Phải chăng đây là hồi kết của kỷ nguyên hòa bình dài nhất?

Nguồn: Graham Allison và James A. Winnefeld, Jr., “The End of the Longest Peace?”, Foreign Affairs, 24/11/2025

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Một trong những thành tựu vĩ đại nhất của lịch sử đang bị đe dọa.

Tám thập kỷ qua là khoảng thời gian dài nhất không có chiến tranh giữa các cường quốc kể từ thời Đế chế La Mã. Kỷ nguyên hòa bình kéo dài bất thường này diễn ra sau hai cuộc chiến thảm khốc, mỗi cuộc chiến đều có sức tàn phá khủng khiếp hơn nhiều so với các xung đột trước đó, đến nỗi các nhà sử học thấy cần phải tạo ra một phạm trù hoàn toàn mới để mô tả chúng: chiến tranh thế giới. Nếu phần còn lại của thế kỷ 20 cũng bạo lực như hai thiên niên kỷ trước, thì cuộc đời của hầu hết mọi người đang sống ngày nay hẳn đã khác xa.

Việc chiến tranh giữa các cường quốc vắng bóng kể từ năm 1945 không phải là ngẫu nhiên. Phần lớn nguyên nhân là nhờ ân sủng và may mắn. Nhưng trải nghiệm chiến tranh thảm khốc cũng buộc những con người kiến tạo trật tự hậu chiến phải cố gắng bẻ cong vòng cung lịch sử. Trải nghiệm cá nhân của các nhà lãnh đạo Mỹ về chiến thắng trong chiến tranh đã cho họ sự tự tin để nghĩ đến những điều không tưởng và làm những gì mà các thế hệ trước cho là không thể thực hiện được bằng cách xây dựng một trật tự quốc tế có thể mang lại hòa bình. Để đảm bảo nền hòa bình lâu dài này được tiếp tục, cả các nhà lãnh đạo và công dân Mỹ đều cần nhận ra đây là một thành tựu đáng kinh ngạc, đồng thời nhận ra nó mong manh như thế nào và bắt đầu một cuộc tranh luận nghiêm túc về những gì cần thiết để duy trì nó cho thế hệ tiếp theo.

THÀNH TỰU KỲ DIỆU

Có ba con số thể hiện những đặc điểm nổi bật – và thành công – của trật tự an ninh quốc tế: 80, 80, và 9. Đã 80 năm trôi qua kể từ cuộc chiến nóng cuối cùng giữa các cường quốc. Điều này đã giúp dân số toàn cầu tăng gấp ba, tuổi thọ trung bình tăng gấp đôi, và GDP toàn cầu tăng gấp 15 lần. Nếu thay vào đó, các chính khách hậu Thế chiến II chấp nhận lịch sử như thường lệ, thì có lẽ Thế chiến III đã xảy ra. Nhưng nó sẽ được tiến hành bằng vũ khí hạt nhân, và thực sự trở thành “cuộc chiến chấm dứt mọi cuộc chiến.”

Cũng đã 80 năm trôi qua kể từ lần cuối cùng vũ khí hạt nhân được sử dụng trong chiến tranh. Thế giới đã đôi lần thoát hiểm trong gang tấc – nguy hiểm nhất là Khủng hoảng tên lửa Cuba, khi Mỹ đối đầu với Liên Xô về việc đặt tên lửa mang đầu đạn hạt nhân ở Cuba, và trong thời gian đó, Tổng thống John F. Kennedy ước tính khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân là từ một phần ba đến một phần hai. Gần đây hơn, trong năm đầu tiên của cuộc chiến toàn diện của Nga tại Ukraine, bắt đầu vào năm 2022, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đe dọa tiến hành các cuộc tấn công hạt nhân chiến thuật. Theo báo cáo trên tờ New York Times, CIA ước tính khả năng Nga tấn công hạt nhân là 50-50 nếu cuộc phản công của Ukraine nhấn chìm lực lượng Nga đang rút lui. Giám đốc CIA Bill Burns ngay lập tức được cử đến Moscow để truyền đạt quan ngại của Mỹ. May mắn thay, sự hợp tác sáng tạo giữa Mỹ và Trung Quốc đã ngăn cản Putin, nhưng nó cũng là một lời nhắc nhở về sự mong manh của cấm kỵ hạt nhân – chuẩn mực toàn cầu không được nói ra, rằng việc sử dụng vũ khí hạt nhân nên bị loại khỏi bàn đàm phán.

