyễn Thị Ngọc Thanh 1999

[23] Tổng kết Hội nghị Khóa XIV Ban Thường vụ Đảng Lao động Việt Nam (11.1956), tại: Lưu trữ Chính trị của Bộ Ngoại giao, PolA, AA, MfAA/A 8679, thẻ 1 và 2, tr. 101

[24] Ninh 2002, tr. 124

[25] Trò chuyện với Trần Duy tại Hà Nội 17.10.2001

[26] PolA, AA – MfAA/A 8582, tr.0180. Theo Điều lệ Hội Nghệ sĩ Tạo hình Việt Nam tháng 3.1957, thì các hội viên có nhiệm vụ: “sáng tác phục vụ cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam”. PolA, AA, MfAA/A 8582, tr. 000002. Xem thêm Chỉ thị về công tác báo chí ngày 14.12.1956, tại: PolA, AA, MfAA/A8652, tr.000078-000082 cũng như MfAA/A 11544.

[27] Nt, tr.040. Xem thêm Nguyễn Đình Thi, Kampf gegen Revisionismus in der Literatur und Kunst (Chống chủ nghĩa xét lại trong văn nghệ), tạp chí Học tập số 3, 1958, tại: PolA, AA, MfAA/A 8494, tr.050-079.

[28] Xem: Truong Chinh, Marxism and Vietnamese Culture. Report delivered at the Second Na­tional Cultural Conference, July 1948, in: ders., Selected Writings, Hanoi 1994, S. 202–278; ders., Cultural Resistance (1947), in: op.cit., tr. 121–126. Trường Chinh là một nhà cách tân và là người đưa ra một lý thuyết về văn hóa Việt Nam một cách có hệ thống. Ông đã kết hợp tính dân tộc, tính đại chúng và tính khoa học của văn hóa với cuộc kháng chiến chống Pháp và Nhật do Việt Minh lãnh đạo. Trường Chinh không những chỉ ra cho các trí thức những năm đầu thập kỉ 1940 thấy con đường giải thoát khỏi nỗi nhục nô lệ, mà ông còn tìm được cách đưa họ vào Việt Minh. Xem thêm Ninh 2002.

[29] Nguyễn Hữu Đang, thông báo riêng tại Hà Nội 20.10.2000

[30] Nguyễn Đình Thi, PolA, AA, MfAA/A 8582, tr.081; xem thêm Nguyễn Thế Anh 2005, tr. 26-27.

[31] Woodside 1976, tr. 224

[32] Brocheux 2000, tr. 178

[33] Đặng Phong, thông báo riêng tại Tam Đảo 10.2000

[34] Mao Tse-Tung 1968, tr. 129

[35] Có sự tương đồng về phương diện lý thuyết trong những quan điểm này với những quan điểm phổ biến dưới thời Vichy ở Đông Dương (cũng như dưới thời Quốc xã ở Đức), cho rằng, cội rễ của văn hóa nằm ở thời quá khứ huyền sử, trong máu và trong các huyền thoại cổ xưa của nông dân; nó nằm ở lối sống đơn giản, rắn rỏi và gia trưởng. Quan điểm trở về với quần chúng nông dân thật thà chất phác của các nhà tư tưởng thành thị đã đặc biệt được cổ vũ trong chiến tranh bởi các chính quyền chuyên chế, mà ở đó người nông dân được kêu gọi hãy hi sinh hết mình. Các phân tích của Jennings, 2001, tr.158, tr.160/161, đã chỉ ra sự tương đồng giữa chính sách văn hóa mới của Miền Bắc Việt Nam với các chính sách của chính quyền Vichy Đông Dương. Mặt khác, những người nói chuyện với tôi ở Hà Nội cũng nhiều lần bày tỏ sự ngưỡng mộ của họ với Hitler và chủ nghĩa Quốc xã. Tuy nhiên trong các buổi trò chuyện với tôi, những nhà tư tưởng chính trị như Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Hữu Đang đã hoàn toàn phủ nhận có sự tương đồng.

Nguồn: Talawas

This entry was posted in Lịch sử, Tư liệu, Việt Nam and tagged , . Bookmark the permalink.