Phương thức dụng binh mới của Trump

Nguồn: Richard Fontaine, “Trump’s Way of War”, Foreign Affairs, 02/03/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Khi những loạt bom đầu tiên dội xuống Iran cuối tuần qua, đa số người dân Mỹ cũng bàng hoàng không kém gì thế giới. Dù thế bố trí lực lượng Mỹ tại Trung Đông đã gia tăng dồn dập trong những tuần trước đó, các nỗ lực ngoại giao giữa Washington và Tehran trên thực tế vẫn đang diễn ra. Ngay cả khi quân đội Mỹ đã sẵn sàng tấn công, chính quyền Trump vẫn tung hỏa mù về mục tiêu thực sự của mình. Đáng chú ý, không hề có một cuộc tranh luận công khai nào ở tầm quốc gia, rất ít thảo luận với các đồng minh, và cũng chẳng có cuộc bỏ phiếu nào tại Quốc hội về tính cần thiết của cuộc xung đột. Hai ngày sau khi nổ ra cuộc chiến, các quan chức chính quyền vẫn chưa thể phác thảo một lộ trình kết thúc cụ thể. Thay vì sử dụng sức mạnh áp đảo để dứt điểm, Tổng thống Donald Trump lại ưu tiên sự tùy biến linh hoạt. Thái độ này phản ánh một tư duy chiến tranh mới—từng thể hiện trong các đợt can thiệp của Trump từ Biển Đỏ đến Venezuela—một sự đảo ngược hoàn toàn những quan điểm truyền thống về việc sử dụng vũ lực.

Thực tế, xét trên nhiều phương diện, phương thức dụng binh của Trump chính là khắc tinh của Học thuyết Powell. Được Tướng Colin Powell (người sau này trở thành Ngoại trưởng Mỹ) đúc kết trong Chiến tranh Vùng Vịnh (1990–91), học thuyết này quan niệm vũ lực chỉ là phương thức cuối cùng, khi mọi nỗ lực phi bạo lực đã đi vào ngõ cụt. Một khi chiến tranh là điều không thể tránh khỏi, nó phải được tiến hành vì một mục tiêu rõ ràng, có chiến lược rút quân bài bản và phải nhận được sự đồng thuận của công chúng. Nó đòi hỏi một sức mạnh áp đảo để đè bẹp đối phương bằng cách huy động mọi nguồn lực từ quân sự, kinh tế đến chính trị, xã hội. Rút ra từ bài học xương máu ở Việt Nam, cách tiếp cận này nhằm mục đích né tránh các cuộc xung đột sa lầy, giảm thiểu thương vong, tổn thất tài chính và ngăn chặn sự chia rẽ nội bộ. Như Powell từng viết, các nhà lãnh đạo quân sự không thể “lẳng lặng chấp nhận một cuộc chiến nửa vời vì những lý do mơ hồ mà người dân Mỹ không thể hiểu hay ủng hộ”.

Cách tiếp cận của Powell, vốn dựa trên những tiêu chuẩn do Bộ trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger thiết lập từ thập niên 1980, đã gây tranh cãi ngay từ đầu. Những tiếng nói chỉ trích cho rằng tư duy được ăn cả ngã về không này sẽ tước đi cơ hội sử dụng vũ lực một cách đo ni đóng giày để đạt được các mục tiêu khiêm tốn nhưng thiết thực. Ngược lại, đối với những người ủng hộ học thuyết, đó mới chính là điểm mấu chốt; họ coi các cuộc can thiệp kéo dài dưới thời chính quyền Clinton ở Somalia, Haiti hay Nam Tư cũ là sự lạm dụng sức mạnh quân sự, dễ dẫn đến thất bại hoặc rơi vào vũng lầy.

