Đế chế mạng mới của Putin

Nguồn: Andrei Soldatov và Irina Borogan, “Putin’s New Cyber Empire,” Foreign Affairs, 25/08/2025

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Điện Kremlin đang đưa công nghệ Nga ra khắp thế giới như thế nào?

Cuối tháng 4/2024, Nikolai Patrushev, người đứng đầu Hội đồng An ninh Nga, đã chủ trì một cuộc họp tại St. Petersburg với sự tham dự của các quan chức an ninh hàng đầu từ các quốc gia châu Phi, châu Á, Mỹ Latinh, và Trung Đông. Cuộc họp xoay quanh vấn đề chủ quyền và an ninh thông tin – cách Điện Kremlin mô tả các công nghệ mạng được thiết kế để bảo vệ chống lại sự giám sát, ảnh hưởng, và can thiệp của phương Tây. Tuy nhiên, Patrushev còn có một thông điệp cụ thể hơn. Đứng cạnh Sergei Naryshkin, Giám đốc Cơ quan Tình báo Đối ngoại (SVR) của Điện Kremlin, Patrushev thông báo với khán giả rằng các công ty an ninh mạng hàng đầu của Nga có thể giúp các chính phủ kiểm soát không gian thông tin quốc gia.

Vào thời điểm đó, sự kiện này ít được chú ý ở Mỹ hoặc châu Âu. Chỉ vài ngày trước, Quốc hội Mỹ vừa phê duyệt gói viện trợ 60 tỷ đô la bị trì hoãn từ lâu cho Ukraine, và châu Âu đang chuẩn bị triển khai vòng trừng phạt thứ 14 đối với Nga. Tuy nhiên, chính phủ ở nhiều nơi khác trên thế giới đã chú ý. Dù danh sách đầy đủ không được công bố, nhưng những người tham gia cuộc họp bao gồm các cố vấn an ninh quốc gia, người đứng đầu các hội đồng an ninh quốc gia và các cơ quan an ninh và tình báo từ nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm Brazil, Sudan, Thái Lan, và Uganda; cùng với các đồng minh thân cận của Nga như Trung Quốc và Iran; cũng như Liên đoàn Ả Rập.

Đối với nhiều người trong nhóm quan chức an ninh này, lời đề nghị của Patrushev rất đáng hoan nghênh: Nga từ lâu đã là nước xuất sắc trong lĩnh vực công nghệ mạng, và họ hiểu rằng nguồn lực của nước này có thể rất có giá trị trong việc bảo vệ cơ sở hạ tầng kỹ thuật số quốc gia. Một số lãnh đạo trong nhóm cũng đã chứng kiến “những cuộc cách mạng Twitter” trong hai thập kỷ qua và có xu hướng đồng tình với quan điểm của Tổng thống Nga Vladimir Putin, rằng những sự kiện như vậy – được thúc đẩy bởi mạng xã hội do Mỹ sở hữu – phản ánh chiến thuật của Mỹ nhằm kích động các cuộc biểu tình quần chúng, vốn thường gây bất ổn. Hơn nữa, chính phủ của nhiều nước trong số này vẫn duy trì quan hệ kinh doanh với Moscow bất chấp chiến tranh ở Ukraine và không quá lo ngại về ảnh hưởng của Nga tại nước mình.

