Sự rút lui thầm lặng của Trung Quốc khỏi vấn đề phi hạt nhân hóa Triều Tiên

Nguồn: Park Jinwan, “China’s Quiet Retreat From North Korean Denuclearization,” Foreign Policy, 09/01/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Canh bạc của Bắc Kinh có thể phản tác dụng như thế nào?

Suốt nhiều thập kỷ, Trung Quốc đã gắn chặt quan điểm chính thức của mình đối với Triều Tiên vào mục tiêu “phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên.” Cụm từ này xuất hiện trong một loạt các sách trắng quốc phòng, tuyên bố chung, và các hoạt động ngoại giao, đóng vai trò như bằng chứng hùng hồn của Bắc Kinh rằng họ phản đối tham vọng hạt nhân của Bình Nhưỡng.

Nhưng vào cuối tháng 11 năm ngoái, Trung Quốc đã công bố sách trắng mới nhất về kiểm soát vũ khí, giải trừ quân bị, và chống phổ biến vũ khí hạt nhân – và lần đầu tiên sau nhiều năm, tài liệu này đã loại bỏ mọi đề cập rõ ràng đến việc phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên. Thay vào đó là những lời kêu gọi mơ hồ về “hòa bình,” “ổn định,” và giải quyết thông qua “các biện pháp chính trị,” cũng như nhắc lại “lập trường trung lập” của Trung Quốc về vấn đề này.

Mô hình này được duy trì xuyên suốt các trao đổi ngoại giao gần đây của Bắc Kinh. Ngay cả sau khi Bình Nhưỡng bắn ít nhất hai tên lửa vào vùng biển ngăn cách giữa hai miền Triều Tiên và Nhật Bản vào ngày 04/01, các thông cáo chính thức từ hội nghị thượng đỉnh tuần này tại Bắc Kinh giữa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae-myung vẫn hạ thấp tầm quan trọng của vấn đề. Dù Lee được cho là đã yêu cầu người đồng cấp Trung Quốc đảm nhận vai trò trung gian hòa giải trên Bán đảo Triều Tiên, nhưng đây rõ ràng không phải là trọng tâm của cuộc họp, thể hiện qua việc yêu cầu này vắng bóng trong các bản tóm tắt sau hội nghị của cả hai bên. Đáng chú ý là thượng đỉnh đã không đưa ra tuyên bố chung chính thức nào.

Những sự lược bỏ này đánh dấu một sự thay đổi nhiều ý nghĩa: Bắc Kinh đang hạ thấp mức độ ưu tiên của một mục tiêu mà họ ngày càng xem là phi thực tế và bất lợi về mặt chiến lược. Quyết định “ly hôn thầm lặng” khỏi mục tiêu phi hạt nhân hóa lâu đời phản ánh những toan tính mới liên quan đến bất ổn khu vực, sự sụp đổ chế độ, và khả năng để mất vị thế chiến lược vào tay Mỹ. Tuy nhiên, khi rút lui khỏi vấn đề phi hạt nhân hóa, Trung Quốc có thể đang tạo tiền đề cho chính những kết quả mà họ muốn tránh nhất.

Ngôn từ trong các văn bản chính sách đối ngoại của Trung Quốc hiếm khi là ngẫu nhiên, và những gì bị lược bỏ thường cũng tiết lộ nhiều điều như những gì được thêm mới. Các tuyên bố về an ninh và kiểm soát vũ khí trước đây, bao gồm cả quan điểm của Bắc Kinh trong Đàm phán Sáu bên năm 2005, đã nêu rõ cam kết của Trung Quốc đối với một Bán đảo Triều Tiên không hạt nhân. Cam kết đó đã được tái khẳng định trong Chính sách Hợp tác An ninh Châu Á-Thái Bình Dương năm 2017 và được nhấn mạnh trong các tuyên bố chung của hội nghị thượng đỉnh ba bên Trung-Hàn-Nhật vào các năm 2015, 2018, và 2019. Tập Cận Bình luôn định hình việc phi hạt nhân hóa là một mục tiêu chung trong các cuộc gặp thượng đỉnh và điện đàm với các nhà lãnh đạo Hàn Quốc kể từ vào năm 2021. Thậm chí vào tháng 07/2023, các quan chức Trung Quốc vẫn khẳng định cam kết của họ đối với việc phi hạt nhân hóa Triều Tiên tại các cuộc họp ngoại giao, bao gồm cả tại Liên Hiệp Quốc.

