
Nguồn: Shantanu Roy-Chaudhury, “The Indispensable Adversary: India’s Approach to China”, War on the Rocks, 29/12/2025
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Trên một sườn núi Himalaya lạnh giá, quân đội Ấn Độ và Trung Quốc vẫn đang dè chừng nhau qua ống ngắm súng trường. Cách đó hàng nghìn dặm, các nhà máy Ấn Độ vẫn đang vận hành nhộn nhịp nhờ linh kiện Trung Quốc. Hiếm có sự đối đầu nào trên thế giới lại vừa xung đột vừa cộng sinh đến vậy, hoặc đã kéo dài lâu đến thế mà vẫn chưa đổ vỡ suốt chừng ấy thời gian.
Cách tiếp cận của Ấn Độ đối với Trung Quốc là một phép thử thực tế liệu sự phụ thuộc một chiều có mang lại cho một quốc gia những quân bài chiến lược mà các nền kinh tế gắn kết quá sâu không bao giờ có được? Việc Ấn Độ chủ yếu chỉ tiếp xúc với Trung Quốc qua nhập khẩu mà gần như không có doanh nghiệp nào đặt tại đây đã cho phép họ thực thi những chiến lược vốn sẽ gây tổn thất không thể gánh nổi đối với các quốc gia khác, những nơi mà doanh nghiệp đã cắm rễ sâu vào mạng lưới sản xuất của Trung Quốc.
Kể từ sau cuộc đụng độ tại Thung lũng Galwan năm 2020, Ấn Độ đã từ bỏ chính sách truyền thống vốn tách bạch kinh tế khỏi an ninh đối với Trung Quốc sang buộc quan hệ song phương phải gắn liền với sự ổn định biên giới. Cách tiếp cận hiện nay của New Delhi ưu tiên sự rạch ròi và đa dạng hóa trong quan hệ với Trung Quốc, nhằm đảm bảo rằng các nỗ lực bảo vệ an ninh và mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn song hành mà không cản trở lẫn nhau.
Các phân tích hiện thời về quan hệ Trung – Ấn thường xoáy sâu vào sự giằng co giữa cạnh tranh an ninh và phụ thuộc kinh tế, một thế lưỡng nan mà nhiều quốc gia đang gặp phải khi lèo lái quan hệ với Bắc Kinh. Tuy nhiên, góc nhìn này dù đúng nhưng lại mặc định sự phụ thuộc là một rào cản chung cho tất cả, mà quên mất rằng chính cấu trúc của sự phụ thuộc đó mới quyết định chiến lược ứng phó nào là khả thi. Việc Ấn Độ có thể duy trì thế đối đầu quân sự trong khi vẫn chấp nhận phụ thuộc kinh tế hay không, chính là phép thử xem liệu sự phụ thuộc một chiều có tạo ra những không gian chiến lược mà các nền kinh tế hội nhập sâu không bao giờ có được.
Do đó, Ấn Độ có thể ung dung phê duyệt đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc mà vẫn thực hiện đa dạng hóa ở các lĩnh vực khác, bởi các doanh nghiệp của họ không hề có tài sản hay lợi ích tương đương tại Trung Quốc cần phải bảo vệ. Ngược lại, các quốc gia châu Âu không thể áp dụng kiểu đối xử phân biệt theo ngành như vậy bởi lẽ bất kỳ lệnh hạn chế hay đòn áp thuế nào của họ cũng sẽ kích động sự trả đũa nhắm thẳng vào quyền tiếp cận thị trường của chính các doanh nghiệp châu Âu đang cắm rễ tại Trung Quốc. Như vậy, chính cấu trúc phụ thuộc chứ không chỉ đơn thuần là mức độ phụ thuộc mới là yếu tố định đoạt các lựa chọn chiến lược.
