Mỹ có đang trượt dài về phía chủ nghĩa độc tài hiến pháp?

Nguồn: Alejandro Reyes, “America’s Drift Toward Constitutional Authoritarianism,” Foreign Policy, 19/01/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Trump đã chứng minh làm thế nào nền dân chủ có thể bị vô hiệu hóa mà không cần bị phá hủy.

Một năm sau nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của Donald Trump, nền dân chủ Mỹ vẫn chưa sụp đổ. Các cuộc bầu cử vẫn diễn ra. Các tòa án vẫn xét xử. Quốc hội vẫn ban hành luật, dù với tốc độ chậm chạp. Và Hiến pháp Mỹ vẫn còn vẹn nguyên. Tuy nhiên, hệ thống hiện nay vận hành theo một cách khác – không phải thông qua sự đổ vỡ, mà thông qua sự điều chỉnh lại. Quyền lực được tập trung hóa, các chuẩn mực chỉ còn vẻ bề ngoài, và các cơ chế kiềm chế bị định nghĩa lại. Điều đáng ngạc nhiên không phải là những gì đã bị bãi bỏ, mà là những gì đã bị hấp thụ, đàn áp, hoặc âm thầm gạt sang bên lề.

Trong năm qua, chính quyền Trump đã thể hiện một logic cai trị đặc trưng: Dân chủ không cần phải bị phá hủy để bị vô hiệu hóa. Nó có thể được giữ nguyên về hình thức nhưng bị thay đổi về chức năng. Quyền lực được thực thi thông qua các thể chế hiện có thay vì chống lại chúng; tính hợp pháp được diễn giải lại thay vì bị vứt bỏ; quyền hạn khẩn cấp được bình thường hóa thay vì phải tuyên bố. Kết quả là một hệ thống trông vẫn có vẻ hợp hiến nhưng ngày càng vận hành dựa trên đặc quyền của nhánh hành pháp.

Mô hình này hiện diện trên khắp các lĩnh vực. Ở trong nước, các cơ quan liên bang đã được tổ chức lại dựa trên lòng trung thành thay vì sự tự chủ về chuyên môn. Các tổng thanh tra và quan chức sự nghiệp đã bị sa thải hoặc cho ra rìa. Quyền lực pháp lý được triển khai một cách có chọn lọc chống lại các đối thủ chính trị hoặc các quan chức bị cho là không ‘vâng lời,’ bao gồm cả các nhân vật thuộc thể chế độc lập như Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Jerome Powell. Việc thực thi luật nhập cư đã được quân sự hóa cả về tư thế lẫn thực tiễn, đỉnh điểm là những cuộc chạm trán chết người như vụ các đặc vụ Cục Di trú và Hải quan (ICE) giết chết Renee Nicole Good – một sự cố được các quan chức mô tả là hợp pháp, đúng quy trình, và bi thảm, nhưng qua đó minh họa cách bạo lực nhà nước có thể trở thành chuyện thường ngày trong khuôn khổ quy chuẩn hành chính thay vì được xem là ngoại lệ.

Ở nước ngoài, logic tương tự cũng xuất hiện và thậm chí còn ít bị kiềm chế hơn. Chính quyền Trump đã theo đuổi việc cưỡng chế phế truất Tổng thống Venezuela, tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran trong khi công khai xem xét can thiệp để hỗ trợ tình trạng bất ổn trong nước tại đây, đồng thời khôi phục tham vọng lãnh thổ đối với Greenland, vùng đất thuộc về một đồng minh NATO. Những hành động này không phải là sự bất thường, mà là biểu hiện của ý chí hành pháp được vận hành với sự xem trọng tối thiểu dành cho luật pháp quốc tế, thứ mà Trump đã công khai bác bỏ. Khi ông nói với tờ New York Times rằng giới hạn duy nhất đối với quyền lực của ông là đạo đức và trí tuệ của chính ông, ông không nói theo nghĩa ẩn dụ. Ông đang nêu rõ một học thuyết cai trị.