Trong thập niên 1950 và 1960, các nhà lãnh đạo thế giới kỳ vọng các quốc gia sẽ chế tạo vũ khí hạt nhân khi họ có được năng lực kỹ thuật để làm điều đó. Kennedy dự đoán rằng, đến những năm 1970, sẽ có khoảng 25 đến 30 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân, và điều này khiến ông thúc đẩy một trong những sáng kiến táo bạo nhất trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Ngày nay, 185 quốc gia đã ký Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí Hạt nhân (NPT), cam kết từ bỏ chúng. Đáng chú ý, chỉ có chín quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân.

Giống như 80 năm hòa bình và không có chiến tranh hạt nhân, chế độ không phổ biến vũ khí hạt nhân – mà NPT đã trở thành trọng tâm – cũng là một thành tựu mong manh. Hơn 100 quốc gia hiện đang sở hữu nền tảng kinh tế và kỹ thuật để chế tạo vũ khí hạt nhân. Việc họ lựa chọn dựa vào sự bảo đảm an ninh của nước khác là không tự nhiên về mặt địa chiến lược và lịch sử. Thật vậy, một cuộc thăm dò năm 2025 của Viện Asan cho thấy ba phần tư người dân Hàn Quốc hiện ủng hộ việc sở hữu kho vũ khí hạt nhân của riêng mình để phòng vệ trước các mối đe dọa từ Triều Tiên. Và nếu Putin có thể thúc đẩy các mục tiêu chiến tranh của mình bằng cách ra lệnh tấn công hạt nhân chiến thuật vào Ukraine, thì các chính phủ khác có thể sẽ kết luận rằng họ cần lá chắn hạt nhân của riêng mình.

HỒI KẾT CỦA MỘT KỶ NGUYÊN

Năm 1987, sử gia John Lewis Gaddis xuất bản một bài luận mang tính bước ngoặt mang tên “Hòa bình Trường kỳ” (The Long Peace). Đã 42 năm trôi qua kể từ khi Thế chiến II kết thúc, một kỷ nguyên ổn định tương đương với thời kỳ giữa Hội nghị Vienna năm 1815 và Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870, và những thập kỷ sau đó cho đến khi Thế chiến I bùng nổ năm 1914. Gaddis lập luận rằng nền tảng của nền hòa bình trường kỳ hiện đại này chính là Chiến tranh Lạnh. Trong những điều kiện cấu trúc mà nếu xét theo những thời kỳ trước đó thì gần như chắc chắn đã dẫn đến Thế chiến III, Mỹ và Liên Xô đã đối đầu nhau khi nắm trong tay kho vũ khí đủ sức chống lại một cuộc tấn công hạt nhân và trả đũa quyết liệt. Các nhà chiến lược hạt nhân mô tả điều này là sự đảm bảo hủy diệt lẫn nhau (mutually assured destruction, MAD).

Bên cạnh việc thành lập Liên Hiệp Quốc, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, các thỏa thuận đa phương sau này phát triển thành Liên minh Châu Âu, và khía cạnh ý thức hệ gay gắt của sự cạnh tranh Mỹ-Xô, Gaddis lập luận rằng yếu tố cốt lõi dẫn đến hòa bình chính là phán đoán của cả hai bên rằng lợi ích hệ thống quan trọng hơn lợi ích tư tưởng. Liên Xô căm ghét chủ nghĩa tư bản, còn Mỹ thì bác bỏ chủ nghĩa cộng sản. Nhưng mong muốn ngăn chặn sự hủy diệt lẫn nhau của họ còn quan trọng hơn. Ông giải thích, “việc điều tiết ý thức hệ, cùng với răn đe hạt nhân và trinh sát, cần được xem xét như một cơ chế tự điều chỉnh quan trọng trong chính trị thời hậu chiến.”