Nếu thành công, Ấn Độ sẽ chứng minh được tính hiệu quả của một mô hình quản trị đối địch vừa duy trì tăng trưởng, vừa đứng vững giữa tâm điểm của những căng thẳng địa chính trị. Sự thành bại của mô hình này đòi hỏi bản lĩnh chấp nhận những nghịch lý, khả năng kiểm soát rủi ro đa tầng, và quan trọng nhất là phải nhìn nhận rằng một vùng xám mập mờ giữa hợp tác và cạnh tranh có lẽ là con đường khả thi duy nhất để tiến về phía trước. Tuy nhiên, cái giá phải trả sẽ rất đắt nếu Trung Quốc dùng sự phụ thuộc kinh tế để ép Ấn Độ nhượng bộ về chiến lược, hoặc nếu ngọn lửa xung đột an ninh lan sang lĩnh vực kinh tế, khi đó hậu quả đối với một quốc gia đang phát triển vốn sống dựa vào vốn đầu tư nước ngoài như Ấn Độ sẽ vô cùng thảm khốc.
Biên giới bị quân sự hóa
Thỏa thuận biên giới tháng 10 năm 2024 giữa Thủ tướng Narendra Modi và Chủ tịch Tập Cận Bình đã giảm bớt căng thẳng tức thời tại một số điểm nóng dọc theo Đường Kiểm soát Thực tế, nhưng cả hai nước vẫn duy trì từ 50.000 đến 60.000 quân dọc biên giới Himalaya và các giới hạn cho việc hạ nhiệt vẫn tồn tại. Phía Trung Quốc đã đẩy mạnh xây dựng đường sá để đảm bảo vận chuyển thông suốt quanh năm, cơ sở hạ tầng kiên cố, thiết lập mạng lưới cảm biến và thậm chí đưa dân đến định cư tại các ngôi làng sát biên giới. Phía Ấn Độ cũng không kém cạnh khi nâng cấp các căn cứ không quân, đầu tư vào kết nối đường sắt và triển khai các tiền đồn mới.
Tình trạng quân sự hóa thường trực này, dù đã 5 năm trôi qua kể từ cuộc đụng độ đẫm máu tại Thung lũng Galwan, dường như là một nghịch lý với nỗ lực duy trì quan hệ kinh tế và đà tăng trưởng thương mại hàng năm. Cách nhìn nhận này vốn coi cạnh tranh an ninh và phụ thuộc kinh tế là hai áp lực triệt tiêu lẫn nhau, buộc quốc gia phải chấp nhận những cuộc đánh đổi nghiệt ngã. Thế nhưng, thực tế từ Ấn Độ lại cho thấy chính cấu trúc rủi ro đặc thù đã giúp họ hóa giải thế đối đầu này thành một sự căng thẳng trong tầm kiểm soát.
Nghịch lý Kinh tế
Vị thế quân sự cứng rắn này hoàn toàn trái ngược với những diễn biến trong quan hệ kinh tế, nơi Ấn Độ vẫn chưa thể thoát khỏi phụ thuộc vào Trung Quốc. Năm 2024, kim ngạch thương mại song phương đã chạm mốc 128 tỷ USD, nhưng Ấn Độ chỉ xuất khẩu vỏn vẹn 14,25 tỷ USD sang Trung Quốc.
Chính tham vọng vươn mình trở thành công xưởng sản xuất mới đã phơi bày mức độ lệ thuộc sâu sắc của Ấn Độ vào Trung Quốc. New Delhi đang phải nhập khẩu một danh mục khổng lồ các mặt hàng thiết yếu cho nền tảng công nghiệp nội địa, từ linh kiện điện tử, thiết bị viễn thông cho đến nguyên liệu dược phẩm, máy móc công nghiệp và đầu vào cho năng lượng tái tạo. Hiện tại, Trung Quốc chiếm tới 30% tổng lượng hàng công nghiệp nhập khẩu của Ấn Độ, thậm chí trong các ngành then chốt như điện tử, máy móc, hóa chất và dệt may, tỷ lệ phụ thuộc này còn vượt ngưỡng 70%.
Đơn cử như trong lĩnh vực xe điện, công nghệ Trung Quốc chính là chìa khóa cho tham vọng của Ấn Độ. Quy trình sản xuất xe điện không thể thiếu các tế bào pin, lĩnh vực các nhà sản xuất Trung Quốc hiện đang nắm giữ tới 3/4 công suất toàn cầu. Ngay cả nam châm vĩnh cửu đất hiếm cũng được nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc. Tương tự, lộ trình mở rộng điện mặt trời của Ấn Độ cũng bị ràng buộc vào các nhà cung cấp Trung Quốc, những đơn vị đang thâu tóm 4/5 sản lượng polysilicon toàn cầu và thống trị hoàn toàn các công đoạn sản xuất tấm bán dẫn, tế bào quang điện và module, trong khi các giải pháp thay thế nội địa lại có giá thành đắt đỏ hơn nhiều. Thậm chí, kế hoạch bành trướng sản lượng iPhone của Apple tại Ấn Độ cũng phải dựa vào nguồn linh kiện từ Trung Quốc. Việc xây dựng một chuỗi cung ứng thay thế sẽ tiêu tốn hàng năm trời cùng nguồn vốn khổng lồ và trình độ kỹ thuật mà Ấn Độ vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ lại đang phụ thuộc vào chính quốc gia mà họ coi là mối đe dọa an ninh hàng đầu.