Điều liên kết các sự kiện này không chỉ là ý thức hệ mà là phương pháp. Trump đã cai trị như thể chủ quyền không nằm ở các thể chế, luật pháp, hay liên minh, mà tùy thuộc vào ý thích cá nhân của người đứng đầu nhánh hành pháp. Các khuôn khổ pháp lý trở thành công cụ thay vì cơ chế ràng buộc. Sự giám sát trong nước trở thành có điều kiện. Quyền lực được thực thi công khai, rồi biện minh khi mọi sự đã rồi, và được bình thường hóa thông qua việc lặp đi lặp lại.

Đây không phải là một chế độ độc tài theo nghĩa cổ điển. Nó là một cái gì đó khó nắm bắt hơn – và, theo nhiều cách, bền vững hơn và khó đảo ngược hơn. Chủ nghĩa độc tài hiện đại không xuất hiện với xe tăng trên đường phố hay việc đình chỉ hiến pháp. Nó phát triển thông qua luật pháp, thủ tục, và kiểm soát hành chính. Nó giữ lại các cuộc bầu cử nhưng thu hẹp mức độ cạnh tranh, duy trì tòa án trong khi khuyến khích sự phục tùng, và viện dẫn dân chủ ngay cả khi nó rút cạn tính đa nguyên của dân chủ.

Chính trong bối cảnh này, Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) năm 2025 của chính quyền Trump cần phải được đọc – không phải như một tài liệu chính sách đối ngoại thông thường, mà là biểu hiện học thuyết rõ ràng nhất của một sự chuyển đổi sâu sắc hơn đang diễn ra.

Các tài liệu chiến lược hiếm khi là khúc dạo đầu cho thay đổi chính trị, mà thường giúp hợp thức hóa thay đổi. Chúng lấy các thực tiễn đã được ứng biến, bình thường hóa, và kiểm nghiệm qua các thể chế rồi nâng chúng lên thành nguyên tắc. Theo nghĩa này, NSS không hẳn đánh dấu một sự chuyển hướng trong nghệ thuật quản lý nhà nước của Mỹ, mà là một khoảnh khắc tự nhận thức. Nó đã chuyển một năm cai trị bằng sự tùy ý của nhánh hành pháp – ở cả trong và ngoài nước – thành một lý thuyết quyền lực rõ ràng.

Được trình bày như một học thuyết về sự đổi mới quốc gia, chiến lược này sử dụng ngôn ngữ của sức mạnh, chủ quyền, và sự phục hồi. Nó mô tả một thế giới bị rạn nứt bởi sự cạnh tranh giữa các cường quốc, sự tranh chấp văn hóa, và tính dễ bị tổn thương của hệ thống, và nó lập luận rằng Mỹ phải giành lại quyền tự chủ chiến lược, khả năng phục hồi kinh tế, và sự tự tin về văn minh để chiến thắng.

Nhìn bề ngoài, nó giống như một nỗ lực quyết đoán nhằm sắp xếp lại sự can dự của Mỹ với một hệ thống quốc tế đầy bất ổn. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ hơn – và dưới ánh sáng của các thực tiễn cai trị trước đó – NSS mới tiết lộ một điều còn hệ trọng hơn. Nó không chỉ liệt kê các mối đe dọa ở nước ngoài; nó đóng khung gần như mọi lĩnh vực của đời sống công cộng Mỹ – chính sách kinh tế, di cư, năng lực công nghiệp, công nghệ, văn hóa, và bản sắc – như phần nối dài của địa hạt an ninh quốc gia. Khi làm như vậy, nó mở rộng sự tùy ý của nhánh hành pháp sang các lĩnh vực trước đây từng được cách ly khỏi logic an ninh quốc gia. Điều nổi lên không chỉ là tầm nhìn về vị trí của Mỹ trên thế giới, mà còn là một lý thuyết về quyền lực trong nước – một lý thuyết đặt chủ quyền lên trên sự đa nguyên, thống nhất lên trên bất đồng, và an ninh lên trên sự kiềm chế dân chủ.