Như Gaddis nhận ra, thế giới đã chia thành hai phe, mỗi siêu cường đều tìm cách thu hút đồng minh và liên kết các quốc gia khác trên toàn cầu. Mỹ khởi động Kế hoạch Marshall để tái thiết Tây Âu, thành lập Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới để thúc đẩy phát triển toàn cầu, đồng thời thúc đẩy Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại nhằm thiết lập các quy tắc trao đổi kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng. Mỹ thậm chí còn từ bỏ chiến lược trước đây là cố gắng tránh vướng vào các liên minh phức tạp – một ý tưởng có từ thời Tổng thống George Washington – bằng cách gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và một cam kết hiệp ước với Nhật Bản. Mỹ sẵn lòng theo đuổi bất kỳ lựa chọn nào phù hợp để xây dựng một trật tự an ninh quốc tế giúp chống lại mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản Liên Xô. Như một trong số chúng tôi (Allison) đã giải thích trên Foreign Affairs, “Nếu không có mối đe dọa từ Liên Xô, sẽ không có Kế hoạch Marshall và cũng không có NATO.”

Sau khi Liên Xô sụp đổ, vào đầu thập niên 1990, những người theo chủ nghĩa chiến thắng đã ca ngợi một kỷ nguyên đơn cực mới, nơi Mỹ là siêu cường độc nhất. Trật tự mới này mang lại một khoản cổ tức hòa bình, cho phép các quốc gia có thể phát triển mà không phải lo lắng về xung đột giữa các cường quốc. Các quan điểm chủ đạo trong hai thập kỷ đầu tiên sau khi Liên Xô sụp đổ thậm chí còn khẳng định “sự cáo chung của lịch sử.” Theo lời nhà khoa học chính trị Francis Fukuyama, thế giới đang chứng kiến “điểm kết thúc của quá trình tiến hóa tư tưởng của nhân loại và tính phổ quát của nền dân chủ tự do phương Tây như hình thức chính phủ cuối cùng của loài người.” Khi lấy ví dụ về các nhà hàng McDonald’s, “Lý thuyết Cổng Vàng về Phòng ngừa Xung đột” của Thomas Friedman lập luận rằng phát triển kinh tế và toàn cầu hóa sẽ đảm bảo một kỷ nguyên hòa bình. Những ý tưởng này sau đó trở thành nền tảng cho các cuộc xâm lược Afghanistan và Iraq của Mỹ, khiến nước này sa lầy vào những cuộc chiến bất tận, không có chiến thắng suốt hai thập kỷ.

Ngoại giao sáng tạo cũng là một yếu tố quan trọng trong chương lịch sử này. Sự tan rã của Liên Xô và sự trỗi dậy của Nga cùng 14 quốc gia Đông Âu mới giành độc lập lẽ ra phải đồng nghĩa với sự gia tăng đột biến của các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân. Hơn 12.600 vũ khí hạt nhân đã bị bỏ lại bên ngoài nước Nga khi Liên Xô sụp đổ. Phải cần đến sự hợp tác phi thường giữa Mỹ và nhà lãnh đạo Nga Boris Yeltsin trong quá trình dân chủ hóa nước Nga, được tài trợ bởi một chương trình phi hạt nhân hóa hợp tác do Thượng nghị sĩ Mỹ Sam Nunn và Richard Lugar dẫn đầu, để đảm bảo rằng những vũ khí này không rơi vào tay kẻ xấu. Đến năm 1996, các bên đã có thể di dời toàn bộ vũ khí hạt nhân khỏi lãnh thổ Liên Xô cũ và trao trả cho Nga hoặc tháo dỡ chúng.

Những thay đổi địa chính trị sau khi Liên Xô sụp đổ đã thiết lập lại quan hệ giữa Mỹ với cả những cựu thù lẫn những đối thủ ngày càng lớn mạnh. Năm 2009, khi Barack Obama nhậm chức Tổng thống Mỹ, cả Nga và Trung Quốc đều được mô tả là “đối tác chiến lược.” Quan điểm này chiếm ưu thế được một thời gian. Nhưng khi Donald Trump trở thành tổng thống Mỹ vào năm 2017, thực tế về một Trung Quốc đầy tham vọng, trỗi dậy nhanh chóng, và một nước Nga đầy thù hận, khao khát trả thù đã dẫn đến sự thừa nhận rằng Mỹ đã bước vào một kỷ nguyên cạnh tranh giữa các siêu cường mới.