Mối quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ với Trung Quốc có thể được định nghĩa là một động lực mong manh và đang biến chuyển, được định hình bởi sự thận trọng chiến lược và sự phụ thuộc lẫn nhau về bản chất. Nỗi lo ngại của New Delhi về các hoạt động kinh tế mang tính trục lợi của Trung Quốc đã bộc lộ rõ trong những tháng đầu của đại dịch COVID-19. Vào tháng 4/2020, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã nâng tỷ lệ sở hữu tại HDFC (ngân hàng có vốn hóa thị trường lớn nhất Ấn Độ) lên mức hơn 1%, sau khi tận dụng sự sụt giảm của thị trường chứng khoán dưới tác động của đại dịch.
Hệ quả là sự ra đời của Thông cáo Báo chí số 3, một quy định yêu cầu mọi khoản đầu tư từ các quốc gia có chung đường biên giới đất liền với Ấn Độ phải được Chính phủ phê duyệt, động thái mà ai cũng hiểu là nhằm thẳng vào Trung Quốc. Dù biện pháp này ngăn chặn được các thương vụ thâu tóm thù địch, nhưng nó cũng làm tắc nghẽn dòng vốn và công nghệ tiên tiến đang rất cần thiết cho các lĩnh vực công nghệ, sản xuất và khởi nghiệp. Đầu tư từ Trung Quốc đã tụt dốc không phanh, từ khoảng 127 triệu USD năm 2019 xuống chỉ còn vẻn vẹn 3 triệu USD vào năm 2024, khiến các kế hoạch đầy hứa hẹn như liên doanh 1 tỷ USD của BYD bị xếp xó. Trong khi thương mại không ngừng tăng thì đầu tư lại sụp đổ. Tuy nhiên, sự thắt chặt này không gây ra quá nhiều thiệt hại cho Ấn Độ ở các mặt trận khác, bởi họ không hề có các tài sản doanh nghiệp tương đương tại Trung Quốc cần phải bảo vệ trước đòn trả đũa.
Sự lệ thuộc vào nhập khẩu của Ấn Độ có bản chất khác hẳn so với kiểu hội nhập đa chiều vốn định hình sự phụ thuộc của châu Âu hay Đông Á với Trung Quốc. Những mô hình cưỡng ép mà Bắc Kinh áp dụng đối với Ấn Độ đã phơi bày sự khác biệt về mặt cấu trúc này. Trung Quốc đã chứng minh khả năng gây tổn thất kinh tế bằng hàng loạt đòn hiểm từ cấm xuất khẩu đất hiếm, không cho bán máy đào hầm, triệu hồi kỹ thuật viên Foxconn khỏi các nhà máy Ấn Độ, cho đến hạn chế chuyển giao công nghệ xe điện và đình chỉ xuất khẩu phân bón. Thế nhưng, những gì Trung Quốc không cấm lại mang ý nghĩa quan trọng tương đương. Dòng chảy linh kiện điện tử vẫn duy trì thông suốt ngay cả trong giai đoạn căng thẳng biên giới đạt đỉnh điểm năm 2020-2021, dù đây là mảng chiếm tỷ trọng thương mại khổng lồ. Việc cắt đứt nguồn cung linh kiện sẽ làm tổn thương chính các nhà sản xuất Trung Quốc vốn đang dựa vào các công đoạn lắp ráp tại Ấn Độ và cả chuỗi cung ứng toàn cầu mà họ đang duy trì. Chính sự bất đối xứng này giải thích vì sao Ấn Độ có thể thực thi chính sách rạch ròi, điều mà các nước phụ thuộc lẫn nhau không thể làm được. Chính kiến trúc của sự phụ thuộc, chứ không chỉ quy mô của nó, mới quyết định dư địa lựa chọn chiến lược của một quốc gia.