Các đặc vụ Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ bắt giữ một người ở Minneapolis, Minnesota, vào ngày 13/01. © Ảnh: Stephen Maturen/Getty Images

NSS kết tinh một quỹ đạo vốn đã hiển hiện trong chính trị Mỹ: sự trỗi dậy của một hình thức chủ nghĩa độc tài hiến pháp (constitutional authoritarianism). Hình thức cai trị này không loại bỏ các cuộc bầu cử, tòa án, hay cơ quan lập pháp. Nó bắt chúng phải phục tùng. Kiến trúc vẫn còn đó, nhưng ý nghĩa đã thay đổi. Các chuẩn mực dân chủ được giữ lại chính xác là để chúng có thể được viện dẫn, ngay cả khi việc vận dụng chúng đang dần bị biến đổi và quyền kiểm soát đối với chúng ngày càng bị tập trung hóa.

Để hiểu quá trình này, nước Mỹ phải được đặt trong một mô hình toàn cầu rộng lớn hơn. Chủ nghĩa độc tài hiện đại hiếm khi xuất hiện nhờ đổ vỡ. Nó phát triển thông qua luật pháp, sự đều đặn của thủ tục, và sự diễn giải lại đầy sáng tạo các quyền hạn hiến định. Nó lan truyền theo hình mẫu, với các nhà lãnh đạo học hỏi lẫn nhau. Và nó phát triển mạnh trong các hệ thống nơi các thể chế dân chủ chính thức vẫn còn nguyên vẹn, ngay cả khi khả năng kiềm chế quyền lực của chúng dần xói mòn. Nhìn từ bên ngoài, nó trông như một trật tự hiến pháp quen thuộc, nhưng ở bên trong, mọi thứ đang dần bị đấu nối lại.

Khuôn khổ sáng tỏ nhất giúp chúng ta hiểu được hiện tượng này vẫn là khuôn khổ được nhà lý thuyết pháp lý Ernst Fraenkel đề xuất trong phân tích của ông về Đức Quốc xã: “nhà nước kép” (dual state). Trong mô tả của Fraenkel, một hệ thống độc tài có thể bảo tồn một nhà nước quy chuẩn (tòa án, thủ tục, tính hợp pháp) trong khi đồng thời xây dựng một nhà nước đặc quyền sẵn sàng đè bẹp hoặc lách qua những cơ chế đó nhân danh sự cần thiết, tình trạng khẩn cấp, hoặc sự sống còn của quốc gia. Quan trọng là, hai nhà nước này cùng tồn tại. Sự tồn tại của tính hợp pháp che đậy sự xói mòn của chủ nghĩa tự do.

Đây là bản chất của chủ nghĩa độc tài hiến pháp hiện đại. Quyền lực không được thực thi bên ngoài pháp luật mà thông qua nó. Sự đàn áp mang hình thức hành chính hơn là tàn bạo công khai. Các cuộc bầu cử vẫn tiếp diễn nhưng đã bị tước bỏ sự cạnh tranh thực sự. Báo chí hoạt động dưới áp lực kinh tế, quy định, hoặc áp lực không chính thức. Các tòa án ra phán quyết nhưng ngày càng nhân nhượng. Theo thời gian, nhà nước đặc quyền lớn dần bên trong lớp vỏ của nhà nước quy chuẩn cho đến khi sự phân biệt giữa chúng không còn mang ý nghĩa nào nữa.

Vì thế, sự suy thoái của nền dân chủ trở nên khó phát hiện khi nó còn đang diễn ra. Các công dân được bảo rằng hệ thống vẫn đang hoạt động – luật được thông qua, thẩm phán chủ tọa, phiếu bầu được đếm. Nhưng sau mỗi thay đổi pháp lý, không gian cho phe đối lập lại bị thu hẹp, còn sự tùy ý của nhánh hành pháp thì mở rộng thêm. Nhà nước kép không xuất hiện trong một khoảnh khắc; nó tích tụ qua một loạt các quyết định nhỏ – các quyết định bổ nhiệm mang tính chính trị, các cuộc điều tra có chủ đích, và các ngoại lệ một lần dần trở thành tiền lệ. Khi các hệ quả trở nên không thể phủ nhận, thì quá trình chuyển đổi về cơ bản đã hoàn tất.