Giờ đây, Sách trắng tháng 11/2025 đã thay đổi chiến thuật, nhấn mạnh sự ổn định hơn là giải trừ quân bị, đối thoại hơn là áp lực, và cân bằng hơn là cưỡng ép thực thi. Dù những ưu tiên này không mới, nhưng sự vắng mặt của mục tiêu phi hạt nhân hóa rõ ràng báo hiệu sự đoạn tuyệt với những lời lẽ đã tồn tại hàng thập kỷ.

Sự thay đổi này phù hợp với các hành vi gần đây. Bắc Kinh đã kêu gọi Liên Hiệp Quốc nới lỏng việc thực thi các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên, khôi phục thương mại biên giới, và che chở cho Bình Nhưỡng – đồng minh hiệp ước chính thức duy nhất của họ – khỏi các biện pháp trừng phạt tiếp theo tại Hội đồng Bảo an thông qua các phiếu phủ quyết và phiếu trắng. Bắc Kinh tiếp tục kêu gọi hòa bình trong khu vực nhưng tỏ ra ít mặn mà với việc sử dụng đòn bẩy thực sự mà họ nắm giữ với tư cách là nguồn sống kinh tế của Bình Nhưỡng (chiếm 98% tổng thương mại của Triều Tiên) để đẩy lùi chương trình hạt nhân.

Hội nghị thượng đỉnh ba bên Trung-Hàn-Nhật năm 2024 – được tổ chức sau gần 5 năm gián đoạn – đã đưa ra một tuyên bố chung nhưng thiếu đi lập trường thống nhất về việc phi hạt nhân hóa hoàn toàn, và vào tháng 9 năm ngoái, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã kiềm chế không đề cập đến việc phi hạt nhân hóa trong cuộc gặp song phương với Ngoại trưởng Hàn Quốc Cho Hyun. Cuộc gặp tháng 11 giữa Tập và Lee bên lề thượng đỉnh APEC tại Gyeongju, Hàn Quốc, cũng loại bỏ hoàn toàn vấn đề phi hạt nhân hóa khỏi tuyên bố của phía Trung Quốc. Và thượng đỉnh tuần này tại Bắc Kinh – chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên của một tổng thống Hàn Quốc tới Trung Quốc trong tám năm qua – một lần nữa loại trừ vấn đề phi hạt nhân hóa trong các tuyên bố chính thức, có lẽ là do nỗ lực làm nổi bật sự “khôi phục hoàn toàn” mang tính biểu tượng của quan hệ song phương và hợp tác trên các lĩnh vực bao gồm công nghệ và môi trường.

Sách trắng tháng 11 không hẳn chỉ ra một chính sách mới, mà chỉ là sự thừa nhận thực tế đang tồn tại: Phi hạt nhân hóa hiếm khi đứng đầu danh sách ưu tiên của Bắc Kinh trong thực tế. Thay vào đó, mối quan tâm bao trùm của các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc là ngăn chặn cuộc xung đột quân sự có thể lôi kéo Mỹ vào cuộc, gây bất ổn cho Đông Bắc Á, và đẩy người tị nạn tràn qua Sông Áp Lục, gây bất ổn xã hội ở vùng biên giới Trung Quốc – nơi có cộng đồng dân tộc thiểu số người Triều Tiên đáng kể. Sự sụp đổ đột ngột của chế độ Kim Jong Un có thể tạo ra những kết quả tương tự, cùng với viễn cảnh một nước Triều Tiên/Hàn Quốc thống nhất liên minh với Washington.