Các cuộc tấn công vào Afghanistan năm 2001 và Iraq năm 2003 là những phép thử quan trọng cho tư duy này. Chính quyền George W. Bush đã nỗ lực áp dụng Học thuyết Powell trong cả hai chiến dịch. Mỹ chỉ tuyên chiến sau khi các nhà lãnh đạo Taliban và Iraq phớt lờ các yêu cầu từ Washington, và sau khi Tổng thống đã tiêu tốn không ít uy tín chính trị để thuyết phục người dân về tính đúng đắn của việc tham chiến. Mục tiêu của chính quyền Bush khi đó được tuyên bố rất rạch ròi: xóa sổ sào huyệt al-Qaeda tại Afghanistan và giải giáp vũ khí hạt nhân của Iraq. Chính phủ đều tìm kiếm và nhận được sự phê chuẩn từ Quốc hội. Tại Afghanistan, quân đội Mỹ kết hợp một chiến dịch trên bộ  tinh gọn với các đòn không kích như vũ bão cùng sự hỗ trợ cho Liên minh phương Bắc để lật đổ Taliban. Tại Iraq, một đội quân 160.000 người đã tiến hành chiến dịch trên bộ để lật đổ chế độ. Trong cả hai cuộc chiến, chiến lược rút quân dự kiến là bàn giao quyền lực cho các lãnh đạo lưu vong, lãnh đạo địa phương và lực lượng an ninh trong nước để binh sĩ Mỹ có thể hồi hương.

Tuy nhiên, mọi sự rõ ràng đã không chuyển biến theo đúng kịch bản. Mọi nỗ lực nhằm né tránh xung đột kéo dài rốt cuộc lại biến thành những cuộc chiến không hồi kết. Các cuộc chiến này trở nên vô cùng tốn kém, gây chia rẽ sâu sắc, và các mục tiêu ban đầu cứ thế biến tướng theo thời gian. Dù các vấn đề của quyết định can thiệp nằm ở việc áp dụng sai Học thuyết Powell hay do chính học thuyết này có lỗ hổng, thì bóng ma từ Afghanistan và Iraq đã ám ảnh mọi cuộc can thiệp quân sự của Mỹ suốt hai thập kỷ qua, bao gồm cả cuộc chiến tại Iran hiện nay. Để tránh lặp lại những vết xe đổ đó, chính quyền Trump đã theo đuổi một hướng đi gần như trái ngược hoàn toàn. Dù Học thuyết Trump ẩn chứa nhiều rủi ro, nó cũng đã mang lại những kết quả bất ngờ—và nhiều khả năng sẽ trở thành chuẩn mực mới trong tương lai.

Phương thức dụng binh mới

Cách tiếp cận chiến tranh mới này đã bắt đầu thành hình từ nhiệm kỳ đầu tiên của Trump và thực sự định hình rõ nét trong nhiệm kỳ thứ hai. Năm 2017 và 2018, Trump ra lệnh ném bom chế độ Bashar al-Assad tại Syria, đồng thời đẩy mạnh các chiến dịch quân sự tại Iraq và Syria chống lại Nhà nước Hồi giáo tự xưng (ISIS), tiêu biểu là cuộc đột kích tiêu diệt thủ lĩnh Abu Bakr al-Baghdadi. Năm 2020, lực lượng Mỹ hạ sát tướng Iran Qasem Soleimani. Năm ngoái, Trump phát động cuộc chiến chống lại nhóm Houthi ở Yemen, xóa sổ các cơ sở hạt nhân trọng yếu của Iran và tấn công phiến quân tại miền Bắc Nigeria. Năm nay, chính quyền của ông đã tiến quân vào Venezuela để bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro, và chỉ mới hai ngày trước, đã mở màn một chiến dịch quy mô lớn đánh thẳng vào Iran.

Những chiến dịch này khác so với các phương thức dụng binh truyền thống là vô cùng rõ rệt. Học thuyết Powell vốn coi chiến tranh là hạ sách cuối cùng, chỉ được kích hoạt khi các giải pháp chính trị, ngoại giao và kinh tế đã hoàn toàn bất lực trong việc đạt được mục tiêu. Năm 1990, Tổng thống George H. W. Bush đã ra thời hạn cuối cùng để Saddam Hussein rút quân khỏi Kuwait, một thập kỷ sau, Tổng thống George W. Bush cũng đưa ra những tối hậu thư công khai cho cả Saddam và Taliban trước khi tiếng súng bắt đầu vang lên.

