
Nguồn: Stephen M. Walt, “What Spheres of Influence Are—and Aren’t”, Foreign Policy, 19/01/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Thời gian gần đây, khái niệm “vùng ảnh hưởng” (spheres of influence) đang được bàn luận sôi nổi, phần lớn xuất phát từ Chiến lược An ninh Quốc gia mới của Mỹ, những động thái của chính quyền Trump tại Venezuela và những nỗ lực mới của Trump nhằm chiếm Greenland. Tư tưởng cho rằng các cường quốc nên chi phối tuyệt đối tại các “khu vực lân cận” cũng hoàn toàn ăn khớp với niềm tin của Tổng thống Donald Trump rằng những nhà lãnh đạo quyền lực của các quốc gia hùng mạnh nên là bên định đoạt trật tự thế giới thông qua các thỏa thuận trực tiếp với nhau, thay vì phải bận tâm đến luật pháp quốc tế, các giá trị đạo đức phổ quát hay những khái niệm mang tính lý tưởng khác.
Thật không may, cả những người ủng hộ lẫn phe phản đối “vùng ảnh hưởng” dường như đều chưa thấu hiểu tường tận vai trò thực sự của khái niệm này trong nền chính trị toàn cầu. Trong thực tế, vùng ảnh hưởng không phải là một tập quán lỗi thời có thể xóa bỏ, cũng chẳng phải là phương thức hữu hiệu để giảm thiểu sự cạnh tranh giữa các cường quốc. Trái lại, chúng vừa là hệ quả tất yếu của tình trạng vô chính phủ trong quan hệ quốc tế, vừa là một giải pháp khiếm khuyết cho những động lực cạnh tranh mà chính trạng thái vô chính phủ đó tạo ra.
Phần lớn các ý kiến phản đối việc hình thành vùng ảnh hưởng của cường quốc thường có tính cách quy phạm: những người chỉ trích cho rằng các dàn xếp này vốn dĩ là bất công. Trong một thế giới của các quốc gia có chủ quyền, nơi mọi nước đều bình đẳng trước luật pháp quốc tế (ví dụ như quy định của Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc), việc các nước lớn dùng sức mạnh kinh tế hay quân sự để áp đặt quyền kiểm soát lên các láng giềng yếu hơn là hoàn toàn sai trái. Chẳng hạn, ngay cả những người hiểu rằng Nga có lý do để quan ngại khi Ukraine xích lại gần NATO (bao gồm cả khả năng trở thành thành viên chính thức trong tương lai) vẫn kiên quyết rằng quyết định đó phải hoàn toàn phụ thuộc vào NATO và Kyiv, chứ không phải chịu sự phủ quyết từ phía Nga. Theo góc nhìn này, việc Trung Quốc gây sức ép buộc các nước châu Á phải xa rời Mỹ và Đài Loan, hay việc Washington tuyên bố (như trong Chiến lược An ninh Quốc gia vừa qua) rằng sẽ ngăn chặn các đối thủ ngoài bán cầu đặt quân đội và kiểm soát các tài sản chiến lược tại khu vực của mình, đều là những hành vi thiếu tính chính danh. Đối với những nhà phê bình này, mọi quốc gia đều phải có quyền tự do liên minh theo ý muốn, và các nước láng giềng hùng mạnh không có tư cách can thiệp vào việc họ giao thương, nhận đầu tư hay hợp tác quân sự với ai.
Sẽ tốt hơn nếu sống trong một thế giới thượng tôn các chuẩn mực đạo đức như vậy, nhưng tầm nhìn này lại xa rời thực tế một cách khó tin. Vùng ảnh hưởng vốn là một đặc tính luôn tồn tại trong nền chính trị quốc tế và hầu như không có khả năng bị xóa bỏ hoàn toàn. Chẳng cần phải tán đồng những lời tuyên bố đao to búa lớn nhưng thiếu hiểu biết của Stephen Miller, cố vấn cấp cao Nhà Trắng, về cái gọi là “quy luật sắt” của chính trị thế giới để nhận ra rằng các quốc gia hùng mạnh luôn cực kỳ nhạy cảm với những biến động diễn ra ngay ngưỡng cửa nhà mình và họ sẽ tận dụng mọi nguồn lực sẵn có để định hình môi trường xung quanh theo cách mà họ tin là sẽ củng cố an ninh cho chính mình.
