Mỹ và Israel khó đạt mục tiêu ở Iran nếu không xâm nhập trên bộ

Nguồn: Thần Phong, 不发动地面入侵,美以不可能真正达到目的, Sina Finance, 02/03/2026.

Biên dịch: Lê Thị Thanh Loan

Trong khi cả thế giới còn đang hoài nghi liệu những nhượng bộ liên tiếp của Iran và các cuộc đàm phán hạt nhân có mang lại kết quả cuối cùng hay không, thì Mỹ và Israel đã phát động một cuộc không kích quy mô lớn vào Iran. Giao tranh vẫn đang diễn ra ác liệt, cả hai bên đều tuyên bố “chiến quả”, nhưng có quá nhiều chi tiết hiện vẫn còn nằm trong màn sương mù. Đối với thế giới, “màn sương chiến tranh” ở Vịnh Ba Tư hiện dày đặc hơn bao giờ hết. Trong thời khắc như vậy, người ta nên lùi lại một bước. Thay vì bị cuốn theo các trận đánh cụ thể, những tuyên bố chiến thắng hay diễn biến ngắn hạn, chúng ta nên tự hỏi: Mục tiêu thực sự phía sau tất cả những điều này là gì?

Liệu Mỹ và Israel có thể đạt được mục tiêu?

Tuy sự chú ý hiện đang tập trung vào Iran, chúng ta cũng cần nhận thức rõ rằng, thế giới đang trải qua những biến động mạnh mẽ và sâu sắc. Đại Trung Đông có thể không phải là trung tâm của những biến động này, nhưng lại gắn chặt với trung tâm thực sự của chúng – đặc biệt là nước Mỹ.

Tại nội bộ nước Mỹ, chiến dịch MAGA của Trump dường như đã đi vào ngõ cụt. Cuộc chiến thuế quan, từng được coi là một canh bạc chưa từng có, nay đã trở thành một thất bại chưa từng thấy; không chỉ “cơ hội chiến thắng” trước đó tan thành mây khói, mà việc hoàn trả thuế quan còn để lại một mớ hỗn độn. Lạm phát chỉ là con mãnh thú tạm thời bị nhốt trong lồng, trong khi nợ công Mỹ và đồng USD ngày càng trở thành vấn đề nan giải. Việc Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan (ICE) lạm dụng quyền lực đã trở thành mối họa công cộng, và ngay cả vấn đề tưởng chừng như “chỉ có lời, không có lỗ” là chống nhập cư bất hợp pháp cũng đã trở thành vấn đề rủi ro cao, có thể phản tác dụng. Làn sóng phản đối Trump ngày càng mạnh mẽ và tập trung hơn, trong khi phe MAGA thì ngày càng hoang mang: “Chẳng phải kịch bản đã hứa là sẽ khác sao?”

Bản thân Trump cũng có dự cảm rằng ông rất có thể sẽ thua trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, điều đó có nghĩa ông sẽ trở thành một tổng thống “vịt què” (lame duck) trong hai năm còn lại. Nếu không làm một “vụ lớn” ngay lúc này, điều đó thậm chí có thể phá hỏng triển vọng hồi sinh của chủ nghĩa Trump ở Mỹ. Ông cần chuyển hướng sự chú ý của công chúng khỏi những thất bại trong việc điều hành đất nước.

Do đó, Trump cần sự sụp đổ của chế độ thần quyền Iran; việc “mưu cầu lợi ích cho người dân Iran” chỉ là hệ quả phụ. Điều Trump thực sự cần là Iran – giống như Venezuela – phải quy phục Mỹ cùng với nguồn dầu mỏ của mình. Dầu mỏ của Iraq trên thực tế vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ. Mỹ hiện cũng đang kiểm soát dầu mỏ của Venezuela, nếu kiểm soát thêm cả dầu mỏ Iran thì trong số các quốc gia sản xuất dầu chính, cả Saudi Arabia, UAE và Kuwait đều dễ dàng khuất phục trước ý muốn của Mỹ, chỉ có Nga là vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát. Đây sẽ là sự kiểm soát triệt để nhất của Mỹ đối với dầu mỏ thế giới kể từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973.

Dầu mỏ vẫn là huyết mạch của nền kinh tế. Kiểm soát dầu mỏ có thể kéo dài sự sống cho “Pax Americana”, cũng như cho “Petrodollar”. Tầm quan trọng của vế sau càng trở nên nổi bật trong bối cảnh việc phi USD hóa trong thương mại nội khối của khối BRICS có khả năng thực sự trở thành hiện thực.

Về phía Israel, chiến dịch “Cơn lũ Al-Aqsa” do Hamas phát động vào ngày 7/10/2023 đã gây ra cho nước này một cú sốc tương đương với cuộc “Chiến tranh Tháng Mười” năm 1973. Trách nhiệm chính trị mà Benjamin Netanyahu phải gánh chịu vì để xảy ra cuộc tấn công bất ngờ này, cùng với vấn đề thanh toán chính trị, đã tạm thời bị gác sang một bên trong các chiến dịch phản công và cuộc chiến Gaza sau đó. Cuộc chiến Gaza chưa bao giờ thực sự kết thúc, nhưng Netanyahu rõ ràng cần một “màn kịch” rùm beng để duy trì sự sinh tồn chính trị cá nhân và bảo vệ di sản chính trị của chủ nghĩa phục quốc Do Thái cực đoan.