Giống như Liên Xô trong thời Chiến tranh Lạnh, Điện Kremlin của Putin xem châu Phi, Trung Đông, và một số khu vực ở châu Á và Mỹ Latinh là chiến trường chính của cuộc cạnh tranh toàn cầu với phương Tây. Chiến dịch này bao gồm việc mở rộng hoạt động của các nhóm quân sự liên kết với Điện Kremlin, như tập đoàn bán quân sự Wagner, ở nhiều quốc gia Châu Phi. Nó cũng liên quan đến việc áp dụng rộng rãi quyền lực mềm, chẳng hạn bằng cách mở các “Ngôi nhà Nga” ở hơn một chục quốc gia châu Phi. Đây là những trung tâm văn hóa do Bộ Ngoại giao Nga điều hành nhằm mục đích quảng bá các câu chuyện của Điện Kremlin, bao gồm cả về cuộc chiến của họ ở Ukraine, và còn làm việc với các cộng đồng người Nga di cư ở các quốc gia mục tiêu; và cung cấp vỏ bọc cho các đặc vụ tình báo Nga – một thực tiễn lâu đời đối với các trung tâm văn hóa Nga kể từ Chiến tranh Lạnh. Ngoài ra, chiến dịch này cũng bao gồm nỗ lực mở rộng năng lực tình báo của Nga ở các khu vực đang mắc kẹt giữa các siêu cường.

Như cuộc họp tại St. Petersburg đã chứng minh, Điện Kremlin xem công nghệ mạng thương mại của Nga là một phần quan trọng trong chiến dịch rộng lớn này, và là một cách khác để thúc đẩy lợi ích của mình trên toàn thế giới. Theo những phát hiện trước đây của các chính phủ châu Âu và Mỹ, một số công ty an ninh mạng hàng đầu của Nga có liên hệ với quân đội và các cơ quan an ninh của Điện Kremlin. Ví dụ, vào tháng 4/2021, Bộ Tài chính Mỹ đã áp đặt lệnh trừng phạt đối với công ty an ninh mạng Positive Technologies của Nga vì hỗ trợ “các khách hàng của chính phủ Nga, bao gồm cả Cơ quan An ninh Liên bang (FSB),” và cáo buộc công ty này “tổ chức các hội nghị quy mô lớn được sử dụng làm sự kiện tuyển dụng cho FSB và GRU,” đơn vị tình báo quân sự của Nga.

Sang tháng 06/2024, Mỹ áp đặt lệnh trừng phạt đối với Kaspersky Lab, một công ty hàng đầu khác của Nga, vì “hợp tác với các cơ quan tình báo và quân sự Nga” mà các quan chức Bộ Tài chính Mỹ cho là “trái với lợi ích an ninh quốc gia Mỹ.” Kể từ năm 2022, EU và một số nước châu Âu cũng đã thực hiện các bước nhằm hạn chế quyền tiếp cận thị trường của các công ty mạng Nga. Positive Technologies hiện đang chịu lệnh trừng phạt của EU, trong khi một số quốc gia, bao gồm Đức, Ý, và Ba Lan, đã tìm cách cấm hoặc ngăn cản việc sử dụng phần mềm của Kasperky Labs. Cả hai công ty đều bác bỏ mọi cáo buộc. Trong một tuyên bố công khai, Positive Technologies gọi kết luận của Bộ Tài chính Mỹ là “vô căn cứ.” Tương tự, người phát ngôn của Kaspersky nói với Reuters rằng quyết định của Mỹ là “vô lý và vô căn cứ.”

Bất chấp áp lực từ phương Tây, Moscow đang tìm cách phát huy lợi thế từ hội nghị an ninh năm 2024 và tích cực mở rộng ảnh hưởng an ninh mạng trên toàn thế giới. Nhờ hàng loạt quan hệ đối tác mới giữa các công ty an ninh mạng Nga với các thực thể và chính phủ nước ngoài, Nga đã đạt được vị thế công nghệ ngày càng vững chắc ở châu Phi, Trung Á, và Trung Đông. Dù vẫn chưa rõ các cơ quan an ninh Nga sẽ khai thác những thỏa thuận này như thế nào, các nhà phân tích an ninh mạng cho rằng những thỏa thuận như vậy có thể mang lại cho Moscow những cách thức mới để ngăn chặn các hoạt động tình báo phương Tây.