Ngược lại, lối tiếp cận của Trump là biến sự mơ hồ thành lợi thế để khiến đối phương không kịp trở tay; ví dụ như các cuộc tấn công của Mỹ vào Iran năm 2025 và 2026 diễn ra ngay khi các cuộc đàm phán vẫn đang trên bàn nghị sự. Chính quyền của ông không hề đưa ra tối hậu thư công khai nào cho Soleimani hay Maduro. Với Trump, có vẻ như vũ lực không phải là công cụ chỉ dành cho lúc đường cùng, mà là một trong số nhiều quân bài sẵn có để gia tăng đòn bẩy, tối đa hóa yếu tố bất ngờ và buộc đối phương phải chấp nhận kết quả.

Một trụ cột khác của Học thuyết Powell mà Trump dường như đã xóa bỏ là sự coi trọng ủng hộ từ công chúng. Học thuyết Powell coi những làn sóng biểu tình thời chiến tranh Việt Nam là một bài học mẫu mực cần phải tránh bằng mọi giá. Theo tư duy đó, nếu một mục tiêu đủ quan trọng để người Mỹ phải đổ máu, thì những người dân mà họ nhân danh để chiến đấu tốt hơn hết nên ủng hộ điều đó. Để có được sự đồng thuận này, tổng thống thường phải nỗ lực thuyết phục công chúng trong suốt nhiều tháng trời. Quốc hội cũng được kỳ vọng sẽ thể hiện sự phê duyệt thông qua một cuộc bỏ phiếu chính thức sau khi tranh luận kỹ lưỡng.

Thế nhưng, không một cuộc xung đột nào dưới thời Trump được dọn đường bằng một chiến dịch vận động công luận, và Quốc hội cũng chẳng hề bỏ phiếu phê chuẩn cho bất kỳ cuộc chiến nào. Thay vào đó, mỗi cuộc xung đột đều nổ ra đột ngột và diễn tiến theo những lộ trình không thể đoán trước. Thay vì trình bày lý lẽ tham chiến, tổng thống thường xuyên khẳng định ông hy vọng sẽ tránh được nó. Chính quyền của ông ưu tiên tuyệt đối yếu tố bất ngờ, ví dụ, họ cam đoan việc điều binh đến vùng Caribe chỉ là để ngăn chặn tàu buôn ma túy, chứ không phải để chuẩn bị cho một chiến dịch lật đổ chế độ trực tiếp tại Venezuela. Quốc hội gần như bị gạt ra ngoài lề. Trường hợp Iran hiện nay là một chiến dịch thay đổi chế độ còn tham vọng hơn nhiều, nhưng trong Thông điệp Liên bang kéo dài gần hai giờ vào tuần trước, Trump chỉ đề cập đến nó vỏn vẹn trong vài câu. Quy mô và rủi ro của cuộc chiến khiến sự thờ ơ của chính quyền đối với việc tranh luận công khai càng trở nên khó tin.

Chính quyền Trump cũng né tránh việc tuyên bố những mục tiêu rõ ràng cho việc sử dụng vũ lực. Khi công bố bắt đầu cuộc chiến với Iran, tổng thống nói mục tiêu là “bảo vệ người dân Mỹ bằng cách loại bỏ các mối đe dọa trực diện từ chế độ Iran”, dù Tehran khi đó chưa làm giàu uranium cũng như không sở hữu tên lửa nào có khả năng vươn tới lãnh thổ Mỹ. Một ngày sau cuộc tấn công, Trump viết trên mạng xã hội rằng chiến dịch ném bom là nhằm đạt được “mục tiêu HÒA BÌNH TRÊN KHẮP TRUNG ĐÔNG VÀ TOÀN THẾ GIỚI!”. Ông vừa nói mục tiêu là thay đổi chế độ tại Iran và vừa tuyên bố rằng ông đang chuẩn bị kế hoạch đàm phán với giới lãnh đạo sẽ thay thế Lãnh đạo tối cao. Tương tự tại Venezuela, ban đầu Trump nói áp lực là cần thiết để chặn ma túy và băng đảng xâm nhập Mỹ, sau đó lại giải thích mục tiêu là đưa Maduro ra công lý, và ông muốn lấy lại nguồn dầu mỏ của Mỹ bị đánh cắp và khẳng định chiến dịch này phù hợp với một hệ quả mới của Học thuyết Monroe. Cuối cùng, người Mỹ đang chiến đấu vì cái gì ở mỗi quốc gia, và làm sao để biết họ đã thắng lợi, vẫn là một câu hỏi chưa có lời đáp.