Israel cũng cần Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược trở lại khu vực Đại Trung Đông. Israel không thể hoạt động nếu thiếu sự hậu thuẫn của Mỹ, và “Cơn lũ Al-Aqsa” cũng khiến nước này nhận thức rõ hơn về sự kinh hoàng khi Iran tiến sát ngưỡng hạt nhân. Ở một mức độ nào đó, Hamas, Hezbollah và Houthi ở Yemen đều được xem là những lực lượng ủy nhiệm của Iran. Israel không đủ khả năng tự mình loại bỏ mối đe dọa từ Iran. Kể từ bài phát biểu tại Liên Hợp Quốc năm 2012, Netanyahu đã không ngừng cảnh báo về mối đe dọa hạt nhân từ Iran.

Netanyahu là nhà lãnh đạo Israel có khả năng hùng biện và vận động dư luận mạnh mẽ nhất, còn Donald Trump là Tổng thống Mỹ có thiện cảm với Israel nhất. Bản thân những điều này vốn chưa đủ, nhưng khi cộng hưởng với nhu cầu cứu vãn di sản chính trị của chính mình từ phía Trump, ngưỡng cửa chiến tranh cuối cùng đã bị bước qua.

Sức mạnh quân sự thực sự của Iran vẫn còn là một ẩn số, nhưng với dân số gần 100 triệu người, đây không phải là một quốc gia nhỏ. Đối với việc ném bom Iran, Netanyahu nêu rõ mục tiêu là lật đổ chính quyền, còn Trump đặt mục tiêu là giải giới vũ khí hạt nhân và tên lửa của Iran. Cả hai đều là những mục tiêu có độ “co giãn” rất cao: Khi tiến có thể tuyên bố chiến thắng bất cứ lúc nào; khi lùi có thể tuyên bố “chính nghĩa chưa hoàn thành, cần tiếp tục nỗ lực”. Vậy là Iran đã trở thành một “bao cát lý tưởng” để muốn đánh thì đánh, muốn dừng thì dừng.

Mặt khác, chiến tranh sẽ chỉ giới hạn ở các cuộc không kích và không thể leo thang thành chiếm đóng trên bộ. Tuy tuyên bố về “cuộc tập kết không vận lớn nhất kể từ Chiến tranh Vùng Vịnh”, lực lượng quân sự Mỹ trong khu vực hoàn toàn không đủ để phát động một cuộc xâm nhập trên bộ vào Iran, còn quân đội Israel thì căn bản không có năng lực đó.

Tuy nhiên, nếu không có cuộc xâm nhập trên bộ, Mỹ và Israel khó có thể thực sự đạt được mục tiêu của mình. Mỹ và Israel không phải chưa từng ném bom Iran, và thế giới khi đó đã hoài nghi về hiệu quả thực tế của điều này. Lối vào cơ sở hạt nhân của Iran đã bị Mỹ và Israel ném bom vào tháng 6/2025, nhưng tổng thể cơ sở dường như không bị hư hại đáng kể. Phần lớn uranium làm giàu có độ tinh khiết trên 60% vẫn được bảo toàn; báo cáo của IAEA cho rằng chúng được cất giữ trong các đường hầm ngầm tại cơ sở hạt nhân Isfahan.

Lượng uranium làm giàu này tuy chưa đạt tới cấp độ vũ khí (90%), nhưng khoảng cách không còn xa. Nếu Iran vượt qua ngưỡng vũ khí hóa, lượng uranium này sẽ đóng vai trò then chốt. Uranium tự nhiên chỉ chứa khoảng 0,72% U-235, trong khi lò phản ứng nước nhẹ cho điện hạt nhân cần 3-5%, mức 60% rõ ràng vượt xa nhu cầu dân sự mà Iran tuyên bố, dù vẫn có thể vin vào lý do “sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình”.

Tất nhiên, Mỹ và Israel sẽ không cho phép Iran “lách luật”. Ngày 9/2, Eslami – Chủ tịch Tổ chức Năng lượng Nguyên tử Iran tuyên bố, nếu phương Tây dỡ bỏ toàn bộ lệnh trừng phạt đối với Iran, Iran sẵn sàng pha loãng lượng uranium làm giàu hiện có để đảm bảo không vượt quá ngưỡng quy định. Thế nhưng vào ngày 26/2, phía Mỹ đưa ra các điều kiện: Tháo dỡ ba cơ sở hạt nhân Fordow, Natanz và Isfahan; chuyển toàn bộ uranium làm giàu còn lại sang Mỹ; và thỏa thuận phải có hiệu lực vĩnh viễn. Và Iran đã từ chối.

Một vấn đề khác là tên lửa của Iran. Iran đã tự xây dựng được một lực lượng tên lửa có quy mô đáng kể và trình độ kỹ thuật tốt, bao gồm cả tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo, vốn đã được sử dụng quy mô lớn trong cuộc phản kích nhắm vào Israel và quân Mỹ tại khu vực vào tháng 6/2025. Có thể coi mẫu UAV tuần kích “Shahed” từng nổi bật trong chiến sự Ukraine là phiên bản đơn giản của tên lửa hành trình. Trớ trêu thay, chính các phiên bản “Shahed” mà Mỹ “sao chép ngược” lại đang được tung vào cuộc tấn công nhắm vào Iran. Không rõ liệu điều này có thể được coi là một sự “tôn vinh” đối với ngành công nghiệp quân sự của Iran không.