Trong những tháng gần đây, khi chính quyền Trump trở nên mềm mỏng hơn trong lập trường đối với Nga, đồng thời rút về nước các tài sản tình báo và đối ngoại của Mỹ nhắm vào các mối đe dọa an ninh mạng nước ngoài, Moscow đã mở rộng chiến dịch mạng mà không bị giám sát chặt chẽ. Nếu không được kiểm soát, những quan hệ mới này có thể gây bất lợi đáng kể cho Washington và các đồng minh ở các nước đang phát triển, trong lúc chúng mang lại cho Nga nhiều cơ hội hơn để tiến hành chiến tranh mạng chống lại Mỹ và châu Âu.

MẤT AN NINH MẠNG

Vài năm sau khi Liên Xô sụp đổ, các công ty an ninh mạng Nga đã nổi lên như những tên tuổi toàn cầu. Hệ thống giáo dục kỹ thuật mạnh mẽ trên khắp đất nước cùng với sự sụp đổ của tổ hợp công nghiệp-quân sự đã thu hút hàng loạt kỹ sư tài năng gia nhập thị trường an ninh mạng non trẻ. Họ mang theo cả chuyên môn lẫn quyết tâm. Một vài trong số này đã xây dựng những công ty quốc tế thành công như Kaspersky Lab – công ty được thành lập năm 1997 và đã phát triển một loạt các công cụ bảo mật Internet và an ninh mạng tiên tiến, sau đó trở nên nổi tiếng với việc phát hiện các mối đe dọa an ninh mạng. Năm 2010, một nhóm các nhà nghiên cứu của Kaspersky đã phát hiện ra virus Stuxnet, một loại vũ khí phần mềm độc hại cực kỳ tinh vi được sử dụng để chống lại chương trình hạt nhân của Iran, vốn do Israel và Mỹ hợp tác thiết kế.

Trong gần hai thập kỷ, các công ty an ninh mạng Nga đã tập trung xây dựng thị trường rộng lớn cho sản phẩm của họ ở các nước phương Tây, nhắm vào cả các tập đoàn và cơ quan chính phủ nước ngoài. Một số công ty như Kaspersky Lab, được thành lập tại Anh, cũng đã thành lập các công ty con ở phương Tây. Tuy nhiên, sau khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014 và can thiệp vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016, áp lực ngày càng tăng của phương Tây lên Moscow và những lo ngại về chiến tranh mạng của tình báo Nga đã khiến các công ty này gặp nhiều khó khăn hơn trong việc kinh doanh tại Mỹ và châu Âu.

Tháng 3/2017, các quan chức tình báo Mỹ, bao gồm cả giám đốc FBI và CIA, nói rằng họ cảm thấy không an toàn khi cài đặt phần mềm diệt virus của Kaspersky trên máy tính. Ngay sau đó, Bộ An ninh Nội địa ra lệnh cho tất cả các cơ quan chính phủ gỡ bỏ phần mềm Kaspersky khỏi hệ thống, viện dẫn những “rủi ro an ninh thông tin” do các sản phẩm mang thương hiệu Kaspersky gây ra, đồng thời lưu ý rằng phần mềm diệt virus và các phần mềm khác của công ty này “cung cấp quyền truy cập sâu rộng vào các tệp” có thể bị khai thác bởi các tác nhân độc hại.

Sang tháng 10/2017, các cuộc điều tra của Wall Street Journal New York Times đưa tin rằng tin tặc Nga đã đánh cắp từ Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) các tài liệu mật liên quan đến phòng thủ mạng của Mỹ, một phần bằng cách sử dụng phần mềm Kaspersky trên máy tính của một nhân viên hợp đồng NSA. Kaspersky kiên quyết phủ nhận việc biết hay có liên quan đến việc lợi dụng phần mềm của mình cho hoạt động tấn công mạng. “Kaspersky Lab chưa bao giờ và sẽ không bao giờ hỗ trợ bất kỳ chính phủ nào trên thế giới trong các nỗ lực gián điệp mạng,” công ty khẳng định với New York Times.