Những ưu tiên này được tóm gọn trong khuôn khổ “Ba Không” thường được trích dẫn của Trung Quốc: không chiến tranh, không bất ổn, không vũ khí hạt nhân. Nhưng hai cái “không” đầu tiên dường như quan trọng hơn nhiều đối với Bắc Kinh so với cái cuối cùng. Vũ khí hạt nhân của Triều Tiên được cho là mối đe dọa thứ yếu; theo quan điểm của Bắc Kinh, kho vũ khí của Bình Nhưỡng chủ yếu là để răn đe Hàn Quốc và Mỹ, chứ không phải Trung Quốc. Miễn là Triều Tiên vẫn ổn định trong nước và bị kiềm chế ở bên ngoài, thì tình trạng hạt nhân của nước này là một kịch bản khó chịu nhưng vẫn có thể kiểm soát được.

Toan tính này hiện rõ khi xem xét phản ứng của Trung Quốc đối với quyết định phát triển hạt nhân của Triều Tiên và Hàn Quốc. Các vụ thử hạt nhân và khiêu khích tên lửa của Triều Tiên đã dẫn đến các lệnh trừng phạt tập thể và cảnh báo ngoại giao – thường đi kèm với việc nới lỏng có chọn lọc, thiếu phối hợp hoặc các vi phạm thầm lặng. Trong khi đó, quyết định của Hàn Quốc nhằm triển khai hệ thống Phòng thủ Tên lửa Tầm cao Giai đoạn cuối (THAAD) của Mỹ vào năm 2016 đã kích hoạt đợt đóng băng ngoại giao và cưỡng ép kinh tế đơn phương ở quy mô lớn hơn nhiều so với những gì được triển khai chống lại Bình Nhưỡng.

Toan tính đó càng trở nên cứng rắn hơn khi năng lực của Triều Tiên mở rộng. Bình Nhưỡng hiện sở hữu ít nhất 50 đầu đạn hạt nhân đã lắp ráp và sở hữu công nghệ tên lửa tinh vi hơn được củng cố bởi sự chuyển giao công nghệ của Nga. Trong năm 2024 và 2025, 32 vụ khiêu khích tên lửa – bao gồm các vụ thử tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình, phóng rocket tầm xa, và tập trận pháo binh bắn đạn thật chống lại Hàn Quốc – đã chứng minh những cải tiến đáng kể về chất lượng trong năng lực tên lửa. Đạo luật lực lượng hạt nhân năm 2022 và bản sửa đổi hiến pháp năm 2023 đã chính thức hóa trạng thái hạt nhân không thể đảo ngược của Triều Tiên và biến việc hiện đại hóa vũ khí thành nghĩa vụ hiến định.

Bắc Kinh dường như chấp nhận rằng việc phi hạt nhân hóa Triều Tiên đã trở nên phi thực tế. Vũ khí hạt nhân là trọng tâm cho tính chính danh trong nước của chế độ Kim, và việc đẩy lùi chương trình này đòi hỏi áp lực đủ nghiêm trọng để đe dọa sự tồn vong của chế độ, kịch bản mà Bắc Kinh lo sợ nhất.

Sự thay đổi trong luận điệu của Trung Quốc cũng phản ánh những diễn biến rộng hơn trong khu vực. Triều Tiên đã tái xuất như một biến số địa chính trị trong quan hệ Mỹ-Trung; kể từ khi trở lại Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ra hiệu sẵn sàng tái khởi động các cuộc đối thoại với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un và ám chỉ thái độ cởi mở thừa nhận tư cách là một quốc gia hạt nhân của Triều Tiên. Chiến lược An ninh Quốc gia mới nhất của Mỹ cũng bỏ qua cả việc phi hạt nhân hóa và phần dành riêng cho Triều Tiên.

Sự quan tâm của Mỹ đã thúc đẩy Bắc Kinh kéo Bình Nhưỡng lại gần hơn. Bất chấp căng thẳng xoay quanh vụ thử hạt nhân lần thứ sáu của Triều Tiên vào năm 2017, các cuộc trao đổi cấp cao đã đạt đỉnh vào năm 2018 và 2019, với 14 chuyến thăm cấp cao trong giai đoạn đó – đáng chú ý là xen kẽ các cuộc gặp của Kim với Trump tại Hà Nội và Singapore. Khi ngoại giao thượng đỉnh đình trệ trong những năm tiếp theo, các cuộc trao đổi Bắc Kinh-Bình Nhưỡng cũng bốc hơi tương tự.