Mỹ muốn đưa vấn đề tên lửa đạn đạo vào khuôn khổ đàm phán hạt nhân, với lý do chúng gây ra mối đe dọa toàn cầu. Ngày 25/2, Ngoại trưởng Iran Araghchi tuyên bố, Iran đã giới hạn tầm bắn của tên lửa trong phạm vi 2.000 km, chỉ sử dụng cho mục đích phòng thủ và răn đe, và hoàn toàn không phải là mối đe dọa toàn cầu. Ông khẳng định các cáo buộc Iran đang nghiên cứu tên lửa tầm xa có thể bắn tới Mỹ là “tin giả”, và Trump là nạn nhân của “tin giả”. Mỹ tất nhiên không chấp nhận tuyên bố này.

Lực lượng không quân của Iran đã rệu rã lâu năm, gần như chỉ còn là hình thức. Tên lửa tầm trung và tên lửa hành trình đã trở thành lực lượng chủ lực cho răn đe chiến lược. Vì vậy, việc từ bỏ phát triển tên lửa đồng nghĩa với tự giải giáp hoàn toàn. Nếu không phát triển vũ khí hạt nhân là một nghĩa vụ theo Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí Hạt nhân, thì việc tự phát triển và triển khai tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình không chịu bất kỳ ràng buộc điều ước nào, và Iran không có lý do gì để chấp nhận điều kiện như vậy. Thế nhưng đối với Mỹ và Israel, việc Iran sở hữu năng lực này chính là cái tội “giữ ngọc trong tay mà mang tội”.

Cũng giống như vũ khí hạt nhân, năng lực nghiên cứu và sản xuất tên lửa của Iran không thể bị xóa bỏ nếu không có một cuộc tấn công trên bộ. Đây mới là mối đe dọa trực tiếp và có “ngưỡng” thấp hơn đối với Israel; không chỉ Iran đã sử dụng trong thực chiến, mà cả Houthi và Hezbollah đều sở hữu năng lực tên lửa có nguồn gốc từ Iran.

Ngay cả khi Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận mà tất cả các bên đều có thể chấp nhận, việc thanh sát thỏa thuận vẫn là một vấn đề lớn. Sau Chiến tranh Vùng Vịnh, Iraq đã chấp nhận sự thanh sát của Liên Hợp Quốc về vũ khí hủy diệt hàng loạt. Nhóm thanh sát, tuy về lý thuyết thì trung lập và thuần túy kỹ thuật, nhưng trên thực tế đã “vũ khí hóa” hoạt động thanh sát, tự ý mở rộng phạm vi thanh tra mà không tìm thấy bất cứ điều gì và ngang nhiên xâm phạm chủ quyền của Iraq. “Việc Iraq từ chối phối hợp với thanh sát theo ủy quyền của Liên Hợp Quốc” cuối cùng đã trở thành một trong những lý do để Mỹ phát động Chiến tranh Iraq.

Ngay cả khi Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận hạt nhân, việc thanh sát và “vũ khí hóa thanh sát” vẫn khó tránh khỏi. Việc không bắt được bằng chứng xác thực nào chỉ càng làm sâu sắc thêm sự nghi ngờ của Mỹ và Israe. Cuối cùng, chỉ có chiếm đóng trên bộ mới có thể đảm bảo được việc phi hạt nhân hóa và phi tên lửa hóa Iran. Tóm lại, mọi thỏa thuận chỉ có thể trì hoãn chứ không thể ngăn chặn một cuộc xâm nhập trên bộ.

Một cuộc chiến với Iran là điều gần như không thể tránh khỏi, nhưng việc nó bắt đầu vào thời điểm này phản ánh tính toán mang màu sắc cơ hội chính trị cá nhân của Trump và Netanyahu như đã nêu ở trên.

Cuộc chiến sẽ đi về đâu?

Bất chấp những tuyên bố đầy tự tin của Iran, bất chấp kỳ vọng về một sự trả đũa mạnh mẽ từ Iran của những người bất mãn với bá quyền của Mỹ và Israel, cuộc phản công trực tiếp của Iran chắc chắn sẽ bị giới hạn. Số lượng tên lửa có hạn cùng lắm chỉ có thể gây ra một vài thiệt hại bên ngoài. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa Mỹ và Israel sẽ “dễ thắng”. Diễn biến của cuộc chiến được quyết định bởi một vài yếu tố:

1. Ý chí của nhân dân Iran

Sau 50 năm dưới sự cai trị của chế độ thần quyền, từ bên ngoài gần như chỉ có thể phỏng đoán thái độ của nhân dân Iran đối với Cộng hòa Hồi giáo, hoặc dựa vào những phát biểu của phe đối lập lưu vong hải ngoại. Chiến dịch ném bom hiện tại của Mỹ và Israel rõ ràng coi việc “chặt đầu” và lật đổ chế độ là ưu tiên hàng đầu; tên lửa và vũ khí hạt nhân nói trên có lẽ không quan trọng đến thế.

Hiện tại, những nhân vật được truyền thông Iran xác nhận là đã thiệt mạng trong cuộc ném bom bao gồm: Lãnh tụ tối cao Ayatollah Khamenei, Tham mưu trưởng Lực lượng Vũ trang Abdolrahim Mousavi, Tổng tư lệnh Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Mohammad Pakpour, Thư ký Hội đồng Quốc phòng Ali Shamkhani và Bộ trưởng Quốc phòng Aziz Nasirzadeh. Rõ ràng, Mỹ và Israel đã quyết định loại bỏ toàn bộ giới lãnh đạo quân sự và chính trị cao nhất của Iran.