Bài toán an ninh
Từ thực trạng phụ thuộc kinh tế này, có ba mối quan ngại đan xen đang chi phối tư duy chiến lược của Ấn Độ đối với Trung Quốc.
Thứ nhất, Trung Quốc là một mối đe dọa quân sự trực tiếp. Những hành động xâm nhập của Quân đội Trung Quốc dọc theo đường biên giới tranh chấp đã gây ra hàng loạt vụ đụng độ và đối đầu căng thẳng, làm xoay chuyển tận gốc rễ mối quan hệ song phương. Bên cạnh đó, việc Bắc Kinh liên tục bồi đắp tiềm lực quân sự tại khu vực này cũng đã làm thay đổi hoàn toàn cán cân chiến lược tại vùng viễn biên Himalaya.
Thứ hai, Trung Quốc đóng vai trò là một đối thủ chiến lược. Định kiến này càng trở nên sâu sắc sau cuộc xung đột Ấn Độ-Pakistan hồi tháng Năm năm 2025, khi Islamabad tung hàng loạt hệ thống vũ khí tiên tiến do Trung Quốc sản xuất vào chiến trường để chống lại quân đội Ấn Độ. Không chỉ dừng lại ở việc bán vũ khí, việc Bắc Kinh liên tục dùng lá chắn ngoại giao để bao che cho Pakistan trên các diễn đàn quốc tế cũng đã trở thành ngòi nổ gây nên sự phẫn nộ thường trực từ phía New Delhi.
Thứ ba, Ấn Độ coi Trung Quốc là một đối thủ khu vực đang tìm mọi cách cô lập và kìm hãm tầm ảnh hưởng của New Delhi trên khắp Nam Á. Việc Bắc Kinh không ngừng gia tăng can thiệp vào Sri Lanka, Maldives, Bangladesh, Nepal và Myanmar trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến quân sự đã tạo ra một cục diện mới buộc Ấn Độ phải xác định rằng sự đối đầu dài hạn với Trung Quốc không còn là một giai đoạn tạm thời, mà đã trở thành điều kiện tất yếu trong mọi tính toán chiến lược.
Rạch ròi và đa dạng hóa: Phản ứng chiến lược
Cách tiếp cận của Ấn Độ dựa trên hai trụ cột cốt lõi nhằm khai thác tối đa cấu trúc vị thế rủi ro của mình. Trụ cột thứ nhất là sự rạch ròi chiến lược: an ninh hóa biên giới nhưng không an ninh hóa chuỗi cung ứng. Điều này đồng nghĩa với việc New Delhi vừa duy trì sự cảnh giác quân sự cao độ và cạnh tranh quyết liệt trên các mặt trận an ninh, vừa áp dụng một thái độ thực dụng hơn trong hợp tác kinh tế tại những mảng mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước mình.
Trên mặt trận này, nhiều nguồn tin cho biết Chính phủ Ấn Độ đang xem xét điều chỉnh Thông cáo Báo chí số 3. Các doanh nghiệp điện tử trong nước đang vận động hành lang để cho phép thành lập các liên doanh với Trung Quốc, trong đó phía đối tác bị giới hạn tỷ lệ cổ phần ở mức 26%. Chính phủ cũng đang cân nhắc cho phép các doanh nghiệp Trung Quốc sở hữu từ 20% đến 25% vốn trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và phụ tùng ô tô mà không cần qua quy trình thẩm định khắt khe. Một dự thảo nghị quyết của Chính phủ còn hé lộ khả năng miễn kiểm soát bắt buộc đối với các khoản đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc chiếm tối đa 49% vốn trong ngành điện tử và hàng hóa tư liệu sản xuất. Sự chuyển dịch đầy thực dụng này diễn ra ngay giữa lúc quân đội hai bên vẫn đang dàn trận dọc biên giới Himalaya, một minh chứng cho chiến lược rạch ròi trên thực tế.
