
Nguồn: C. Raja Mohan, “BRICS Meets Reality in the Middle East War”, Foreign Policy, 16/03/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Sau hai tuần nổ ra cuộc chiến tại Vịnh Ba Tư, khối BRICS vẫn chưa đưa ra được bất kỳ tuyên bố chung nào về xung đột. Điều này đã gây thất vọng cho nhiều người kỳ vọng vào BRICS ở cả phương Đông lẫn phương Tây, những người từng hình dung nhóm này là một đối trọng đáng tin cậy đối với quyền lực của Mỹ và là điềm báo cho một trật tự đa cực. Tuy nhiên, thất bại này không gây ngạc nhiên cho bất kỳ ai; nó vốn đã được tiên liệu ngay từ trong cấu trúc của nhóm này.
Với tư cách là một tổ chức tập thể, BRICS đã làm được rất ít cho Nga trong suốt cuộc đối đầu kéo dài nhiều năm qua với cái mà Moscow gọi là “tập thể phương Tây”. Giờ đây, vấn đề càng trở nên nhức nhối hơn. Khi Mỹ và Israel phát động một cuộc tấn công quân sự quy mô lớn vào Iran—một thành viên khác của BRICS—diễn đàn này đã chật vật để đưa ra một tiếng nói chung. Một số thành viên đang hợp tác chặt chẽ với các chiến dịch quân sự của Washington; những thành viên khác, chẳng hạn như Ấn Độ, lại phát triển quan hệ đối tác mạnh mẽ với Israel.
Nhưng khó khăn này còn sâu sắc hơn cả mối quan hệ riêng lẻ của các thành viên với Mỹ hay Israel. Vấn đề nằm ngay trong chính nội bộ nhóm: sự thù địch mang tính cấu trúc giữa Iran và các vương quốc vùng Vịnh bảo thủ như Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), cũng là một thành viên của BRICS. Sự chia rẽ chiến lược giữa họ là quá sâu sắc. Iran đã tự định nghĩa mình là phe đối lập với Mỹ kể từ cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979, trong khi UAE và các vương quốc đồng minh từ lâu đã là đối tác của Washington.
Kỳ vọng rằng BRICS có thể đưa ra một lập trường rõ ràng về xung đột là điều thiếu cơ sở thực tế. Ngay cả khi Ấn Độ, nước hiện đang giữ chức chủ tịch nhóm, có thể soạn thảo một tuyên bố được cả Tehran và Abu Dhabi chấp nhận, thì kết quả đó có lẽ cũng chẳng đáng giá bằng tờ giấy viết ra nó.
Ký vào những bản tuyên bố chung về lợi ích chung và những bất bình chung đối với phương Tây là một chuyện. Việc quản lý các xung đột thực sự giữa các thành viên với nhau lại là chuyện hoàn toàn khác. Một tổ chức được thai nghén như một thách thức đối với quyền lực phương Tây giờ đây lại thấy mình trở thành một khán giả thụ động trước cả chiến dịch ném bom của Washington vào Iran lẫn sự trả đũa của Tehran nhắm vào các quốc gia vùng Vịnh.
Tuy nhiên, kết quả này không nên làm chúng ta ngạc nhiên. Câu chuyện của BRICS trong cuộc chiến Trung Đông mới nhất này phản chiếu một mô hình cũ kỹ hơn nhiều trong chính trị quốc tế. Trong suốt thế kỷ qua, các phong trào lớn được xây dựng trên lời hứa về sự đoàn kết xuyên quốc gia—chủ nghĩa liên Á, chủ nghĩa liên Hồi giáo, chủ nghĩa liên Ả Rập, chủ nghĩa quốc tế cộng sản và thậm chí cả Phong trào Không liên kết—đã liên tục gặp phải cùng một phép thử. Khi sự đoàn kết va chạm với lợi ích quốc gia, lợi ích quốc gia luôn thắng thế.
Các dự án đoàn kết vĩ đại trong lịch sử thường đi theo một quỹ đạo tương tự. Chúng bắt đầu bằng lời hứa vượt qua ranh giới quốc gia dân tộc thông qua một bản sắc chung—về khu vực, tôn giáo, ý thức hệ hoặc địa chính trị. Chúng hưng thịnh trong những thời điểm có sự bất bình tập thể, khi những lời lẽ về sự thống nhất đầy sức mạnh và cái giá của sự đoàn kết còn thấp. Nhưng chúng sẽ rạn nứt một khi cuộc khủng hoảng thực sự buộc các chính phủ phải lựa chọn giữa sự nghiệp chung và lợi ích quốc gia của chính họ.