Giờ đây, một thỏa thuận Mỹ-Triều bỏ qua các kênh của Trung Quốc sẽ tạo ra sự không chắc chắn (kịch bản tốt nhất) và đe dọa ảnh hưởng khu vực của Bắc Kinh (kịch bản tệ nhất). Cuộc duyệt binh của Trung Quốc hồi tháng 9 năm ngoái phô trương sự đoàn kết trong “Trục Bất ổn” (Axis of Upheaval) đã báo hiệu cả sự củng cố quan hệ giữa các đồng minh thân cận nhất của Bắc Kinh, lẫn ảnh hưởng liên tục của nước này đối với Bình Nhưỡng giữa bối cảnh Washington và Seoul ngày càng quan tâm đến việc can dự.

Quan hệ ngày càng sâu sắc giữa Triều Tiên và Nga cũng đang đóng vai trò quan trọng; Triều Tiên là người ủng hộ lớn nhất cho nỗ lực chiến tranh của Nga tại Ukraine, và Bình Nhưỡng dường như đã nhận được chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kinh tế, và hậu thuẫn ngoại giao từ Moscow. Hiệp ước Đối tác Chiến lược Toàn diện năm 2024 là cam kết cấp cao nhất của Nga đối với Triều Tiên trong nhiều thập kỷ, càng làm dấy lên nỗi sợ bị lôi kéo: Một Triều Tiên tự tin hơn có thể chấp nhận rủi ro quân sự lớn hơn, kéo Trung Quốc vào cuộc xung đột không mong muốn. Gây áp lực quá mạnh lên Triều Tiên có nguy cơ đẩy Bình Nhưỡng sâu hơn vào quỹ đạo của Moscow và làm giảm khả năng của Bắc Kinh trong việc điều tiết các hành vi leo thang.

Sự thay đổi trong luận điệu của Trung Quốc cũng có thể phản ánh quỹ đạo hạt nhân của chính họ. Bắc Kinh đang mở rộng và đa dạng hóa lực lượng hạt nhân của mình, và hình ảnh vệ tinh gần đây cho thấy sự đầu tư liên tục và khả năng mở rộng thử nghiệm tại bãi thử La Bố Bạc. Do đó, Bắc Kinh có thể lo ngại rằng ngôn từ phi hạt nhân hóa có thể hạn chế sự linh hoạt hạt nhân của chính họ.

Trong môi trường này, việc khăng khăng đòi phi hạt nhân hóa mang lại lợi ích ngày càng giảm sút cho Trung Quốc. Tuy nhiên, dù sự tái điều chỉnh của Bắc Kinh có thể hiểu được, thì về cơ bản, nó đe dọa các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.

Thứ nhất, một kho vũ khí hạt nhân không được kiểm soát và ngày càng mở rộng làm tăng sự bất ổn trong khu vực. Khi Bình Nhưỡng sở hữu nhiều đầu đạn hạt nhân và hệ thống phóng hơn, xác suất xảy ra tai nạn và hiểu lầm cũng tăng lên. Việc Triều Tiên đưa các lựa chọn tấn công hạt nhân phủ đầu và học thuyết phản ứng hạt nhân tự động lên tầm hiến pháp tạo ra các tình huống “ngàn cân treo sợi tóc” và sự bất đối xứng hạt nhân thậm chí còn lớn hơn trên bán đảo.

Hơn nữa, Bình Nhưỡng càng tự tin vào đòn bẩy cưỡng chế của vũ khí hạt nhân, họ càng có nhiều khả năng chuyển sang các vụ thử tên lửa và khiêu khích bằng pháo binh thay vì ngoại giao – một kịch bản mà Bình Nhưỡng đã tuân theo kể từ sự thất bại của hội nghị thượng đỉnh tại Hà Nội năm 2019 và gần đây nhất là vào cuối tuần qua. Khi không có kênh ngoại giao ý nghĩa nào được khôi phục và có ít động lực để thay đổi hướng đi, thì chẳng có lý do gì để mong đợi sự thay đổi trong hành vi của Bình Nhưỡng.

