Quan hệ Bắc – Nam (North – South relations)

Print Friendly, PDF & Email

northsouth

Tác giả: Hoàng Thanh Hằng

Quan hệ Bắc – Nam là thuật ngữ chỉ mối quan hệ giữa các nước công nghiệp phát triển, giàu có nằm tập trung ở Bắc bán cầu với các nước nghèo, đang phát triển chủ yếu nằm ở Nam bán cầu. Mối quan hệ này trở thành vấn đề của quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai khi các nước phương Nam giành được độc lập, thoát khỏi chế độ cai trị thực dân của các nước phương Bắc.

Khi mới thành lập vào năm 1945, Liên Hiệp Quốc chỉ có 51 quốc gia thành viên. Đến năm 2004, con số này tăng lên 192. Các quốc gia thành viên mới này chủ yếu đến từ các quốc gia mới độc lập ở Châu Á và Châu Phi. Sau khi giành được độc lập, các nước phương Nam tham gia vào quan hệ quốc tế với tư cách các quốc gia chủ quyền độc lập và nhận thấy mình ở vị trí bất lợi, đặc biệt là trong các mối quan hệ về kinh tế. Chính vì vậy họ đã đấu tranh với các nước phương Bắc trong việc thiết lập lại các quy tắc, chuẩn mực của quan hệ quốc tế, đặc biệt là trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Những quy tắc, chuẩn mực trong các vấn đề này trước đây hoàn toàn do các nước đế quốc, các cường quốc thực dân đưa ra và áp đặt lên các nước thuộc địa, phụ thuộc. Các nước mới giành được độc lập này tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hiệp Quốc, nhằm đấu tranh đưa ra các điều kiện mới trong quan hệ kinh tế quốc tế, cũng như liên kết với nhau để đấu tranh cho các quyền lợi về chính trị của mình.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nước phương Bắc bắt đầu cung cấp viện trợ và đầu tư cho các nước đang phát triển phương Nam, tuy nhiên con số này rất hạn chế. Các nước phương Nam cũng có vai trò hạn chế trong việc định hình các chính sách thương mại quốc tế. Ví dụ, Hiệp định Chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) chủ yếu phản ánh lợi ích và nhu cầu của các nước công nghiệp phát triển. Chính vì vậy, các nước đang phát triển đã tập trung đấu tranh cho việc cải cách các tổ chức và thể chế thương mại quốc tế.

Năm 1964, Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) được thành lập. Qua hội nghị này các nước đang phát triển mới giành được độc lập đến từ Thế giới thứ ba đưa ra các yêu cầu cho việc thiết lập các điều khoản mới trong quan hệ thương mại thế giới. UNCTAD đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các biện pháp kinh tế nhằm bảo đảm giá cả của các hàng hóa sơ cấp và các biểu thuế đối với các mặt hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển ở mức có lợi cho họ. Trước thực tế khoảng cách giữa các nước giàu và nghèo ngày càng gia tăng, năm 1968 Hội nghị cũng đã đưa ra yêu cầu các nước phát triển trích 1% tổng thu nhập quốc dân của họ để giúp đỡ các nước đang phát triển.

Năm 1974, tại một phiên họp của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, một nhóm các nước Thế giới thứ ba đã đưa ra yêu cầu về một Trật tự Kinh tế Quốc tế Mới (New International Economic Order – NIEO). NIEO kêu gọi việc cải tổ lại hệ thống kinh tế quốc tế hiện tại nhằm gia tăng vị thế của các nước đang phát triển phương Nam trong mối quan hệ với các nước công nghiệp phát triển phương Bắc. Các yêu cầu bao gồm việc gia tăng sự kiểm soát của các nước đang phát triển đối với nguồn tài nguyên của mình, thúc đẩy công nghiệp hóa, gia tăng viện trợ phát triển, và giảm nợ. Đến những năm 1990, NIEO vẫn không được thực thi, vì gặp phải sự phản đối của các nước phương Bắc và thiếu sự nhất trí và ủng hội từ chính các nước đang phát triển.

Trong các vòng đàm phán của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vấn đề quan hệ Bắc – Nam lại trở thành tâm điểm của các cuộc thảo luận. Sự thất bại của các vòng đàm phán như tại Seattle (1999), Doha (Qatar) (2001), hay Cancun (2003), xuất phát từ những mối quan tâm khác nhau và những bất đồng giữa các nước phát triển và đang phát triển trong hàng loạt các vấn đề.