Trong những năm tiếp theo, các công ty an ninh mạng Nga bắt đầu tập trung nhiều hơn vào các thị trường bên ngoài Mỹ và châu Âu. Chính phủ Nga rất sẵn lòng hỗ trợ họ. Bước ngoặt đến sau cuộc họp an ninh tháng 04/2024 tại St. Petersburg, nơi Điện Kremlin trực tiếp đưa ra đề xuất cung cấp cơ sở hạ tầng an ninh mạng của Nga – và cụ thể là dịch vụ của bảy công ty an ninh mạng hàng đầu nước này – cho hàng chục cơ quan an ninh trên toàn thế giới. Các công ty được Patrushev đề cập bao gồm Positive Technologies và công ty con Cyberus Foundation, Kaspersky Lab, Angara Security, Kod Bezopasnosti, Security Vision, và Solar. Nhìn chung, các công ty này cung cấp các sản phẩm bảo vệ cơ sở hạ tầng kỹ thuật số khỏi các cuộc tấn công mạng – dù là từ tin tặc tự phát hay các chính phủ nước ngoài thù địch. Sản phẩm của họ thường yêu cầu quyền truy cập sâu vào các tệp và hệ thống được bảo vệ.

Có một số lý do chiến lược đằng sau động thái này của Điện Kremlin. Trong nhiều trường hợp, khi một chính phủ nước ngoài mua công nghệ giám sát và an ninh mạng tiên tiến từ Nga, các cơ quan an ninh và hành pháp địa phương của họ thường thiếu chuyên môn để vận hành chúng. Kết quả là, họ phụ thuộc vào các nhà cung cấp Nga không chỉ về hướng dẫn kỹ thuật, mà còn về hỗ trợ tích hợp công nghệ vào khuôn khổ pháp lý trong nước. Một quan hệ như vậy mang lại cho các công ty an ninh mạng Nga mức độ tiếp cận hiếm có đối với các hệ thống và các mối liên hệ địa phương tại quốc gia khách hàng.

Hơn nữa, nhiều công ty an ninh mạng hàng đầu của Nga được thành lập bởi các kỹ sư và nhà khoa học máy tính từ các trường đại học kỹ thuật ưu tú của nước này, vốn là các cơ sở được thành lập để cung cấp kỹ sư cho cơ quan tình báo và quân sự Liên Xô, KGB. Quay trở lại thời kỳ Xô-viết, những ngôi trường này đã đào tạo ra nhiều thế hệ kỹ sư chuyên làm công việc bí mật. Eugene Kaspersky, nhà sáng lập Kaspersky Lab, đã học tại Trường Cao đẳng KGB.

Theo các quan chức an ninh phương Tây, Putin đã tìm cách xây dựng lại quan hệ chặt chẽ giữa các cơ quan tình báo và các nhà phát triển công nghệ hàng đầu của đất nước. Trong các lệnh trừng phạt đối với Kaspersky Lab, Bộ Tài chính Mỹ không bao gồm các lệnh trừng phạt cá nhân đối với chính Eugene Kaspersky. Tuy nhiên, họ đã trừng phạt 12 công dân Nga khác là giám đốc điều hành cấp cao của công ty. Kaspersky Lab phủ nhận việc các giám đốc này có bất kỳ mối liên hệ nào với các cơ quan an ninh Nga. “Sẽ thật kỳ lạ (và hoàn toàn sai lầm) nếu cho rằng những giám đốc này được đưa vào ban lãnh đạo cấp cao của công ty để tạo điều kiện cho các điệp viên Nga trong các hoạt động của Kaspersky Lab,” công ty cho biết trong một tuyên bố năm 2018.

Chính phủ Nga cũng đã gây áp lực công khai hơn lên các công ty an ninh mạng của mình. Ví dụ, vào năm 2016, một số quan chức an ninh mạng hàng đầu của Nga – bao gồm cả một giám đốc cấp cao tại Kaspersky Lab – đã bị FSB tống giam vào nhà tù Lefortovo ở Moscow với cáo buộc phản quốc. Kaspersky nói với BBC rằng công ty không được thông báo về cuộc điều tra, và việc bắt giữ nhân viên này không liên quan gì đến công việc của người đó tại công ty. Đối với các chuyên gia an ninh mạng, Điện Kremlin dường như đang gửi một thông điệp đến các công ty thương mại của họ: lòng trung thành với chính phủ không còn là một lựa chọn nữa.