Hãy xem xét Quốc tế Cộng sản—Comintern—được thành lập vào năm 1919 để điều phối một cuộc cách mạng toàn cầu chống lại chủ nghĩa tư bản. Những mâu thuẫn của nó đã bộc lộ rõ nét vào tháng 8 năm 1939, khi nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin ký Hiệp ước Molotov-Ribbentrop với Đức Quốc xã. Các đảng cộng sản trên khắp thế giới ngay lập tức được hướng dẫn phải đối xử với chủ nghĩa phát xít không phải như một kẻ thù mà như một cường quốc trung lập.
Hai năm sau, khi Đức xâm lược Liên Xô, Moscow đột ngột đảo ngược tiến trình và gia nhập lực lượng với Mỹ và Anh. Chính sách của Liên Xô đã hé lộ một sự thật đơn giản: Học thuyết “chủ nghĩa xã hội trong một quốc gia” có nghĩa là lợi ích quốc gia của Liên Xô cuối cùng sẽ lấn át sự đoàn kết của giai cấp công nhân quốc tế. Bản thân Comintern, vốn đã bị thực tế này làm cho rỗng tuếch, đã chính thức bị Stalin giải thể vào năm 1943.
Chủ nghĩa liên Á đã không tạo ra được một phản ứng chung của khu vực chống lại chủ nghĩa đế quốc. Trong Thế chiến II, Trung Quốc bị cuốn vào cuộc chiến chống lại Đế quốc Nhật Bản, những người theo chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ chống lại Anh, người Indonesia chống lại Hà Lan và người Đông Dương chống lại cả Pháp và Nhật. Một số bên sẵn sàng nhận sự hỗ trợ của Nhật Bản và thậm chí cả Đức để chống lại các cường quốc thực dân châu Âu. Những người theo chủ nghĩa dân tộc khác lại tìm kiếm sự hỗ trợ của phương Tây để chống lại Nhật Bản.
Chủ nghĩa liên Ả Rập cũng đi theo một lộ trình tương tự. Tầm nhìn của nhà lãnh đạo Ai Cập Gamal Abdel Nasser về một quốc gia Ả Rập thống nhất đã đạt đến đỉnh cao với việc thành lập Cộng hòa Ả Rập Thống nhất, hợp nhất Ai Cập và Syria thành một quốc gia tập quyền duy nhất vào năm 1958. Liên minh này sụp đổ chỉ sau chưa đầy ba năm. Nguyên nhân thất bại không phải do áp lực bên ngoài mà do sự bất mãn của Syria trước sự thống trị của Ai Cập.
Các chính phủ Ả Rập cũng gặp khó khăn trong việc hành động tập thể về vấn đề vốn được coi là định nghĩa cho sự đoàn kết của họ: Palestine. Lệnh cấm vận dầu mỏ năm 1973 vẫn là hành động hợp tác có tác động lớn nhất của khối Ả Rập, thế nhưng ngay cả sự thống nhất đó cũng tỏ ra ngắn ngủi. Trong vòng vài tháng, liên minh được thành lập để hỗ trợ cuộc xâm lược của Ai Cập và Syria vào Israel đã bắt đầu tan rã dưới áp lực của các lợi ích quốc gia khác nhau.
Một đòn giáng mạnh mẽ khác vào ý tưởng đoàn kết chính trị Ả Rập đã đến vào năm 1990, khi Iraq xâm lược Kuwait. Một quốc gia Ả Rập tấn công một quốc gia Ả Rập khác, và thế giới Ả Rập đã chia rẽ sâu sắc trong phản ứng của mình. Kể từ đó, Liên đoàn Ả Rập phần lớn vẫn là một kẻ đứng ngoài trước các cuộc khủng hoảng của khu vực.
Các sự kiện gần đây đã củng cố mô hình tương tự. Không có phản ứng tập thể nào của khối Ả Rập đối với chiến dịch quân sự tàn khốc của Israel tại Gaza sau cuộc tấn công khủng khiếp của Hamas vào Israel vào tháng 10 năm 2023. Ai Cập và Jordan vẫn duy trì các hiệp ước hòa bình với Israel. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Bahrain, những nước đã bình thường hóa quan hệ với Israel theo Hiệp định Abraham, vẫn giữ vững các mối quan hệ đó. Sự đoàn kết của người Ả Rập với Palestine vẫn là một cảm tình chính trị mạnh mẽ nhưng hiếm khi chuyển hóa thành những hành động quyết liệt.