 

Trong khi Học thuyết Powell đề cao sự rạch ròi, Trump lại tôn thờ sự linh hoạt. Bằng cách đưa ra nhiều mục tiêu mơ hồ, tổng thống duy trì được khả năng đình chiến mà không cần thừa nhận thất bại. Đây chính là chiến lược rút quân của ông, thay vì một thắng lợi hiển nhiên. Khi công bố các cuộc tấn công vào Houthi, Trump tuyên bố: “Chúng ta sẽ sử dụng vũ lực sát thương áp đảo cho đến khi đạt được mục tiêu”, với mục tiêu vốn được cho là chấm dứt các vụ tấn công tàu Mỹ trên Biển Đỏ. Ông thậm chí còn nói Houthi sẽ bị “xóa sổ hoàn toàn”. Tuy nhiên, sau một tháng ném bom tốn kém mà chỉ hiệu quả một phần, chính quyền đã nhanh chóng bắt tay với nhóm này để đổi lấy việc chấm dứt tấn công.

Cuối cùng, tôn chỉ của Powell là Mỹ phải sử dụng sức mạnh áp đảo và mang tính quyết định trong việc theo đuổi mục tiêu của mình, đè bẹp kẻ thù càng nhanh càng tốt. Ngược lại, cách tiếp cận của Trump ưu tiên những đòn đánh quân sự ngắn, sắc bén, chỉ sử dụng các loại hình lực lượng đặc thù như không quân và đặc nhiệm, gần như loại bỏ lục quân truyền thống. Nếu cái giá để lật đổ chế độ tại Iran là phải triển khai bộ binh quy mô lớn, Trump đã ngầm định qua các hành động trước đây rằng Mỹ sẽ không chi trả cái giá đó. Thay vào đó, ông sẵn sàng bằng lòng với một kết quả khiêm tốn hơn.

Ngoại trừ chiến dịch chống ISIS, các cuộc chiến của chính quyền Trump phần lớn chỉ sử dụng vũ lực ở mức hạn chế thay vì dứt điểm. Năm 2017, Mỹ không kích Syria để đáp trả việc Assad dùng vũ khí hóa học, nhưng quyền lực của Assad vẫn vững như bàn thạch và ông ta tiếp tục dùng vũ khí hóa học chống lại dân thường vào năm 2018. Năm 2025, Trump huênh hoang về việc phá hủy các cơ sở hạt nhân của Iran, nhưng đến năm 2026, ông lại lấy lý do Tehran sắp có vũ khí hạt nhân để khơi mào chiến tranh. Maduro đã mất quyền lực tại Venezuela, nhưng bộ máy chế độ của ông ta vẫn tồn tại. Trong tất cả các trường hợp này, tính linh hoạt thay vì quyết đoán mới là từ khóa chủ đạo, cho phép Trump chấp nhận những kết cục vốn chưa từng được định nghĩa rõ ràng ngay từ đầu.

Như vậy là đủ tốt rồi?