Cảnh sát chống bạo động đứng phía trên những sinh viên biểu tình đang tham gia cuộc tấn công vào Dinh Tổng thống ở Manila, Philippines, vào ngày 30/01/1970. © Ảnh: Bettmann Archive qua Getty Images

Philippines dưới thời Tổng thống Ferdinand Marcos Sr. vẫn là một trong những trường hợp ban đầu tiêu biểu nhất của mô hình này. Sau khi đắc cử tổng thống năm 1965 và tái đắc cử năm 1969, Marcos đối mặt với bất ổn xã hội gia tăng, giới tinh hoa phân mảnh, và áp lực kinh tế chất chồng. Ông phản ứng không phải bằng sự chiếm đoạt độc tài công khai mà thông qua các thủ đoạn hiến pháp, đáng chú ý nhất là việc tuyên bố thiết quân luật năm 1972, được biện minh như một biện pháp khẩn cấp để bảo vệ trật tự quốc gia.

Thiết quân luật không xóa bỏ nền dân chủ Philippines mà làm rỗng ruột nó. Quốc hội bị gạt sang bên lề, truyền thông độc lập bị đàn áp, và các đối thủ bị giam giữ, tất cả đều dưới lớp vỏ bọc của quyền lực pháp lý. Các tòa án tiếp tục hoạt động, dù trong những ranh giới bị thu hẹp đáng kể. Các cuộc bầu cử được dàn dựng và quản lý cẩn thận. Hiến pháp vẫn là lá chắn của chế độ ngay cả khi tinh thần của nó đã bốc hơi.

Marcos thao túng chính hệ điều hành chính trị. Ông xây dựng một mạng lưới bảo trợ tập trung, trong đó lòng trung thành và huyết thống, thay vì năng lực, quyết định quyền tiếp cận các nguồn lực nhà nước. Chủ nghĩa tư bản thân hữu cứ thế nở rộ. Tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy bởi vay nợ nước ngoài tạo ra ảo tưởng về sự ổn định, che giấu sự mục nát cấu trúc ngày càng sâu rộng. Quyền lực của Marcos đạt đỉnh khi sự đàn áp, sự thỏa hiệp của giới tinh hoa, và sự hỗ trợ quốc tế hội tụ. Nó tan rã khi những trụ cột đó suy yếu – khi khủng hoảng nợ ập đến, giới tinh hoa trốn chạy còn quần chúng thì bắt đầu huy động.

Tính liên quan của trường hợp Marcos không nằm ở sự tương đồng mà ở phương pháp: sử dụng tính hợp pháp như một công cụ, thao túng thủ tục hiến pháp, diễn các màn kịch xoay quanh tính chính danh, và củng cố mạng lưới tinh hoa dưới ngọn cờ đoàn kết dân tộc. Marcos đã chứng minh làm thế nào đàn áp, bảo trợ, và tham nhũng có thể được khoác lên tấm áo ngôn ngữ hiến pháp, với các cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức để khẳng định rằng ông là người bảo vệ dân chủ chứ không phải kẻ đào mồ chôn nó.

Việc con trai ông, Ferdinand Marcos Jr., đắc cử tổng thống năm 2022 không báo hiệu sự trở lại của chế độ độc tài mà là sự trỗi dậy của nỗi hoài niệm độc tài. Đối với nhiều người Philippines, đặc biệt là các cử tri trẻ tuổi, cái tên Marcos gợi lên trật tự, ổn định, và niềm tự hào dân tộc. Các cuộc biểu tình gần đây giữa bối cảnh bê bối tham nhũng, rạn nứt giữa các gia tộc tinh hoa, và thất bại trong quản trị cho thấy nỗi hoài niệm, một lần nữa, lại va chạm với thực tế. Hậu quả của sự cố thủ của giới tinh hoa và thao túng hiến pháp đã tái xuất, ngay cả khi không có thiết quân luật.