THỊ TRƯỜNG MỚI CỦA MOSCOW

Dưới thời chính quyền Biden, Mỹ ngày càng lo ngại về mối liên hệ mà họ phát hiện ra giữa các công ty mạng hàng đầu của Nga và chính phủ nước này. Bộ Tài chính Mỹ đã đưa Positive Technologies và Kaspersky Lab vào danh sách trừng phạt, và sau cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine năm 2022, các nước phương Tây khác cũng làm theo. Sang năm 2023, Positive Technologies tiếp tục bị Liên minh Châu Âu trừng phạt. Trong khi đó, việc sử dụng phần mềm của Kaspersky trên các thiết bị của chính phủ đã bị cấm hoặc hạn chế ở Canada và Anh; còn Đức và Ý đã đưa ra cảnh báo về việc sử dụng phần mềm của Kaspersky trong cả khu vực công và tư nhân. Sau khi Nga xâm lược Ukraine, cơ quan an ninh mạng quốc gia của Ý cũng cấm sử dụng trên các thiết bị của chính phủ nhiều ứng dụng an ninh mạng khác nhau do Nga thiết kế – bao gồm cả ứng dụng của Kaspersky, Positive Technologies, và Group-IB, một công ty hàng đầu khác của Nga – với lý do lo ngại về an ninh quốc gia.

Và cũng giống như trường hợp ở Mỹ, các công ty Nga đã phủ nhận những phát hiện này. Trong một tuyên bố, Positive Technologies mô tả quyết định của EU là “dựa trên thực tế là công ty chúng tôi có giấy phép từ Cơ quan An ninh Liên bang Nga.” Công ty cũng cho biết lợi ích kinh doanh của họ “không liên quan đến các nước EU và tập trung vào các khu vực sẵn sàng hợp tác với các thực thể từ Liên bang Nga, đặc biệt là tại các thị trường Mỹ Latinh, Trung Đông, Bắc Phi, và Đông Nam Á, cũng như Ấn Độ, Nam Phi, Trung Quốc, và nhiều quốc gia khác.” Sau động thái của Ý, Group-IB đã quyết định tách ròi hoàn toàn hoạt động kinh doanh quốc tế khỏi hoạt động kinh doanh tại Nga.

Kể từ cuộc họp tháng 04/2024 tại St. Petersburg, Positive Technologies đã tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động quốc tế. Hồi tháng 12, công ty ký thỏa thuận phân phối với Mideast Communication Systems tại Cairo, xây dựng bệ phóng chiến lược cho các dịch vụ tại châu Phi và Trung Đông, đặc biệt là ở Ai Cập và Ả Rập Saudi. Positive Technologies đặc biệt hấp dẫn Riyadh vì công ty này cung cấp khả năng bảo vệ chống lại cái gọi là “các cuộc tấn công đe dọa tiên tiến, dai dẳng” – các cuộc tấn công mạng trong đó kẻ tấn công có thể ẩn náu trong hệ thống suốt một thời gian dài để đạt được các mục tiêu chiến lược – vốn đặc biệt phổ biến ở Ả Rập Saudi. Năm 2024, công ty phát hiện ra rằng trong số các nhóm mà họ có thể xác định đã thực hiện các cuộc tấn công đe dọa, 88% đã nhắm mục tiêu vào các ngành công nghiệp viễn thông và quân sự của Ả Rập Saudi.