Tuy nhiên, được biết là Tổng thống thuộc phe cải cách Masoud Pezeshkian vẫn còn sống và đang thực hiện quyền hạn của Lãnh tụ tối cao thông qua một hội đồng lâm thời. Về đối nội, Pezeshkian chọn cách tiếp cận thực tế, tập trung vào “thịt, bánh mì và nhà ở”, trực diện đối mặt với tình trạng suy thoái kinh tế và nỗi lo dân sinh của người dân Iran. Về đối ngoại, ông cam kết theo đuổi chính sách đối ngoại thực dụng, xoa dịu căng thẳng với phương Tây, cho rằng cần cải thiện quan hệ với các nước phương Tây bao gồm cả Mỹ, đồng thời đặt việc dỡ bỏ các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Iran lên vị trí ưu tiên hàng đầu.

An ninh và ngoại giao là thẩm quyền của Lãnh tụ tối cao; chừng nào Khamenei còn tại vị, không gian hoạt động của Pezeshkian sẽ bị hạn chế. Có vẻ như Mỹ và Israel có ý định “dọn chướng ngại vật” cho Pezeshkian. Vấn đề là, Pezeshkian sẽ lựa chọn thế nào khi đối mặt với sự xâm nhập của ngoại bang? Và người dân Iran sẽ lựa chọn điều gì?

Hàng ngũ lãnh đạo của chế độ thần quyền Iran có thể đã bị loại bỏ, nhưng nền tảng xã hội và chính trị của chế độ này không vì thế mà biến mất. Việc phớt lờ nền tảng xã hội và kỹ thuật chính trị chính là “tử huyệt” truyền thống của chiến lược “chặt đầu”. Các lãnh đạo của Hamas và Hezbollah đã bị loại bỏ hết người này đến người khác, nhưng hai tổ chức này luôn tái sinh, bởi tổ chức của họ được xây dựng trên nền tảng tư tưởng. Chừng nào nền tảng xã hội chưa thay đổi căn bản, tư tưởng sẽ không bị xóa bỏ; và chừng nào tư tưởng còn đó, nền tảng chính trị vẫn sẽ tồn tại.

Mỹ đã bắt giữ Maduro, nhưng chính quyền của Đảng Xã hội Thống nhất (PSUV) từ Rodríguez trở xuống vẫn nguyên vẹn, và Mỹ thậm chí còn phải dựa vào PSUV để duy trì sự vận hành của Venezuela. Ở Iran, vai trò của các đảng phái có lẽ còn không bằng Lực lượng Vệ binh Cách mạng (IRGC). Trong những năm qua, không ít lãnh đạo IRGC đã tử nạn trong các vụ ám sát, nhưng tổ chức này chưa bao giờ tan rã vì cái chết của một vài cá nhân, và hiện tại cũng vậy.

Mặt khác, Pahlavi đã thực hiện chính sách Tây hóa toàn diện ở Iran trong nhiều thập kỷ, nhưng khi vương triều Pahlavi sụp đổ, những khí tài hiện đại mua bằng núi tiền của Mỹ hay lực lượng quân cảnh tinh nhuệ do phương Tây đào tạo cũng trở nên vô dụng. Đó là bởi Hồi giáo đã bén rễ sâu sắc ở Iran (mặc dù vẫn có những tranh cãi về “Ba Tư với Ả Rập” hay việc Hồi giáo không phải tôn giáo bản địa), và chế độ thần quyền trên thực tế được trao quyền bởi quần chúng. Tuy nhiên, nhu cầu cải cách, cải thiện đời sống và vị thế quốc tế của người dân Iran cũng là điều chính đáng và sâu sắc. Chừng nào Cộng hòa Hồi giáo còn duy trì bầu cử dân chủ, thì việc phe cải cách và phe bảo thủ luân phiên thắng cử sẽ khó lòng thay đổi.

Trong nhiều thập kỷ, Iran luôn quán triệt chế độ bầu cử dân chủ. Mỗi khi phe cải cách thắng cử, phương Tây lại vui mừng vì nghĩ rằng Iran cuối cùng đã trở lại lộ trình thân phương Tây, nhưng lần nào họ cũng thất vọng. Quyền phủ quyết của Lãnh tụ tối cao (suốt 40 năm qua là Khamenei, trước đó là Khomeini) đóng một vai trò rất lớn.

Liệu Pezeshkian có viết lại lịch sử Iran vì Lãnh tụ Tối cao đã bị tiêu diệt? Trong bối cảnh cấu trúc thần quyền với đại diện là IRGC vẫn kiên cố như hiện nay, ông sẽ viết lại lịch sử bằng cách nào? Liệu cuối cùng Pezeshkian sẽ trở thành anh hùng dân tộc hay tội đồ dân tộc khi viết lại lịch sử Iran dưới làn bom đạn của Mỹ và đặc biệt là Israel? Đây là những câu hỏi mà Pezeshkian và người dân Iran không thể né tránh, và cũng là những câu hỏi mà Mỹ và Israel không thể trả lời.