Cảnh sát Hungary đưa một người biểu tình ra ngoài trong một cuộc tuần hành chặn lối vào tòa nhà quốc hội ở Budapest vào ngày 14/04/2025. ©Ảnh: Peter Kohalmi/AFP qua Getty Images

Nếu Philippines dưới thời Ferdinand Marcos Sr. đại diện cho hình mẫu ban đầu, thì Hungary dưới thời Thủ tướng Viktor Orban cung cấp mô hình đương đại dưới dạng đầy đủ nhất. Kể từ năm 2010, Orban đã viết lại trật tự hiến pháp của Hungary thông qua một chuỗi các biện pháp hợp pháp về mặt hình thức: tái cấu trúc hệ thống tư pháp, củng cố quyền sở hữu truyền thông, chính trị hóa bộ máy công chức, định hình lại các quy tắc bầu cử, và xây dựng một nền kinh tế dựa trên sự bảo trợ. Các cuộc bầu cử vẫn tồn tại và các đảng đối lập vẫn hiện diện, nhưng họ hoạt động trên một sân chơi đã bị làm cho bất lợi cho họ. Hungary vẫn là một nền dân chủ trên danh nghĩa, nhưng là một nền dân chủ phi tự do về bản chất.

Thổ Nhĩ Kỳ dưới thời Tổng thống Recep Tayyip Erdogan cũng đi theo một quỹ đạo tương tự. Quyền hạn khẩn cấp được viện dẫn sau nỗ lực đảo chính thất bại năm 2016 đã bình thường hóa quyền lực ngoại lệ. Các cuộc thanh trừng đã định hình lại hệ thống tư pháp, bộ máy hành chính, và quân đội. Cải cách hiến pháp mở rộng quyền lực tổng thống. Các cuộc bầu cử tiếp tục nhưng ngày càng hoạt động như công cụ phê chuẩn thay vì cạnh tranh thực sự. Theo thời gian, nhà nước đặc quyền trở thành vĩnh viễn. Gần đây, Erdogan còn tiếp tục củng cố quyền cai trị của mình.

Ấn Độ dưới thời Thủ tướng Narendra Modi minh họa cách chủ nghĩa độc tài hiến pháp có thể được kết hợp với bản sắc đa số thay vì chỉ dựa vào đặc quyền của nhánh hành pháp. Việc gây sức ép truyền thông, dùng quy định pháp lý để gây khó cho xã hội dân sự, thực thi pháp luật bị chính trị hóa, và kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc với bản sắc văn hóa đã thu hẹp không gian cho những ý kiến bất đồng và định hình lại hành vi của các thể chế. Các tòa án tiếp tục xét xử nhưng ngày càng tỏ ra dè dặt hơn đối với những vấn đề chạm đến cốt lõi tư tưởng của chế độ.

Argentina dưới thời Tổng thống Javier Milei đại diện cho một biến thể khác. Milei cầm quyền trong khuôn khổ hiến pháp, đàm phán luật pháp, và tuân thủ các thủ tục dân chủ chính thức. Tuy nhiên, những lời lẽ theo kiểu “đốt sạch,” phi chính danh hóa đối thủ, và đề cao sứ mệnh cá nhân của ông phản ánh một phong cách cai trị độc tài có thể bén rễ ngay cả khi các thể chế vẫn còn nguyên vẹn về mặt hình thức. Việc ông đón nhận Trump và các lãnh đạo cứng rắn khác nhấn mạnh cách các chuẩn mực phi tự do hiện đang lan truyền vượt qua biên giới quốc gia.

Cuộc tổng tuyển cử năm 2025 của Chile có thể xem như một biến thể nữa. Chiến thắng quyết định của José Antonio Kast, được thúc đẩy bởi lo ngại về tội phạm và di cư, đã đến mà không có sự thách thức thể chế công khai nào. Việc ông nhấn mạnh văn minh và trật tự đã trấn an nhiều cử tri. Tuy nhiên, dòng dõi, các liên minh, và cương lĩnh của ông không bác bỏ sự cai trị của phe cực hữu mà là cho thấy sự thích ứng chiến lược của nó – bảo tồn hình thức dân chủ trong khi điều chỉnh lại bản chất của nó.