Ví dụ, Hội nghị  Bộ trưởng của WTO diễn ra ở Cancun (Mexico) năm 2003 đã thất bại do không giải quyết được bất đồng sâu sắc giữa các nước đang phát triển và các nước giàu về những vấn đề từ cải cách nông nghiệp đến các quy định thương mại mới. Các nước đang phát triển muốn các nước giàu bãi bỏ trợ cấp nông nghiệp, trong khi các nước giàu, trong đó có các nước Châu Âu và Nhật Bản, muốn thúc đẩy cái gọi là “những vấn đề Singapore” (Singapore issues) – gồm đầu tư ra nước ngoài, các chính sách về cạnh tranh, chống tham nhũng và giảm tệ nạn quan liêu. Các nước đang phát triển cho rằng việc thực hiện những vấn đề này rất tốn kém và có thể cản trở tự do của họ trong việc đề ra chính sách kinh tế. Nhiều nước đang phát triển cáo buộc Mỹ và Châu Âu tìm cách ép buộc các nước nghèo phải chấp nhận những quy định thương mại mà họ không muốn.

Trước khi hội nghị thất bại, hai bên đã nhất trí  được với nhau về một số đề nghị mang tính chất thỏa hiệp. Châu Âu cam kết sẽ bắt đầu bãi bỏ hình thức trợ cấp xuất khẩu đối với một số mặt hàng nông phẩm của họ, nhưng không chấp nhận bãi bỏ hoàn toàn trợ cấp này và cũng không đưa ra thời hạn cụ thể sẽ bãi bỏ hoàn toàn. Đổi lại, WTO sẽ mở rộng các hạng mục quy định mà các nước phải tuân thủ, trong đó bao gồm cả các khoản mục đầu tư. Các nước đang phát triển không muốn mở rộng quy định về lĩnh vực này vì lo ngại làm tổn hại tới các quy định quốc gia trong vấn đề lao động, nhân quyền và bảo vệ môi trường. Mỹ cũng tỏ ý có thể chấp nhận những yêu cầu về bãi bỏ trợ cấp nông nghiệp, nhưng cũng đặt ra những điều kiện trao đổi. Như vậy, với sự thất bại của hội nghị này, Mỹ sẽ tiếp tục duy trì chính sách trợ cấp hàng chục tỷ USD để giúp nông dân Mỹ cạnh tranh với các mặt hàng nông phẩm nước ngoài.

Lý thuyết của các nhà tự do và cấu trúc giải thích mối quan hệ kinh tế giữa các nước phương Bắc và phương Nam theo những cách khác nhau. Theo những nhà tự do, trong thương mại quốc tế, các nước giàu và nghèo sẽ cùng được hưởng lợi. Những nhà tự do cho rằng các mối quan hệ thương mại với các nước giàu sẽ cung cấp cho các nước nghèo vốn, công nghệ … Và các công ty đa quốc gia (MNCs) sẽ là công cụ để truyền tải các nguồn lực này. Trong khi đó những người theo chủ nghĩa cấu trúc cho rằng sự kém phát triển ở phương Nam có những nguyên nhân từ sự phát triển ở các nước ở phương Bắc. Mối quan hệ thương mại giữa phương Bắc và phương Nam theo những cách chỉ có lợi cho các nước phương Bắc và khiến các nước phương Nam bị phụ thuộc vào các nước phương Bắc. Đầu tư từ các công ty đa quốc gia chỉ làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn, vì một hệ quả của việc này là bòn rút vốn khỏi các nước đang phát triển hơn là đầu tư vào các nước này. Do đó, các nước phương Bắc vẫn ở vị trí vùng lõi (core), và các nước phương Nam ở vị trí ngoại vi (periphery). Cả hệ thống hoạt động theo hướng có lợi cho vùng lõi.

Tóm lại, với quá trình phi thực dân hóa, các quốc gia thuộc địa trở thành các quốc gia độc lập đã đưa đến một cuộc cách mạng trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia này với số lượng lớn tham gia các diễn đàn quốc tế và đấu tranh cho các quyền chính trị của mình trong quan hệ với các nước phát triển và các cường quốc thực dân trước đây. Mối quan hệ này được giải thích theo nhiều cách khác nhau và bất chấp nhiều mâu thuẫn vẫn còn tồn tại, các nước đang phát triển phương Nam trên con đường phát triển của mình vẫn vừa hợp tác vừa đấu tranh với các nước giàu và phát triển của phương Bắc.

Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

This entry was posted in Thuật ngữ QHQT and tagged , . Bookmark the permalink.