Điều thú vị là, truyền thông Israel tuyên bố cựu Tổng thống Ahmadinejad cũng đã thiệt mạng trong cuộc ném bom, nhưng điều này đã bị văn phòng của ông phủ nhận. Ahmadinejad giữ chức Tổng thống Iran từ năm 2005 đến năm 2013. Về đối ngoại, ông có lập trường cứng rắn chống Mỹ và Israel, cho rằng chỉ cần Mỹ tiếp tục giữ thái độ thù địch thì Iran không nên và cũng không cần cải thiện quan hệ; ông từng gọi Israel là “khối u nhục nhã” cần “bị xóa sổ khỏi bản đồ”; ông ủng hộ “Vòng cung Kháng chiến”, kiên trì quyền sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình trong mọi điều kiện, và thậm chí không phản đối việc sở hữu vũ khí hạt nhân. Về đối nội, Ahmadinejad có lối sống thanh bạch và gần dân, chủ trương sử dụng doanh thu từ dầu mỏ để cải thiện mức sống và phúc lợi của người dân, đồng thời đầu tư mạnh vào xây dựng cơ sở hạ tầng. Những nỗ lực của Ahmadinejad trong việc giải quyết các vấn đề dân sinh như nhà ở khiến ông nhận được sự ủng hộ rộng rãi của tầng lớp thu nhập thấp ở Iran.

Về sau, Ahmadinejad mất đi sự ủng hộ của Khamenei và đã ba lần cố gắng tái tranh cử Tổng thống (vào các năm 2017, 2021 và 2024) nhưng đều bị Hội đồng Giám hộ tước tư cách ứng cử. Khi còn là sinh viên tại Đại học Khoa học và Công nghệ Tehran, Ahmadinejad từng xông vào Đại sứ quán Mỹ tại Tehran; với tư cách là thành viên của IRGC, ông đã chiến đấu dũng cảm trong Chiến tranh Iran-Iraq; với tư cách là Tổng thống, ông đã làm việc cần mẫn trong trong sự nghiệp chống Mỹ, chống Israel và tái thiết dân sinh. Thế nhưng, Ahmadinejad không phải là giáo sĩ, mà là một trí thức thế tục; sau khi rời ghế Tổng thống, ông quay lại giảng dạy tại chính ngôi trường cũ của mình.

Trong khi đó, các Tổng thống thuộc phe cải cách được Khamenei chấp thuận như Rouhani hay Raisi đều là các giáo sĩ cấp cao. Có lẽ đây là kiểu “chủ nghĩa cải cách mang đặc sắc Iran”: Dùng Hồi giáo để thanh lọc tâm hồn, dùng khoa học kỹ thuật và kinh tế thương mại phương Tây để cải thiện dân sinh và kinh tế. Thế nhưng, đường lối “hướng Tây” của phe cải cách thường xuyên rơi vào cảnh “nhiệt tình bị đáp lại bằng sự lạnh nhạt”. Điều phương Tây cần là một Iran phi Hồi giáo hóa, chứ không phải một Iran “lấy Hồi giáo làm thể, lấy phương Tây làm dụng”. Thỏa thuận hạt nhân mà Rouhani đạt được với Obama không chỉ bị chính quyền mới của Trump trực tiếp xé bỏ, mà Iran còn bị coi là đã tiến sát ngưỡng sở hữu vũ khí hạt nhân và phải hứng chịu những đòn tấn công dồn dập. Pezeshkian có chút đặc biệt: Ông là bác sĩ, không phải giáo sĩ, đồng thời cũng là một trong số rất ít lãnh đạo thuộc phe cải cách còn sót lại – phe cải cách hiện đã không còn lựa chọn.

Giữa Khamenei và Ahmadinejad, có lẽ tồn tại một cuộc đấu tranh kỳ lạ giữa “giáo sĩ cải cách” và “trí thức thế tục bảo thủ”. Về cái chết của Khamenei, ông đã 86 tuổi và sức khỏe vốn đã không tốt; Iran chắc hẳn đã cân nhắc về người kế nhiệm, vì vậy việc này chưa chắc để lại ảnh hưởng quá lớn. Ahmadinejad cũng vậy, ông chỉ là một cá nhân, và chừng nào lực lượng “trí thức thế tục bảo thủ” mà ông đại diện còn tồn tại, cuộc đấu tranh vẫn sẽ tiếp diễn.

Thú vị là, Israel có thể trở thành một sự đối chiếu tương đồng. Người Do Thái là một thể thống nhất về chủng tộc, tôn giáo và văn hóa. Các giáo sĩ Do Thái (Rabbi) đã đóng vai trò then chốt trong việc duy trì bản sắc Do Thái trong suốt 2000 năm, và ngày nay trên chính trường Israel, các lực lượng cực hữu cũng mang đậm tình cảm Do Thái giáo; luận cứ cho một “Đại Israel” trải dài “từ sông Euphrates đến Địa Trung Hải” bắt nguồn từ kinh Cựu Ước. Tuy nhiên, Israel không phải do người Do Thái giành được dưới sự lãnh đạo của các giáo sĩ Rabbi. Nhiều vị khai quốc công thần của Israel đều không “mặn mà” với Do Thái giáo. Trong Cuộc chiến Sáu ngày, khi quân đội Israel tiến vào Jerusalem và các binh lính khóc nức nở dưới chân Núi Đền, Tướng Dayan lại tỏ vẻ khinh thị đối với “tảng đá lớn đó” và từ chối bước lên hành lễ.

Có lẽ, trục chính của cuộc đấu tranh giữa “giáo sĩ cải cách” và “trí thức thế tục bảo thủ” cuối cùng sẽ quyết định hướng đi của công cuộc “cải cách mở cửa mang đặc sắc Iran”. Thật vậy, tình thế khó khăn của Iran chỉ có thể được giải quyết bởi chính người Iran, dưới sự dẫn dắt của một nhà lãnh đạo tìm ra con đường “cải cách mở cửa mang đặc sắc Iran”, chứ bom đạn của Mỹ và Israel không thể quyết định điều đó.