Tiếp theo, quan điểm của Trung Quốc có thể đẩy nhanh các biện pháp tăng cường an ninh ở Seoul và Tokyo, cũng như sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các đồng minh của Mỹ. Sự hung hăng ngày càng gia tăng của Triều Tiên và sự không hành động của Trung Quốc đã thúc đẩy quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn giữa Hàn Quốc, Nhật Bản, và Mỹ. Kể từ thượng đỉnh Trại David năm 2023, cả ba nước đã thiết lập chia sẻ dữ liệu cảnh báo tên lửa Triều Tiên, đồng thời mở rộng quy mô cũng như tần suất các cuộc tập trận hàng hải và các chuyến bay chung, điều mà Bắc Kinh kịch liệt phản đối.

Bắc Kinh cũng lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc phát triển tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân theo một thỏa thuận gần đây giữa Hàn Quốc và Mỹ, cũng như việc thành lập Nhóm Tham vấn Hạt nhân, được thiết kế để tăng cường khả năng răn đe mở rộng của Mỹ đối với Hàn Quốc trong trường hợp khẩn cấp. Nhưng việc Trung Quốc từ bỏ mục tiêu phi hạt nhân hóa Triều Tiên chỉ càng thổi bùng những lo ngại về mất an ninh, vốn chính là điều kiện thúc đẩy sự hợp tác đó.

Cuối cùng, việc dung túng cho trạng thái hạt nhân của Triều Tiên làm xói mòn chính đòn bẩy của Bắc Kinh đối với Bình Nhưỡng. Nếu Kim tin rằng tài sản chiến lược quý giá nhất của mình không còn là thứ phải đem ra thương lượng với Bắc Kinh, ông sẽ có ít động lực để chú ý đến ý muốn của Trung Quốc trong các vấn đề khác.

Động lực này đã hiện rõ: Khi Bắc Kinh ngầm chấp nhận quá trình hạt nhân hóa của họ từ năm 2023, Triều Tiên ngày càng phớt lờ các khuyến nghị của Trung Quốc về ổn định khu vực, tiến hành phóng vệ tinh khi Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường đến thăm Seoul, và tăng cường quan hệ với Nga. Việc Triều Tiên triển khai quân đến Nga và các động thái đối ngoại ngày càng tự chủ cũng cho thấy sự nể trọng đang giảm dần, một tư thế có nguy cơ khiến Bắc Kinh bị ra rìa trong các quyết định liên quan đến an ninh của chính mình.

Bằng cách rút khỏi vấn đề phi hạt nhân hóa, Bắc Kinh hy vọng tránh được rủi ro khi gây áp lực quá lớn lên Bình Nhưỡng. Tuy nhiên, khi làm như vậy, họ có thể đang đẩy nhanh chính những động lực mà họ tìm cách ngăn chặn: một Triều Tiên táo bạo phớt lờ lời khuyên của Trung Quốc, và một kiến trúc an ninh ngày càng chặt chẽ giữa các đồng minh Mỹ đang bao vây Trung Quốc.

Cuối cùng thì Bắc Kinh đang đánh cược rằng sự ổn định có thể được duy trì ngay cả khi kho vũ khí hạt nhân của Triều Tiên mở rộng. Đó là một canh bạc nảy sinh từ nỗi thất vọng với một mục tiêu không thể đạt được và nỗi lo sợ khi đứng trước những lựa chọn thay thế tồi tệ hơn. Nhưng đó cũng là một canh bạc có thể sẽ không mang lại kết quả.

Park Jinwan là nghiên cứu viên không thường trú tại Trung tâm Châu Âu về Nghiên cứu Triều Tiên thuộc Đại học Vienna và là đồng sáng lập Nhóm Nghiên cứu Thế hệ Tiếp theo Ba bên Mỹ-Hàn-Nhật.