Các trường hợp này khác nhau về bối cảnh và mức độ, nhưng chúng chia sẻ một logic chung. Tính hợp pháp đã trở thành một công cụ để củng cố quyền lực. Tính đa nguyên dần bị thắt chặt. Chủ quyền và bản sắc quốc gia được nâng lên trên các cơ chế kiềm chế của thể chế. Sự xói mòn dân chủ diễn ra như một chuỗi các điều chỉnh chiến thuật thay vì một lần đổ vỡ mang tính quyết định duy nhất.

Hơi cay được bắn vào đám đông những người đang tấn công Điện Capitol Mỹ ở Washington vào ngày 06/01/2021. © Ảnh: Evelyn Hockstein/The Washington Post qua Getty Images

Mỹ không miễn nhiễm với những động lực này. Phiên bản của Mỹ được định hình bởi chủ nghĩa liên bang, sự phân cực, và một hệ thống hiến pháp phân tán quyền lực. Nhưng nó thuộc cùng một “gia đình” tan rã dân chủ.

Nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của Trump đã làm căng thẳng các chuẩn mực dân chủ. Nhiệm kỳ thứ hai của ông thay đổi nền quản trị Mỹ một cách cơ bản hơn. Như nhà sử học Ruth Ben-Ghiat đã quan sát, phương pháp của Trump không giống sự xói mòn chậm chạp điển hình của các nhà lãnh đạo cứng rắn do dân cử, mà là sự củng cố nhanh chóng gắn liền với môi trường hậu đảo chính. Cuộc bạo loạn ngày 06/01/2021 – một nỗ lực đảo chính mà Trump chưa phải chịu trách nhiệm – vẫn là trung tâm của quỹ đạo này.

Sự chuyển đổi mang tính pháp lý, hành chính, và thể chế hơn là đàn áp công khai. Các biện pháp bảo vệ công chức đã bị làm suy yếu. Các tổng thanh tra bị gạt sang bên lề. Sự độc lập của các công tố viên bị tổn hại qua các bài kiểm tra lòng trung thành và các bổ nhiệm chiến lược. Các cơ quan quản lý được chuyển hướng sang các mục tiêu ý thức hệ. Áp lực truyền thông giờ đây mang hình thức ép buộc kinh tế thay vì kiểm duyệt. Các trường đại học và viện nghiên cứu đối mặt với sự giám sát mang tính thẩm tra. Các tòa án không bị thay thế mà được điều chỉnh lại.

Các sáng kiến như Dự án 2025 nêu rõ một nỗ lực rộng lớn hơn nhằm tái tạo bộ máy hành chính liên bang thành một công cụ của lòng trung thành cá nhân và đảng phái thay vì sự trung lập về chuyên môn. Ngay cả khi chưa hoàn tất, những thiết kế này đã định hình lại các động lực khuyến khích. Các quan chức dần học được rằng sự tồn tại của họ phụ thuộc vào năng lực ít hơn so với lòng trung thành.

Hệ quả tích lũy là một sự tái cấu trúc nhà nước Mỹ bên trong hình thức hiến pháp. Nhà nước quy chuẩn vẫn hiển hiện. Nhà nước đặc quyền đang lớn dần bên cạnh nó. Sự diễn giải của nhánh hành pháp ngày càng thay thế cho ý định của nhánh lập pháp. Tình trạng khẩn cấp trở thành lý do thường trực cho sự tập trung quyền lực. Tính hợp pháp trở thành công cụ thay vì giới hạn.

Mọi người nhìn ra một tàu chở dầu từ Cảng Hopeman ở Hopeman, Scotland, vào ngày 14/01. © Ảnh: Andy Buchanan/AFP via Getty Images

NSS đã làm nhiều hơn việc định nghĩa lại quyền lực Mỹ ở nước ngoài. Nó hợp thức hóa một tầm nhìn về quản trị, trong đó an ninh quốc gia không còn là một lĩnh vực riêng biệt mà trở thành lăng kính qua đó đời sống kinh tế, công nghệ, di cư, văn hóa, và sự gắn kết xã hội được thấu hiểu. Nó đại diện cho một hành động an ninh hóa toàn diện.