2. Thái độ của các quốc gia trong khu vực

Chiến dịch ném bom của Mỹ và Israel đã đẩy các quốc gia trong khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Tuy các tranh chấp giữa “người Ả Rập với người Ba Tư” và “người Sunni với người Shia” vẫn luôn tồn tại, nhưng lòng dân buộc các quốc gia này phải duy trì thái độ thù địch, hoặc ít nhất là giữ khoảng cách với Mỹ và Israel, khiến họ khó lòng chọn phe.

Trong thời gian Mỹ và Iran đàm phán về vấn đề hạt nhân, Thái tử kiêm Thủ tướng Saudi Arabia Mohammed bin Salman đã điện đàm với Tổng thống Iran Pezeshkian, nhấn mạnh rằng Saudi Arabia sẽ không cho phép lãnh thổ hay không phận của mình bị sử dụng để tấn công Iran.

Sau khi hứng chịu các đòn ném bom của Mỹ và Israel, Iran đã tiến hành trả đũa nhắm vào các căn cứ quân sự của Mỹ tại Saudi Arabia, UAE, Qatar, Bahrain và Kuwait. Bộ Ngoại giao Saudi Arabia ngay lập tức ra tuyên bố lên án Iran “xâm phạm chủ quyền nước láng giềng” và khẳng định sẽ toàn lực ủng hộ các “quốc gia anh em” này. UAE và các nước khác cũng tuyên bố bảo lưu quyền phản công.

Một mặt, việc các nước khu vực đứng nhìn bất lực khi tên lửa Iran lao tới dù đã chi núi tiền mua khí tài hiện đại từ Mỹ và châu Âu là điều khó lòng chấp nhận được về mặt chính trị. Mặt khác, trong bối cảnh Mỹ và Israel tàn sát và phá hủy Iran – một quốc gia cùng thuộc thế giới Hồi giáo – thì việc “nối giáo cho giặc” cũng là điều không thể chấp nhận được về mặt chính trị. Giúp nước Mỹ theo Kitô giáo đánh Iran theo dòng Shia là một chuyện, nhưng giúp Israel theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái tàn sát anh em Hồi giáo thì lại là một lằn ranh chính trị tuyệt đối không được vượt qua.

Do những ràng buộc chính trị, các căn cứ quân sự của Mỹ trong khu vực vừa phải hứng chịu đòn trả đũa của Iran, vừa phải giữ thái độ khiêm tốn trong tác chiến, không trở thành chủ thể chính của hành động quân sự. Lực lượng phòng không của các quốc gia khu vực tuy đã đạt được một vài chiến quả, nhưng còn xa mới đạt đến mức “không để lọt một ai”. Quân đội Mỹ không hài lòng nhưng cũng không thể vượt quyền, nên cảm thấy rất bức bối.

Tuy nhiên, nếu các đòn phản kích của Iran hoàn toàn chọc giận các nước khu vực, khiến họ mở cửa lãnh thổ và không phận cho quân đội Mỹ sử dụng, thì cục diện chiến trận có thể sẽ rất khác. Hiện tại, máy bay Mỹ và Israel chủ yếu xuất kích từ các căn cứ tại Israel và Jordan, mượn đường qua không phận Syria và Iraq để tấn công Iran Vai trò của máy bay tiếp dầu Mỹ đặc biệt nổi bật, giúp chiến đấu cơ Israel tăng đáng kể tầm hoạt động khi mang đầy tải trọng.

Syria gần như không có lực lượng không quân. Không quân Iraq thì có F-16 chuyên để đánh ISIS; năng lực không chiến dựa vào tên lửa AIM-7 “Sparrow” từ thời Chiến tranh Việt Nam, trên thực tế coi như bằng không. Có tin đồn Iraq đang thương thảo mua 12 chiếc JF-17 Block 3 từ Pakistan. Nếu thương vụ này thành công, số lượng tăng lên và chúng được trang bị tên lửa PL-15, điều này sẽ có tác động như thế nào đến các hành động băng qua Iraq để ném bom Iran của Mỹ và Israel trong tương lai – đây là một câu hỏi rất thú vị.

Điều đáng chú ý là, nước Anh cũng tham gia hành động, nhưng chỉ tham gia phòng không cho Israel và Jordan chứ không tham gia tấn công. Nước này thậm chí còn từ chối cho Mỹ sử dụng căn cứ Diego Garcia ở Ấn Độ Dương và căn cứ Fairford trên lãnh thổ Anh, khiến các máy bay ném bom của Mỹ vắng mặt một cách dễ nhận thấy. Về lý thuyết, B-52 và B-2 có thể xuất kích trực tiếp từ lãnh thổ Mỹ, nhưng tần suất xuất kích sẽ bị hạn chế rất lớn.

Hiện tại trong số các tàu sân bay Mỹ, chỉ có “Lincoln” đã vào vị trí, “Ford” còn ở khá xa, còn “Bush” thì thậm chí vẫn chưa tới khu vực tác chiến. Trọng điểm ném bem nằm ở phía Bắc, cách khá xa Biển Ả Rập.

Tuy nhiên, nếu các căn cứ quân sự của Mỹ trong khu vực được mở ra hoàn toàn, thì dàn “xe máy nhỏ” (UAV cảm tử) và tên lửa đạn đạo của Iran sẽ khó lòng ngăn chặn được. Khi đó, nguồn tiếp tế của Mỹ có thể ồ ạt đổ vào như thời Chiến tranh Vùng Vịnh để hỗ trợ cho các chiến dịch tác chiến.