Sự hình thành của các vùng ảnh hưởng xuất phát từ ba lý do hiển nhiên. Thứ nhất, các cường quốc thường dành sự quan tâm đặc biệt cho khu vực lân cận hơn là các thế lực ở xa, và họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro và trả giá đắt để ngăn chặn những xu hướng bất lợi ngay sát cửa ngõ nhà mình, trong khi các cường quốc phương xa lại ít mặn mà hơn trong việc ủng hộ những xu hướng đó. Dù một cường quốc ở xa có thể có những lợi ích quan trọng tại một khu vực gần kề cường quốc khác, nhưng lợi ích đó thường chỉ là thứ yếu, và mức độ sẵn lòng hy sinh nguồn lực để bảo vệ chúng cũng thấp hơn. Như tôi từng lập luận vào năm 2015, đây chính là lý do tại sao những nỗ lực đưa Ukraine vào vùng tự do của phương Tây lại đầy rẫy rủi ro: Nga quan tâm đến vấn đề này hơn chúng ta (dù không hơn đa số người dân Ukraine) và do đó sẵn sàng leo thang theo những cách mà chúng ta không dám thực hiện. Logic tương tự cũng giải thích vì sao sự hậu thuẫn từ Nga, Trung Quốc hay Iran chẳng giúp ích được gì nhiều cho các quốc gia Mỹ Latinh một khi nước Mỹ thực sự nổi giận. Thực tế này không làm cho sự can thiệp của các nước lớn trở nên chính đáng hay đạo đức hơn, nhưng nó giúp chúng ta thấu hiểu bản chất vì sao điều đó xảy ra.
Thứ hai, ngay cả trong thời đại toàn cầu hóa, thương mại vẫn có xu hướng tập trung theo khu vực, minh chứng rõ nét qua Liên minh Châu Âu, các hiệp định thương mại giữa Mỹ – Mexico – Canada, hay tầm ảnh hưởng kinh tế sâu rộng của Trung Quốc tại Đông Á. Hệ quả là, cường quốc kinh tế lớn nhất trong vùng thường nắm giữ đòn bẩy đáng kể (dù không phải là tuyệt đối) đối với các lựa chọn của các nước láng giềng, vì các quốc gia này buộc phải cân nhắc cái giá cực đắt về kinh tế nếu thực hiện những bước đi khiến cường quốc thống trị đóng cửa thị trường hoặc hạn chế các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt.
Thứ ba, vì việc triển khai sức mạnh quân sự ở gần nhà luôn dễ dàng hơn (trong khi các cường quốc ở xa lại gặp khó khăn khi ứng cứu một quốc gia cách trở), nên các nước lớn có thể đưa ra những lời đe dọa quân sự đầy sức nặng đối với các láng giềng có ý định đối đầu. Chẳng hạn, Nga gần như không thể vận chuyển và duy trì một đội quân hơn nửa triệu người tại Mỹ Latinh, Trung Đông hay Châu Phi, nhưng họ hoàn toàn có thể và thực tế đã từng triển khai quân số khổng lồ đó ngay tại nước láng giềng Ukraine, dù quá trình này không phải là không có trở ngại.
Việc nhận thức rõ vùng ảnh hưởng là một hiện tượng thường trực trong chính trị thế giới đã khiến một số nhà quan sát nhìn nhận chúng như một công cụ tiềm năng để định hình thế giới và xoa dịu sự thù địch giữa các cường quốc. Nếu các cường quốc công nhận và cam kết tôn trọng vùng ảnh hưởng của nhau, các xung đột lợi ích tiềm tàng theo đó sẽ được giảm thiểu, và mỗi cường quốc sẽ cảm thấy an ninh hơn. Về lý thuyết, một khi các cường quốc đạt được đồng thuận về ranh giới và cam kết nguyên tắc “nước sông không phạm nước giếng”, mỗi bên sẽ có toàn quyền quản lý khu vực của mình, từ đó xóa bỏ các điểm nóng gây va chạm.