Sang tháng 06/2025, Cyberus Foundation, tự mô tả mình là “công cụ hợp nhất các doanh nghiệp, ngành công nghiệp phòng thủ mạng, và nhà nước để đạt được các mục tiêu chung,” đã ký một thỏa thuận chiến lược với Al-Adid Business, thuộc sở hữu của Sheikh Suhaim bin Ahmed bin Sultan bin Jassim Al Thani, thành viên của gia đình cầm quyền Qatar. Thỏa thuận này được thiết kế để phát triển năng lực an ninh mạng của Qatar, bao gồm việc thành lập Cyberdom Qatar và Hackademy, các tổ chức đào tạo chuyên gia an ninh mạng tại quốc gia này. Không có dấu hiệu trực tiếp nào cho thấy tình báo Nga có liên quan đến các thỏa thuận này. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng chúng mang lại cho các công ty Nga quyền tiếp cận sâu rộng vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số của các quốc gia này.

Tháng 04/2025, Cyberus cũng ký một thỏa thuận hợp tác với Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO), liên minh quân sự do Điện Kremlin dẫn đầu gồm Armenia, Belarus, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Nga, và Tajikistan. Theo Tổng Thư ký CSTO Imangali Tasmagambetov, mục tiêu của thỏa thuận này là “tăng cường sự phối hợp giữa các quốc gia thành viên CSTO trong việc chống lại các mối đe dọa mạng và nâng cao khả năng phục hồi an ninh mạng trong khu vực.”

Hoạt động mở rộng an ninh mạng của Nga đặc biệt tích cực tại Châu Phi. Ví dụ, Kaspersky Lab đã ký kết thỏa thuận với Smart Africa, một quan hệ đối tác giữa 40 quốc gia Châu Phi, nhằm phát triển công nghệ thông tin và truyền thông. Công ty này cũng tham gia vào Mạng lưới các Cơ quan An ninh mạng Châu Phi, sáng kiến được thành lập vào tháng 02/2025 nhằm “giải quyết các thách thức an ninh mạng xuyên biên giới trên khắp Lục địa.” Với những thỏa thuận này, Kaspersky Lab đã định vị mình là đơn vị dẫn đầu việc định hình ngành công nghiệp an ninh mạng đang nổi lên trên khắp châu Phi.

Trong khi đó, Điện Kremlin vẫn tiếp tục quảng bá các công ty trong danh sách của Patrushev. Chẳng hạn, vào tháng 6, Yury Maksimov, đồng sáng lập Positive Technologies và Cyberus, đã tham dự Diễn đàn Kinh tế Quốc tế St. Petersburg – hội nghị thường niên do Putin tài trợ, từ lâu là nơi phô diễn sức mạnh kinh tế và địa chính trị của Nga – với tư cách là một trong những diễn giả chính. Maksimov thảo luận về nhu cầu để các quốc gia “chưa hoàn toàn độc lập về công nghệ” – nghĩa là các quốc gia không thể tạo ra các dịch vụ trực tuyến cấp quốc gia có khả năng cạnh tranh với các nền tảng phương Tây – hiểu cách duy trì chủ quyền số. Theo quan điểm của Điện Kremlin, phần lớn châu Phi, châu Á, và Trung Đông nằm trong nhóm này.

Tại diễn đàn St. Petersburg, lời chào hàng của Cyberus tới các quốc gia này đã được Andrey Bezrukov, chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu Chủ quyền Công nghệ Nga, lặp lại và củng cố. Bezrukov được biết đến nhiều hơn ở Mỹ với cái tên Donald Heathfield, danh tính mà ông sử dụng khi phục vụ trong cái mà Bộ Tư pháp Mỹ gọi là “Chương trình Bất hợp pháp”: một mạng lưới các điệp viên nằm vùng của Nga, những người cố gắng xâm nhập vào các tổ chức của Mỹ bằng cách giả dạng làm dân thường Mỹ. Chính quyền Mỹ đã trao Bezrukov và chín điệp viên khác cho Nga trong một cuộc trao đổi tù nhân vào năm 2010. Sau cuộc trao đổi, Điện Kremlin đã giúp Bezrukov tái tạo hình ảnh thành một chuyên gia chính sách đối ngoại chuyên về Mỹ, và ông thường xuyên xuất hiện trên các chương trình truyền hình Nga.