Việc Iran làm thế nào để giữ vững chừng mực trong chiến lược “chống Mỹ và Israel chứ không chống Ả Rập”, nhằm không kích động các quốc gia khu vực tham gia vào chiến cục, sẽ là điểm cực kỳ đáng theo dõi trong thời gian tới.

3. Năng lực tiến hành chiến tranh lâu dài của Mỹ và Israel

Như đã đề cập trước đó, việc “chặt đầu” thành công giới lãnh đạo Iran không đồng nghĩa với việc thay đổi chế độ thành công, và việc tiếp tục ném bom các cơ sở tên lửa và hạt nhân của Iran cũng không đảm bảo xóa sổ được năng lực liên quan của họ. Quan trọng hơn, ngay cả khi Iran bắn hết tên lửa, điều đó không có nghĩa IRGC mất đi khả năng phong tỏa eo biển Hormuz, cũng không có nghĩa lực lượng Houthi do IRGC hậu thuẫn sẽ từ bỏ việc phong tỏa eo biển Bab el-Mandeb tại cửa ngõ Biển Đỏ. Việc tiếp tục phong tỏa đối với hoạt động vận tải dầu mỏ ở Vịnh Ba Tư và vận chuyển hàng hóa trên Biển Đỏ có thể buộc Mỹ và Israel (ít nhất là Mỹ) phải kéo dài các hoạt động quân sự và rơi vào thế thụ động.

Trong Chiến tranh Vùng Vịnh, Mỹ đã tập trung 6 tàu sân bay, từ 1.300 đến 1.800 máy bay chiến đấu và 500.000 quân. Giờ đây, tại chiến trường Iran, Mỹ thậm chí không thể huy động 6 tàu sân bay, và 150 máy bay chiến đấu cũng không đủ để ném bom một Iran rộng lớn hơn Iraq rất nhiều cho đến khi họ phải đầu hàng. Nhiệm vụ chính của 30.000 đến 40.000 quân Mỹ trong khu vực là né tránh các đòn phản công của Iran, chứ không thể bàn đến việc đánh bại IRGC.

Một ca phẫu thuật ung thư mà không cắt bỏ triệt để sẽ chỉ dẫn đến di căn lan rộng và nghiêm trọng hơn, trong khi các đợt ném bom của Mỹ và Israel lúc này chẳng khác nào chỉ mới rạch qua lớp da của Iran. Lần gần nhất Mỹ ném bom Iran là cách đây 8 tháng; không ai biết lần này sẽ kéo dài bao lâu, nhưng gần như chắc chắn rằng một đợt khác sẽ sớm xảy ra.

Israel vừa mới bước ra khỏi cuộc chiến đầy đau đớn ở Gaza, và không ai biết cuộc chiếm đóng quân sự – vốn đòi hỏi tiêu tốn lượng lớn binh lực và tài chính – sẽ kéo dài bao lâu. Tuy nhiên, nỗi sợ hãi và căm ghét đối với tên lửa và vũ khí hạt nhân của Iran vượt lên trên các chia rẽ chính trị nội bộ Israel, và chừng nào Mỹ còn tiếp tục ủng hộ, Israel có lẽ vẫn sẽ tiếp tục duy trì cuộc chơi.

Thế nhưng với nước Mỹ thì lại khác. Chiến tranh rất tốn kém, và danh hiệu “Tổng thống hòa bình” mà Trump tự xưng vốn không xuất phát từ lòng yêu chuộng hòa bình, mà chỉ đơn giản là không muốn chi tiền. Một vấn đề khác là quyền tuyên chiến. Đạo luật Quyền lực Chiến tranh quy định quyền tuyên chiến thuộc về Quốc hội, chứ không phải Tổng thống. Tổng thống có quyền chỉ có quyền ứng biến trong tình huống khẩn cấp, nhưng phải được Quốc hội phê chuẩn sau đó. Trong lịch sử, các Tổng thống Mỹ đã nhiều lần viện dẫn quyền này để phát động các cuộc chiến ngắn hạn, và Quốc hội thường không gây khó dễ. Việc bắt giữ Maduro thậm chí còn được mô tả là hành động thực thi pháp luật với sự hỗ trợ của quân đội Mỹ, hoàn toàn không phải hành động chiến tranh.

Tuy nhiên, chiến dịch đối với Iran không thể được “đóng gói” theo cách đó. Một khi chiến sự kéo dài, sẽ không thể tránh được cửa ải Quốc hội. Điều này có nghĩa, Trump buộc phải nhanh chóng tuyên bố “nhiệm vụ hoàn tất”. Một số phương tiện truyền thông ước tính chiến dịch ném bom sẽ không kéo dài quá một tuần.

Mặt khác, Mỹ cũng không đủ sức để duy trì một cuộc chiến kéo dài. Cuộc chiến ở Ukraine đã phơi bày những vấn đề về kho dự trữ đạn dược của Mỹ; họ thậm chí không thể thoải mái sử dụng đạn pháo 155mm, chứ chưa nói đến các loại tên lửa hành trình và bom dẫn đường quý hiếm.

Đó là chưa kể đến vấn đề “Chiến tranh eo biển Đài Loan năm 2027” mà Mỹ vẫn luôn nhắc đến. Nếu Mỹ tiêu hao quá nhiều đạn dược và tuổi thọ khí tài trong cuộc chiến với Iran, và cuộc chiến eo biển Đài Loan thực sự xảy ra vào năm 2027, quân đội Mỹ lúc đó sẽ chẳng khác nào “tay không bắt giặc”.