NGUY HIỂM PHÍA TRƯỚC

Trước khi qua đời vào năm 2023, Henry Kissinger từng nhiều lần nhắc nhở các đồng nghiệp rằng ông tin tám thập kỷ hòa bình giữa các cường quốc khó có thể kéo dài trọn vẹn một thế kỷ. Trong số những yếu tố mà lịch sử cho thấy góp phần vào hồi kết tàn bạo của một chu kỳ địa chính trị lớn, có năm yếu tố nổi bật có thể chấm dứt nền hòa bình lâu dài hiện tại.

Đứng đầu danh sách là “chứng mất trí nhớ.” Nhiều thế hệ người Mỹ trưởng thành, bao gồm cả các sĩ quan quân đội đang tại ngũ, không hề có ký ức cá nhân nào về những tổn thất khủng khiếp của một cuộc chiến giữa các cường quốc. Có rất ít người nhận ra rằng, trước thời kỳ hòa bình đặc biệt này, cứ mỗi một hoặc hai thế hệ lại có một cuộc chiến xảy ra. Nhiều người ngày nay tin rằng một cuộc chiến giữa các cường quốc là điều không thể tưởng tượng nổi – nhưng họ không hiểu rằng, niềm tin đó không phản ánh những gì thực sự có thể xảy ra trên thế giới, mà chỉ phản ánh giới hạn trong trí tưởng tượng của chính họ.

Sự tồn tại của các đối thủ cạnh tranh cũng đe dọa hòa bình. Sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc đang thách thức vị thế thống trị của Mỹ, phản ánh kiểu cạnh tranh khốc liệt giữa một cường quốc đã được xác lập và một cường quốc đang trỗi dậy mà sử gia Hy Lạp cổ đại Thucydides từng cảnh báo sẽ dẫn đến xung đột. Hồi đầu thế kỷ 21, Mỹ chẳng mấy bận tâm đến việc cạnh tranh với Trung Quốc, quốc gia còn kém xa họ về kinh tế, quân sự, và công nghệ. Nhưng giờ đây, Trung Quốc đã bắt kịp và thậm chí vượt qua Mỹ trong nhiều lĩnh vực, gồm thương mại, sản xuất, và công nghệ xanh, và còn đang phát triển nhanh chóng trong các lĩnh vực khác. Đồng thời, Putin, người lãnh đạo một quốc gia đang suy yếu nhưng vẫn nắm giữ một kho vũ khí hạt nhân có khả năng hủy diệt Mỹ, đã chứng tỏ sự sẵn sàng sử dụng chiến tranh để khôi phục phần nào sự vĩ đại của nước Nga. Trong lúc các mối đe dọa từ Nga gia tăng và sự ủng hộ của chính quyền Trump dành cho NATO yếu đi, Châu Âu đang phải vật lộn để đối phó với những thách thức an ninh cấp bách trong những thập kỷ tới.

Sự san bằng nền kinh tế toàn cầu càng làm tăng khả năng xảy ra chiến tranh. Vị thế áp đảo về kinh tế của Mỹ đã suy giảm khi các quốc gia khác dần hồi phục sau sự tàn phá của hai cuộc thế chiến. Hồi cuối Thế chiến II, khi hầu hết các nền kinh tế lớn khác bị phá hủy, Mỹ nắm giữ một nửa GDP của thế giới; khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, tỷ trọng này giảm xuống còn một phần tư. Ngày nay, Mỹ chỉ còn nắm giữ một phần bảy GDP thế giới. Khi cán cân sức mạnh kinh tế giữa các quốc gia bắt đầu dịch chuyển, một thế giới đa cực đã nổi lên, trong đó nhiều quốc gia độc lập có thể hành động trong phạm vi ảnh hưởng của họ mà không cần xin phép hoặc sợ bị trừng phạt. Quá trình chuyển dịch này càng tăng tốc khi cường quốc thống trị tự đặt mình vào tình trạng căng thẳng tài chính – những gì nhà quản lý quỹ đầu cơ lừng danh Ray Dalio cho rằng nước Mỹ ngày nay đang mắc phải.