Xét trên vài phương diện, phản ứng của Trump đối với Học thuyết Powell có vẻ lại phù hợp với bối cảnh lịch sử gần đây hơn là việc áp dụng nguyên bản một cách giáo điều. Việc kết hợp sử dụng vũ lực hạn chế chống lại nhóm Houthi với một thỏa thuận song phương đã mang lại kết quả khả quan hơn nhiều so với việc phớt lờ các cuộc tấn công vào vận tải biển của Mỹ. Nó cũng ưu việt hơn hẳn việc lạm dụng sức mạnh quân sự thuần túy mà Ả Rập Saudi hay Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đã thực hiện suốt nhiều năm. Tương tự, thế giới rõ ràng sẽ bình yên hơn khi không còn các cơ sở hạt nhân của Iran tại Fordow và Natanz, cũng như không còn Soleimani chèo lái Quân đoàn Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC). Riêng về Venezuela, dù hạ hồi chưa phân giải, nhưng vẫn tồn tại khả năng về một cuộc chuyển giao dân chủ giúp quốc gia này tránh khỏi cảnh hỗn loạn. Những chiến dịch ngắn, sắc bén giúp duy trì sự linh hoạt trong quyết sách, tận dụng tối đa yếu tố mơ hồ và bất ngờ để giảm thiểu nguy cơ sa lầy, rồi kết thúc bằng một kết quả “đủ dùng” có lẽ là hướng tiếp cận tối ưu cho nhiều kịch bản.

Tuy nhiên, đây khó có thể là biện pháp tốt nhất cho mọi trường hợp, và những giới hạn trong cách thức dụng binh của Trump có lẽ sẽ sớm lộ rõ. Cuộc tấn công vào Iran là nước đi mạo hiểm nhất trong các canh bạc đối ngoại của Trump cho đến nay. Việc ép buộc thay đổi chế độ tại một quốc gia lớn và đông dân hơn nhiều so với Iraq hay Afghanistan, trong khi chiến dịch lại thiếu vắng bộ binh, không có đồng minh nội bộ rõ ràng và phải đối mặt với một bộ máy an ninh thâm căn cố đế, sẽ là một thử thách cực kỳ gian nan. Một loạt kịch bản ác mộng, từ một chế độ độc tài quân sự do IRGC dẫn dắt đến một cuộc nội chiến toàn diện, dường như còn khả thi hơn là viễn cảnh tươi sáng về một cuộc nổi dậy dân chủ.

Chính tại đây, sự linh hoạt và tính mơ hồ của tổng thống có thể sẽ mở ra lối thoát. Nếu liên quân Mỹ và Israel thất bại trong việc lật đổ Cộng hòa Hồi giáo Iran, nếu quân đội Mỹ chịu tổn thất nặng nề, nếu công chúng Mỹ bắt đầu mệt mỏi với chiến tranh, hoặc nếu giải pháp thay thế cho chế độ hiện tại trông còn tồi tệ hơn, Trump có thể chủ động đình chiến. Bằng cách tuyên bố rằng mục tiêu ngay từ đầu chỉ đơn giản là làm suy yếu Iran và chặn đứng con đường sở hữu vũ khí hạt nhân, vị tổng thống này hoàn toàn có thể, và rất có khả năng sẽ, tự tin tuyên bố chiến thắng.

Làm như vậy, tổng thống sẽ đảo ngược thêm một châm ngôn cuối cùng của Powell: quy tắc “Tiệm Gốm” (Pottery Barn rule). Trước cuộc xâm lược Iraq, vị tướng này từng cảnh báo: “Anh làm vỡ bình gốm thì anh phải đền”. Trong nỗ lực đánh sụp chế độ Iran, Trump đã bắn đi tín hiệu rằng Mỹ sẽ không chịu trách nhiệm cho những gì xảy ra sau đó. Nếu chế độ sụp đổ, người dân Iran sẽ phải tự mình thu dọn tàn cuộc. Nếu chế độ ấy vẫn đứng vững, Washington sẽ chỉ việc gói ghém cuộc chiến và chuyển sang những ưu tiên khác. Tuy nhiên, kịch bản này sẽ phơi bày một hạn chế nữa của Học thuyết Trump: nó không dọn đường cho một nền hòa bình lâu dài, mà chỉ đơn thuần là đẩy cuộc xung đột sang một ngày khác.

RICHARD FONTAINE hiện là CEO của Trung tâm An ninh Mỹ mới (CNAS). Ông từng công tác tại Bộ Ngoại giao Mỹ, Hội đồng An ninh Quốc gia và là cố vấn chính sách đối ngoại cho cố Thượng nghị sĩ John McCain.