Tuy nhiên, lịch sử lại nhắc nhở chúng ta nên nhìn nhận giải pháp này bằng một con mắt hoài nghi. Những người ủng hộ có thể chỉ ra sự phân chia châu Âu thời Chiến tranh Lạnh như một minh chứng điển hình cho sự thành công của cách tiếp cận này: Sau nhiều thế kỷ chìm trong khói lửa liên miên, châu Âu cuối cùng cũng được bình định nhờ việc Mỹ và Liên Xô mỗi bên nắm giữ một nửa lục địa, vừa răn đe lẫn nhau, vừa kiềm tỏa các quốc gia chư hầu đi đúng hàng lối. Chính vì hiểu rõ rằng một cuộc đụng độ trực tiếp giữa khối NATO và khối Warsaw sẽ dẫn đến sự hủy diệt lẫn nhau, cả hai phía đều vô cùng thận trọng, không dám can thiệp quá sâu vào vùng ảnh hưởng của đối phương.
Dẫu vậy, ví dụ này không hề thuyết phục như vẻ ngoài của nó. Châu Âu không chỉ là tâm điểm của những cuộc khủng hoảng liên tiếp trong thập niên 1950 (đặc biệt là giai đoạn trước khi Bức tường Berlin được dựng lên), mà nền hòa bình bấy giờ phần lớn còn dựa trên thực tế là hai siêu cường hạt nhân đang lườm nhau qua Bức màn Sắt. Việc chia cắt châu Âu thành hai vùng ảnh hưởng đối địch có thể đã giúp ngăn chặn một cuộc chiến tranh tổng lực, nhưng sự kình địch trong Chiến tranh Lạnh vẫn diễn ra cực kỳ gay gắt, và chẳng bên nào thực sự thừa nhận “quyền” được gây ảnh hưởng tuyệt đối của đối phương trong khu vực của họ. Nếu người Mỹ thực sự chấp nhận điều đó, Tổng thống Ronald Reagan đã không bao giờ đứng giữa Berlin và dõng dạc yêu cầu các nhà lãnh đạo Liên Xô phải “phá đổ bức tường này”.
Hơn nữa, lịch sử của các cường quốc đế chế thời kỳ đầu cho thấy rõ sự khó khăn khi cố gắng đảm bảo hòa bình thông qua các thỏa thuận chung về việc ai sẽ nắm quyền chi phối khu vực nào. Mặc dù các cường quốc thực dân thừa nhận quyền thiết lập đế chế hải ngoại của nhau và đôi khi đạt được những thỏa hiệp tạm thời về việc chia chác bản đồ thế giới, các dàn xếp này luôn trong trạng thái biến động và thường xuyên bị tranh chấp kịch liệt.
Điển hình là Anh và Pháp đã từng giao tranh để giành quyền thống trị tại Bắc Mỹ (dù về lâu dài, chẳng bên nào giữ được), đồng thời liên tục đụng độ vì các yêu sách thuộc địa tại Châu Phi, Trung Đông, Nam Á và Thái Bình Dương. Do đó, nếu lấy lịch sử làm bài học, việc vạch ra vài đường kẻ trên bản đồ để phân định vùng ảnh hưởng cho mỗi cường quốc sẽ chẳng thể giải quyết được vấn đề trong thời gian dài.
Vậy còn thực tế ngày nay thì sao? Một mặt, các cường quốc rõ ràng có những lợi ích, đặc biệt là tại các khu vực gần kề lãnh thổ, và sẽ thật dại dột nếu lờ đi thực tế này khi hoạch định chiến lược. Nhìn lại quá khứ, các nhà lãnh đạo Mỹ lẽ ra nên lắng nghe vô số lời cảnh báo rằng nỗ lực xoay chuyển các liên minh chính trị tại những khu vực giáp ranh Liên Xô cũ chắc chắn sẽ phản tác dụng. Và phải tự đặt câu hỏi liệu nước Mỹ sẽ phản ứng thế nào nếu một cường quốc xa xôi nào đó cũng làm điều tương tự ngay tại ngưỡng cửa lục địa Mỹ? Việc thấu hiểu sự nhạy cảm của đối phương không phải là sự nhu nhược về đạo đức; đó đơn giản là một nghệ thuật trị quốc khôn ngoan.