Sự an ninh hóa này mở rộng quyền hạn được diễn giải là thuộc về tổng thống, tập trung vào sự tùy ý, và thu hẹp không gian cho sự bất đồng bằng cách đóng khung sự bất đồng là điểm yếu dễ bị tổn thương. Khi gần như mọi thứ đều trở thành an ninh, thì chúng cũng trở thành đối tượng của đặc quyền của nhánh hành pháp.

Chiến lược đối với Châu Âu đặc biệt tiết lộ nhiều điều. NSS miêu tả các xã hội Châu Âu là yếu kém về chính trị, mong manh về văn hóa, bị áp đảo bởi di cư, và bị hạn chế bởi các chuẩn mực ngôn luận ngăn cản sự đối đầu với các mối đe dọa văn minh. Quan hệ đối tác được điều chỉnh lại không phải xoay quanh các giá trị dân chủ tự do mà quanh sự tương thích về ý thức hệ – chủ quyền, sự gắn kết văn hóa, và sự đổi mới quốc gia.

Cách đóng khung này đánh dấu sự rời bỏ cam kết truyền thống của Mỹ đối với dân chủ tự do như là nguyên tắc nền tảng của các quan hệ xuyên Đại Tây Dương. Thay vào đó, NSS nâng cao sự tương thích về ý thức hệ – chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa chủ quyền, đa số văn hóa – làm cơ sở cho quan hệ đối tác. Sự thay đổi này được củng cố bởi lời lẽ từ các quan chức cấp cao như Phó Tổng thống Mỹ J.D. Vance, người đã lập luận rằng những thất bại an ninh của Châu Âu bắt nguồn từ sự gắn bó với các chuẩn mực toàn cầu hóa thay vì sự yếu kém về vật chất. Trong bối cảnh này, ngôn ngữ của NSS về việc hỗ trợ các nhà lãnh đạo cam kết với chủ quyền, sự gắn kết văn hóa, và sự đổi mới quốc gia hoạt động như một kiểu “đèn xanh ngoại giao” cho sự liên kết chặt chẽ hơn với các lực lượng cực hữu của Châu Âu.

Hàm ý rất rõ ràng. Mỹ dường như sẵn sàng ve vãn hoặc hỗ trợ các phong trào chính trị Châu Âu chấp nhận các tầm nhìn phi tự do, miễn là họ phù hợp với các ưu tiên địa chính trị của Washington. Thúc đẩy dân chủ trở thành thứ yếu, thậm chí có thể hy sinh, để ưu tiên cho việc thúc đẩy liên kết phù hợp. Tính chất của liên minh phương Tây đang thay đổi – ít đa nguyên hơn, ít tự do hơn, phân cấp bậc hơn, mang tính đa số hơn. Một dự án “văn minh” chung thay thế ngôn ngữ cũ về các giá trị dân chủ chung.

Các nhà phê bình như nhà kinh tế học Jeffrey Sachs cảnh báo rằng NSS dựa trên sự vĩ cuồng và chủ nghĩa Machiavelli, thay thế hợp tác bằng cưỡng chế và thay thế tính chính danh bằng sự thống trị. Các vụ bắt giữ tàu chở dầu gần đây của Mỹ trên biển quốc tế – được biện minh bằng các lệnh trừng phạt đơn phương nhưng thiếu cơ sở rõ ràng trong luật pháp quốc tế – minh họa cho học thuyết này trong thực tế. Dù người ta đánh giá thế nào về lời phê bình rộng hơn của Sachs, thì vẫn khó để bỏ qua mô hình cơ bản: Chủ quyền được định nghĩa là sự tự do không bị ràng buộc, và luật pháp quốc tế bị xem như trở ngại hoặc không liên quan thay vì là một khuôn khổ.