Nhiều báo cáo chỉ ra rằng, các nguồn lực tác chiến chủ chốt hiện đang tập trung tại chiến trường như F-22, F-35, E-3, KC-135… gần như là lực lượng cơ động chủ lực của Không quân Mỹ, và chúng thường không được huy động theo biên chế chuẩn mà được tập hợp từ nhiều phi đội khác nhau. Tàu USS Ford, ra khơi tuần tra từ tháng 6/2025 đã quá hạn triển khai, nhưng vẫn phải “chạy sô” từ vùng biển Caribbean sang Đại Trung Đông. Ước tính phải mất một đến hai tháng nữa nó mới có thể về cảng bảo dưỡng – nơi mà vấn đề nhà vệ sinh “tai tiếng” của nó có lẽ sẽ được giải quyết.

Một khi chiến sự kéo dài, tình cảnh khó khăn của quân đội Mỹ có thể sẽ lộ rõ, sự cứng rắn của Trump sẽ trở thành trò cười, và Iran sẽ trở thành một thất bại hoàn toàn khác sau thất bại của cuộc chiến thuế quan.

Tuy nhiên, thất bại lớn nhất của Trump có khả năng lại đến từ nội bộ. Lạm phát của Mỹ hiện đang được kiềm chế phần lớn nhờ giá dầu thấp. Eo biển Hormuz kiểm soát 20% lượng dầu xuất khẩu của thế giới. Những chiếc xuồng cao tốc của IRGC có thể bất lực trước chiến hạm Mỹ, nhưng chúng đủ sức đe dọa các tàu dầu. Điều này có nghĩa, toàn bộ hoạt động xuất khẩu dầu tại khu vực Vịnh Ba Tư đang bị đe dọa, và giá dầu toàn cầu khó tránh khỏi tăng vọt.

Việc vận tải dầu qua eo biển Hormuz ít ảnh hưởng trực tiếp đến Mỹ vì họ có dầu đá phiến và dầu từ Venezuela. Tuy nhiên, thị trường dầu mỏ là thị trường mang tính toàn cầu hóa nhất, và giá dầu tại Mỹ khó tránh khỏi leo thang. Điều này có thể giúp các tập đoàn dầu mỏ Mỹ có thêm lợi nhuận, nhưng đối với người tiêu dùng Mỹ, điều đó có nghĩa là họ phải trả một hóa đơn cao hơn.

Nền kinh tế Mỹ neo vào tiêu dùng, và tiêu dùng Mỹ lại neo vào dầu mỏ. Nếu lạm phát tăng trở lại, sức tiêu dùng sẽ bị giáng đòn nặng nề, kéo theo đó là sự sụt giảm việc làm, thị trường chứng khoán và cả GDP. Khi đó, Cục Dự trữ Liên bang sẽ phải tăng lãi suất, không chỉ hạn chế vay tiêu dùng, mà còn khiến chi phí trả lãi nợ công tăng vọt. Khoản thâm hụt 1,5-2 nghìn tỷ USD mỗi năm cần phát hành thêm trái phiếu để bù đắp, và lượng trái phiếu chính phủ đáo hạn hằng năm (cả năm 2024 và 2025 đều ở quy mô khoảng 10.000 tỷ USD) khi tái phát hành cũng sẽ phải chịu mức lãi suất hiện hành. Không ai biết cú sốc nào sẽ là giọt nước cuối cùng làm sụp đổ niềm tin vào đồng USD, nhưng cũng chẳng ai muốn biết.

Nếu Iran muốn đánh lâu dài, họ cần phong tỏa eo biển Hormuz bằng mọi giá, liên tục đẩy giá dầu toàn cầu lên cao và dùng lạm phát để làm Mỹ kiệt quệ. Tuy nhiên, họ cũng phải kiểm soát chừng mực để không ép các quốc gia láng giềng vào thế đối đầu.

Tác động toàn cầu của việc phong tỏa eo biển Hormuz là rất lớn. Châu Âu sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi giá dầu tăng cao, và cũng vì nền kinh tế neo vào tiêu dùng nên khó có lối thoát. Các nước đang phát triển và Ấn Độ cũng sẽ là nạn nhân. Trung Quốc sẽ chịu tác động mạnh, nhưng ngành sản xuất của nước này có thể chuyển chi phí xuống hạ nguồn – một kỹ năng mà Trung Quốc đã “quen tay hay việc”, họ thậm chí có thể đạt được mức thặng dư kỷ lục trong khi các nước khác khốn đốn vì giá dầu. Nga sẽ là nước “hài lòng” nhất, vì không chỉ giá và lượng dầu xuất khẩu đều tăng, mà áp lực tại chiến trường Ukraine cũng được giảm bớt. Có lẽ lúc đó sẽ có người ở Mỹ và châu Âu cáo buộc Trump mới chính là kẻ “thân Nga thực sự”.

Vậy rốt cuộc mục tiêu thật sự của Trump là gì? Mục tiêu của Trump vẫn là MAGA. Ông muốn dùng chiến dịch này để che lấp thất bại của cuộc chiến thuế quan, và quan trọng hơn là để kéo dài sự sống cho Pax Americana và Petrodollar, nhằm giành lấy thời gian và không gian cho sự trở lại của MAGA.

Liệu Trump có làm được không? Điều đó phụ thuộc vào việc ông có chạy nhanh hơn “con ngựa bất kham” mang tên lạm phát hay không.