Nhưng mặt khác, nỗ lực bình định chính trị thế giới bằng cách chấp nhận mô hình vùng ảnh hưởng sẽ không chấm dứt được sự cạnh tranh giữa các cường quốc. Sau đây là lý do.
Trước hết, mặc dù các cường quốc nắm giữ đòn bẩy kinh tế đáng kể trong khu vực của mình, nhưng nền kinh tế thế giới ngày nay đã toàn cầu hóa sâu rộng đến mức khó có thể đảo ngược, và mức sống của người dân khắp nơi hiện phụ thuộc vào những chuỗi cung ứng hàng hóa sản xuất phức tạp, cùng nguồn nguyên liệu và lương thực trải khắp toàn cầu. Hệ quả là, không một khu vực nào có thể cửa đóng then cài trước các tác động kinh tế bên ngoài (như thời Liên Xô dưới sự điều hành của Stalin) mà không làm cho tất cả cùng nghèo đi trông thấy. Nếu Mỹ tin rằng họ có thể ngăn cản Mỹ Latinh mua hàng hóa Trung Quốc, xuất khẩu đậu nành và nguyên liệu sang đó, hay từ chối nguồn đầu tư cần thiết từ Bắc Kinh, thì Washington buộc phải đưa ra những giải pháp thay thế có giá trị tương đương, bằng không sẽ phải đối mặt với làn sóng phẫn nộ ngày càng tăng của người dân trong toàn khu vực. Nguyên tắc này cũng áp dụng tương tự nếu Trung Quốc cố áp đặt một trật tự kinh tế tại Đông Á nhằm loại bỏ các cường quốc bên ngoài. Điều này đồng nghĩa với việc không thể quét sạch ảnh hưởng của các đối thủ ra khỏi vùng ảnh hưởng của mình mà không phải trả một cái giá cực kỳ đắt.
Hơn nữa, ngay cả khi tất cả các cường quốc công nhận vùng ảnh hưởng của nhau trên phương diện chính thức, họ vẫn sẽ tiếp tục dè chừng và cạnh tranh gay gắt để giành giật quyền lực cũng như lợi thế. Các bên chắc chắn sẽ khó cưỡng lại sự cám dỗ can thiệp vào vùng ảnh hưởng của đối phương dưới nhiều hình thức khác nhau, dù chỉ là để buộc các đối thủ tiềm tàng phải dồn toàn bộ sự chú ý và nguồn lực về lại sát ngưỡng cửa nhà mình.
Đây chính là logic cốt lõi đằng sau những nỗ lực bền bỉ của Mỹ nhằm ngăn chặn sự trỗi dậy của bất kỳ cường quốc bá chủ khu vực nào tại Châu Âu hay Châu Á (và ở mức độ thấp hơn là Vùng Vịnh), nơi đôi khi buộc Mỹ phải can thiệp trực tiếp một cách quyết liệt. Các nhà lãnh đạo Mỹ hiểu rằng một bá quyền tại Châu Âu hay Châu Á, một khi không còn đối thủ trong vùng ảnh hưởng của mình, sẽ rảnh tay hơn để can thiệp vào các vấn đề trên toàn thế giới, bao gồm cả Tây Bán cầu, và viễn cảnh này sẽ đặt dấu chấm hết cho trạng thái “an ninh miễn phí” mà Mỹ đã thụ hưởng từ lâu. Chỉ cần các đối thủ bắt đầu can dự vào vùng ảnh hưởng của nhau – dù chỉ ở quy mô hạn chế – mỗi bên đều sẽ lập tức báo động và đáp trả mạnh mẽ. Do đó, những thỏa thuận theo kiểu nước sông không phạm nước giếng sẽ trở nên cực kỳ mong manh, nhất là khi cán cân quyền lực thay đổi và mở ra những cơ hội mới đầy mời gọi.