Dù hướng ra ngoài hay vào trong, quan niệm chủ quyền này đặt đặc quyền của nhánh hành pháp lên trên các cơ chế kiềm chế của thể chế. Đó là bản chất của chủ nghĩa độc tài hiến pháp.

Các thành viên Vệ binh Quốc gia Mỹ đi tuần tại National Mall ở Washington vào ngày 26/08/2025. © Ảnh: Anna Moneymaker/Getty Images

Không điều nào trong số này có nghĩa là Mỹ đang trở thành một chế độ độc tài. Nước này vẫn duy trì các cuộc bầu cử cạnh tranh, một hệ thống tư pháp độc lập, và một xã hội dân sự sôi động như được chứng minh bởi các cuộc huy động quần chúng như các cuộc biểu tình “No Kings” (Không Vua) và các cuộc tuần hành sau vụ giết hại Good.

Như triết gia Hannah Arendt đã chỉ ra, chủ nghĩa độc tài không đòi hỏi sự bãi bỏ các thể chế, chỉ cần làm xói mòn các nguyên tắc vận hành của chúng là đủ. Tòa án có thể hoạt động trong khi tránh đối đầu. Bầu cử có thể diễn ra giữa những bất đối xứng về cấu trúc. Các cơ quan lập pháp có thể hoạt động trong khi dần nhượng lại quyền lực. Hình thức còn đó, nhưng bản chất phai nhạt.

Nhà sử học Timothy Snyder đã cảnh báo rằng các nền dân chủ thường chết thông qua sự bình thường hóa những điều ngoại lệ – tình huống khẩn cấp trở thành quản trị, lòng trung thành là tiêu chuẩn năng lực, thông tin sai lệch là công cụ chính trị. Nhà báo Anne Applebaum đã ghi lại cách giới tinh hoa thích nghi với chủ nghĩa phi tự do, tìm kiếm lợi thế khi ở gần quyền lực ngay cả trong lúc các thể chế mục nát. Giáo sư triết học Jason Stanley đã giải thích làm thế nào sự xói mòn của thực tế chung và sự đạo đức hóa bản sắc chính trị lại trở thành nền tảng cho sự củng cố độc tài đáng tin cậy hơn so với chỉ riêng thay đổi pháp lý.

Nước Mỹ đang thể hiện các dấu hiệu của mỗi điều trên. Các thể chế dân chủ vẫn đủ mạnh để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn, nhưng đã đủ suy yếu để cho phép sự xói mòn dần dần. NSS không tạo ra điều kiện này; nó chỉ thể hiện điều kiện đó. Nó phản ánh một thế giới quan trong đó chủ quyền vượt lên trên đa nguyên, sự thống nhất thay thế sự bất đồng, và an ninh đè bẹp tự do.

Mỹ có thể sẽ không phải đối mặt với sự sụp đổ đột ngột đã khiến Marcos đánh mất quyền lực hay sự đổ vỡ hiến pháp kịch tính đánh dấu sự chuyển đổi Thổ Nhĩ Kỳ của Erdogan. Sự xói mòn dân chủ có thể chậm chạp, không đồng đều, và trong một số trường hợp, có thể đảo ngược. Nhưng nó không thể tự sửa chữa.

Sự tan rã của nền dân chủ mang tính tích lũy. Nó diễn ra khi các chuẩn mực được viết lại, ranh giới thể chế bị làm mờ, tính hợp pháp bị vũ khí hóa, tình trạng khẩn cấp được bình thường hóa, và sự bất đồng bị đóng khung thành sự yếu kém. NSS là một tài liệu chính sách đối ngoại, nhưng nó cũng là một tấm gương. Nó phản chiếu không chỉ cách Mỹ nhìn thế giới mà còn cách nước này đang làm mới chính thể của mình. Quan ngại không phải là chiến lược này tuyên bố bảo vệ cái gì, mà là nó tiết lộ đất nước đang trở thành cái gì.

Alejandro Reyes là giáo sư và nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm Trung Quốc Đương đại và Thế giới tại Đại học Hong Kong. Ông cũng là học giả lưu trú tại Trung tâm Hiệp hội Châu Á tại Hong Kong.