Chủ nghĩa liên Hồi giáo cũng không khá khẩm hơn. Tổ chức Hợp tác Hồi giáo quy tụ 57 quốc gia có đa số dân theo đạo Hồi và đưa ra các thông cáo đầy rẫy những biểu hiện của sự đoàn kết. Thế nhưng thực tế chính trị của thế giới Hồi giáo lại kể một câu chuyện khác. Iran và Iraq đã đánh một trong những cuộc chiến dài nhất và đẫm máu nhất thế kỷ 20. Libya và Sudan là bãi chiến trường của các cường quốc Hồi giáo đối địch. Ả Rập Saudi và Iran đã tiến hành một cuộc cạnh tranh kéo dài thông qua các lực lượng ủy nhiệm trên khắp khu vực. Ngày nay, cuộc xung đột đó đã bước vào một giai đoạn khác khi sự đối đầu của Iran với các vương quốc vùng Vịnh ngày càng gay gắt.
Các tổ chức khu vực được xây dựng trên sự hợp tác thực dụng cũng đối mặt với những giới hạn tương tự. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), vốn được xem là một trong những nhóm khu vực thành công hơn, hoạt động trên nguyên tắc đồng thuận. Thế nhưng chính quy tắc này thường xuyên làm tổ chức bị tê liệt. Philippines, một trong những thành viên sáng lập của ASEAN và là chủ tịch đương nhiệm, đã phải đối mặt với áp lực gay gắt từ Trung Quốc ở Biển Đông trong thập kỷ qua. Nhưng ASEAN không thể cùng nhau lên án Bắc Kinh vì sự phụ thuộc kinh tế sâu sắc của khu vực vào Trung Quốc và mối quan hệ chiến lược chặt chẽ của Trung Quốc với hai thành viên trong nhóm là Campuchia và Lào.
Mỹ Latinh cũng đưa ra một minh chứng gần đây. Khi Mỹ can thiệp vào Venezuela và bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro vào tháng Giêng, Cộng đồng các quốc gia Mỹ Latinh và Caribe đã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp. Nó kết thúc mà không có thỏa thuận nào. Tổng thống Argentina Javier Milei và một số chính phủ nghiêng về cánh hữu đã phản đối bất kỳ sự lên án nào đối với hành động của Washington.
BRICS hiện nay dường như đang đi theo quỹ đạo tương tự. Ấn Độ, với tư cách là chủ tịch, đã thường xuyên trao đổi với ngoại trưởng Iran trong suốt cuộc khủng hoảng—không phải để tổ chức một phản ứng tập thể mà để đảm bảo an toàn cho các hoạt động vận tải của Ấn Độ qua eo biển Hormuz.
Hệ thống toàn cầu vẫn là một tập hợp các quốc gia dân tộc có chủ quyền. Các chính phủ phải chịu trách nhiệm trước các cử tri trong nước với những lợi ích cụ thể: an ninh và thịnh vượng. Sự đoàn kết xuyên quốc gia có thể truyền cảm hứng cho các bài hùng biện, nhưng thật khó để hy sinh lợi ích quốc gia cho một nền an ninh tập thể được xây dựng trên ý tưởng “mọi người vì một người và một người vì mọi người”.
Liên đoàn Ả Rập, ASEAN, BRICS, Comintern, Cộng đồng các quốc gia Mỹ Latinh và Caribe, cùng Tổ chức các quốc gia Hồi giáo đều được xây dựng dựa trên những khát vọng chung được định nghĩa theo những thuật ngữ rộng nhất có thể. Nhưng điều đó là không đủ để tạo ra hành động thống nhất trong một cuộc xung đột lớn.
RAJA MOHAN là chuyên gia phân tích tại Foreign Policy, giáo sư ưu tú tại Viện Nghiên cứu Mỹ Motwani Jadeja thuộc Đại học Toàn cầu O.P. Jindal, chủ tọa về địa chính trị châu Á của Quỹ Hàn Quốc tại Hội đồng Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng, đồng thời là cựu thành viên Hội đồng Tư vấn An ninh Quốc gia Ấn Độ.