Khi một cường quốc đã xác lập tự làm mình kiệt quệ về mặt quân sự – đặc biệt là trong các cuộc xung đột không phải lợi ích sống còn – khả năng ngăn chặn hoặc phòng thủ trước các cường quốc đang trỗi dậy của họ sẽ suy yếu. Nhà triết học cổ đại Trung Quốc Tôn Tử từng viết, “quân đội tác chiến ở ngoài lâu có thể làm tài chính quốc gia gặp khó khăn,” điều này rất đúng khi mô tả những nhiệm vụ tốn kém của quân đội Mỹ tại Iraq và Afghanistan, cùng sự thiếu khả năng tập trung vào các thách thức cấp bách hơn. Việc tập trung nguồn lực hạn hẹp vào những cuộc xung đột kéo dài này đã khiến Mỹ lãng quên việc cải thiện khả năng phòng thủ của mình trước các đối thủ ngày càng tinh vi và nguy hiểm hơn. Đáng lo ngại hơn là vòng luẩn quẩn mà cơ quan an ninh quốc gia Mỹ đã rơi vào khi được Quốc hội và ngành công nghiệp quốc phòng ủng hộ. Họ liên tục đòi hỏi thêm nguồn lực – tăng ngân sách – thay vì tìm kiếm những chiến lược tốt hơn để giải quyết các mối đe dọa nghiêm trọng đối với lợi ích quốc gia.

Cuối cùng, và đáng lo ngại nhất, một cường quốc sa lầy vào những chia rẽ chính trị gay gắt trong nước có nguy cơ bị tê liệt khả năng hành động thống nhất trên trường quốc tế. Điều này sẽ là một cản trở lớn khi các nhà lãnh đạo dao động giữa các lập trường đối lập về việc liệu đất nước có nên duy trì một trật tự toàn cầu thành công hay không và bằng cách nào. Đây chính là những gì đang diễn ra ngày nay: một chính quyền với vẻ ngoài đầy thiện chí ở Washington đang làm đảo lộn gần như mọi quan hệ, thể chế, và quy trình quốc tế hiện có để áp đặt quan điểm của mình về cách thức trật tự quốc tế phải thay đổi.

Các chu kỳ địa chính trị sóng dài sẽ không kéo dài mãi mãi. Câu hỏi quan trọng nhất mà người Mỹ và nền chính trị chia rẽ của Mỹ đang phải đối mặt là liệu nước này có thể tự chấn chỉnh để nhận ra những hiểm họa của thời điểm hiện tại, tìm ra sự khôn ngoan cần thiết để vượt qua nó, và hành động tập thể để ngăn chặn – hay chính xác hơn là trì hoãn – cơn biến động toàn cầu tiếp theo hay không. Thật không may, như Hegel nhận xét, chúng ta học được từ lịch sử rằng chúng ta thường không học được gì từ lịch sử. Xưa kia, khi các chiến lược gia Mỹ xây dựng chiến lược Chiến tranh Lạnh, nền tảng của nền hòa bình lâu dài hiện tại, tầm nhìn của họ đã vượt xa trí tuệ thông thường của các thời đại trước. Để duy trì ngoại lệ đã cho phép thế giới trải qua giai đoạn không có chiến tranh giữa các cường quốc chưa từng có này, ngày nay chúng ta cũng cần một sự bùng nổ tương tự về trí tưởng tượng chiến lược và quyết tâm quốc gia.

Graham Allison là Giáo sư về Quản trị chính quyền tại Đại học Harvard. Ông là tác giả cuốn “Định mệnh Chiến tranh: Liệu Mỹ và Trung Quốc có thoát khỏi bẫy Thucydides?”

James A. Winnefeld, Jr., nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân. Ông từng là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Tình báo của Tổng thống Mỹ từ năm 2022 đến năm 2025.