Nhiệm vụ hiện tại của Bezrukov – dẫn đầu “xuất khẩu chủ quyền công nghệ” – phản ánh mục tiêu mà Điện Kremlin, các cơ quan tình báo và các công ty mạng Nga hướng đến: cung cấp cho các quốc gia mục tiêu dịch vụ mạng giúp bảo vệ không gian thông tin của họ khỏi mối đe dọa từ ảnh hưởng của phương Tây, bao gồm cả an ninh mạng và kiểm soát mạng xã hội. Xét đến việc cả Bezrukov lẫn Naryshkin đều không che giấu mối liên hệ với SVR, có vẻ như các cơ quan tình báo Nga cho rằng đồng nghiệp của họ ở các quốc gia khách hàng không mấy lo ngại về khả năng bị tình báo Nga xâm nhập vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số, miễn là họ có được sự bảo vệ mạng từ phương Tây.

CUỘC ĐUA MÀ NGA CÓ THỂ CHIẾN THẮNG

Lợi ích của cuộc chiến mạng mới, thầm lặng nhưng dữ dội này, là rất cao. Vấn đề không chỉ nằm ở việc các công ty nào được tiếp cận cơ sở hạ tầng kỹ thuật số cấp quốc gia của hàng chục quốc gia phi phương Tây, mà còn nằm ở việc đào tạo những người chịu trách nhiệm bảo vệ cơ sở hạ tầng đó. Đối với chính phủ Nga, ảnh hưởng của các công ty Nga trên toàn thế giới rõ ràng là một ưu tiên chiến lược. Thứ nhất, các chuyên gia đào tạo thế hệ chuyên gia mạng tiếp theo trên toàn thế giới sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các chuyên gia trẻ xác định những gì cấu thành nên các mối đe dọa. Kể từ những năm đầu thế kỷ này, sự khác biệt trong nhận thức về các mối đe dọa đã dần mang tính chính trị, khi đầu tiên là Nga và sau đó là Trung Quốc bắt đầu thúc đẩy một định nghĩa rất rộng về các mối đe dọa đối với an ninh thông tin quốc gia – một định nghĩa mà theo phiên bản của Điện Kremlin bao gồm, ví dụ, các hoạt động của phương tiện truyền thông nước ngoài. Như vụ rò rỉ thông tin NSA trước đó cho thấy, công nghệ của Nga đủ khả năng cung cấp một cửa hậu cho tình báo nước này.

Nghịch lý thay, những động thái của Mỹ và các đồng minh châu Âu nhằm trừng phạt các công ty an ninh mạng Nga và hạn chế hoặc cấm sử dụng sản phẩm của họ ở phương Tây chỉ càng đẩy nhanh sự lan truyền công nghệ mạng của Nga sang các khu vực khác trên thế giới. Tình báo Nga có tầm ảnh hưởng sâu rộng, và các công ty an ninh mạng hàng đầu của nước này biết rõ điều đó. Trái lại, Mỹ và các đồng minh dường như lại ít quan tâm hơn, và sự thờ ơ đó về lâu dài có thể mang lại lợi thế đáng kể cho nước Nga của Putin khi họ gia tăng ảnh hưởng đối với cơ sở hạ tầng mạng của các quốc gia trên thế giới.

Andrei Soldatov là nghiên cứu viên cấp cao không thường trú tại Trung tâm Phân tích Chính sách Châu Âu, và là Đồng sáng lập và Tổng Biên tập của Agentura.ru, một trang tin chuyên giám sát các hoạt động của cơ quan mật vụ Nga.

Irina Borogan là nghiên cứu viên cấp cao không thường trú tại Trung tâm Phân tích Chính sách Châu Âu, và là Đồng sáng lập và Phó Tổng Biên tập của Agentura.ru.

Cả hai là đồng tác giả của cuốn “Our Dear Friends in Moscow: The Inside Story of a Broken Generation.”