Thêm vào đó, như bài học từ kinh nghiệm của Liên Xô tại Đông Âu hay lịch sử quan hệ của Mỹ với khu vực Mỹ Latinh đã chỉ ra, một số quốc gia yếu hơn nằm trong vùng ảnh hưởng sẽ luôn cảm thấy bất mãn trước sự thống trị của nước lớn và tìm cách thoát ly, điều này vô hình trung tạo điều kiện cho các cường quốc đối lập ở xa có cơ hội can thiệp và bêu rếu cường quốc đang thống trị dưới một góc nhìn tiêu cực. Mỹ đã không thực hiện bất kỳ hành động cụ thể để hỗ trợ các thành viên nổi dậy trong Khối Warsaw vào các năm 1953, 1956 hay 1968, và ngoại trừ cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, Liên Xô cũng chưa bao giờ chấp nhận rủi ro lớn để giúp đỡ chính quyền Fidel Castro hay phong trào Sandinista. Thay vào đó, cả hai bên chủ yếu tận dụng cơ hội để ghi điểm truyền thông bằng cách xoáy sâu vào sự can thiệp thô bạo của đối thủ đối với các nước láng giềng yếu hơn. Những nỗ lực hạ thấp uy tín kiểu này chắc chắn sẽ luôn xảy ra bất cứ khi nào một cường quốc phải dùng biện pháp mạnh để trấn áp các lực lượng kháng cự trong quỹ đạo của mình.
Thực trạng này cũng nhắc nhở chúng ta rằng, các vùng ảnh hưởng chỉ vận hành trơn tru nhất khi chúng hiện diện một cách kín đáo, nơi cường quốc thống trị không cần tiêu tốn quá nhiều công sức để giữ các láng giềng đi đúng hàng lối, đồng thời có thể xây dựng hình ảnh của mình như một người bảo trợ nhân từ. Xét trên khía cạnh đó, việc chính quyền Trump huênh hoang đầy hiếu chiến về việc áp đặt ý chí lên bán cầu của “chúng ta”, hay công khai tuyên bố tham vọng kiểm soát tài nguyên và lãnh thổ của các nước khác, là một sai lầm ngoại giao nghiêm trọng không chỉ thổi bùng sự phẫn nộ trong khu vực mà còn vô tình tiếp tay cho các cường quốc đối địch có thêm bằng chứng đanh thép để khắc họa nước Mỹ như một bá quyền nguy hiểm.
Cuối cùng, ngay cả khi Trung Quốc, Mỹ, Nga và có thể là một vài nước khác đạt được thỏa thuận thừa nhận cũng như cam kết tôn trọng vùng ảnh hưởng của nhau, Châu Phi và Trung Đông vẫn nằm ngoài tầm ảnh hưởng của bất kỳ cường quốc nào. Do đó, thế giới vẫn còn rất nhiều khoảng trống để các cường quốc lao vào tranh giành của cải, quyền lực và tầm ảnh hưởng, và cạnh tranh tại một khu vực địa lý nhất định thường có xu hướng lan sang các vùng khác, khi mỗi cường quốc đều nỗ lực thiết lập các tuyến đường liên lạc an toàn dẫn đến các khu vực đang tranh chấp, đồng thời tìm mọi cách để chặn đứng sự tiếp cận của đối phương.
Điểm mấu chốt là chừng nào thế giới còn bị chia cắt thành các quốc gia độc lập với năng lực chênh lệch rõ rệt, thì vùng ảnh hưởng vẫn sẽ vừa là một đặc tính không thể tránh khỏi của bức tranh địa chính trị, vừa là một công cụ bấp bênh để duy trì hòa bình. Nếu muốn xây dựng một thế giới yên bình và thịnh vượng hơn, điều đầu tiên cần làm là phải nhận thức được rằng việc thách thức vùng ảnh hưởng của một cường quốc khác là một canh bạc đầy nguy hiểm. Nhưng đừng dừng lại ở đó: một nền hòa bình bền vững đòi hỏi không chỉ việc vài nhà lãnh đạo thế giới ngồi lại với tấm bản đồ và phân chia xem ai nắm giữ khu vực nào. Ngay cả khi họ đạt được thỏa thuận ngay hôm nay, điều đó cũng không thể chấm dứt tham vọng cạnh tranh lợi thế trong tương lai, bao gồm cả những nỗ lực âm thầm hay công khai nhằm lật đổ quyền bá chủ khu vực của nhau.
Stephen M. Walt là chuyên gia phân tích tại Foreign Policy và Giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Harvard.