Song song với đó, do cơ chế phê duyệt của Chính phủ vẫn được duy trì, các tập đoàn công nghệ Trung Quốc rót vốn vào lĩnh vực sản xuất điện tử và ô tô đang được bật đèn xanh nhanh hơn hẳn so với các ngành khác. Sự gắn kết có chọn lọc này, cùng với áp lực vận động từ giới công nghiệp, cho thấy New Delhi đã thừa nhận rằng việc cấm đoán tràn lan đang bóp nghẹt các doanh nghiệp trong nước. Các báo cáo chỉ ra rằng trong năm 2024, Chính phủ Ấn Độ đã nhận được 526 hồ sơ đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc (với 124 hồ sơ được duyệt, 201 hồ sơ bị bác bỏ và 200 hồ sơ vẫn đang chờ xử lý). Con số này cho thấy sự nới lỏng rõ rệt so với năm 2023 khi chỉ có vỏn vẹn 3 hồ sơ được thông qua, hay năm 2022 với 80 hồ sơ được duyệt trên tổng số 382 đơn đăng ký.
Dù việc xét duyệt từng hồ sơ riêng lẻ thường rất nặng nề và khiến quy trình trở nên rắc rối, nhưng nó cũng phơi bày một thực tế rằng Ấn Độ vẫn đang loay hoay phản ứng một cách thụ động thay vì xây dựng được một giải pháp mang tính hệ thống để cân bằng giữa lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia. Nhiều quan điểm cho rằng, trong ngắn hạn và trung hạn, dòng vốn từ Trung Quốc có thể giúp nội địa hóa quy trình sản xuất và tạo ra việc làm, đồng thời các khoản đầu tư vào những lĩnh vực không nhạy cảm sẽ giúp củng cố năng lực công nghiệp trong nước.
Trụ cột thứ hai là Ấn Độ cần ráo riết đẩy mạnh đa dạng hóa để giảm bớt sự lệ thuộc vào các nguồn cung cốt lõi từ Trung Quốc, song song với việc nới lỏng dòng vốn đầu tư trực tiếp vào các lĩnh vực không nhạy cảm. Chiến lược này đang được triển khai đồng bộ trên hai mặt trận. Đầu tiên là ở cấp độ nội địa khi chính phủ đang tăng cường các nỗ lực tự cường. Chính phủ đã thiết lập cơ chế Khuyến khích Liên kết Sản xuất trên nhiều ngành công nghiệp, hỗ trợ tài chính trực tiếp dựa trên tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp. Dù kết quả đạt được còn chưa đồng đều và tiến độ ở một số mảng còn chậm hơn kỳ vọng, nhưng nỗ lực này đã tạo đà đáng kể cho việc sản xuất bán dẫn tại địa phương. Bên cạnh đó, các chương trình hỗ trợ giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu dược phẩm từ Trung Quốc cũng đã được kích hoạt. Để giải quyết bài toán khoáng sản thiết yếu, Ấn Độ đã triển khai sáng kiến thăm dò trên quy mô toàn quốc, đồng thời tung ra gói ưu đãi PLI dành riêng cho lĩnh vực sản xuất nam châm vĩnh cửu đất hiếm.
Mặt trận thứ hai là thông qua các mối quan hệ đối tác toàn cầu. Trên trường quốc tế, Ấn Độ đã ký kết hợp tác về chuỗi cung ứng bán dẫn với Nhật Bản và Mỹ, đồng thời khởi động chương trình hợp tác với Washington trong lĩnh vực khoáng sản làm pin và New Delhi cũng cùng Nhật Bản và Úc thiết lập Sáng kiến Phục hồi Chuỗi cung ứng nhằm ứng phó với các đứt gãy tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cũng như thỏa thuận với Canberra để khai thác các dự án lithium và coban. Ấn Độ cũng đang tích cực mở rộng tầm ảnh hưởng sang châu Phi, bắt tay với Zambia, Zimbabwe, Mozambique, Malawi, Côte d’Ivoire cùng nhiều quốc gia khác với mục đích đảm bảo quyền tiếp cận nguồn đất hiếm và khoáng sản thiết yếu, từ đó từng bước bẻ gãy sự thống trị của Trung Quốc trong các chuỗi cung ứng này.
Những nỗ lực này hiện đang mang lại kết quả đan xen. Một mặt, vẫn còn quá sớm để khẳng định liệu các sáng kiến vừa công bố sẽ thành công đến đâu trong việc giảm bớt sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Mặt khác, những tín hiệu tích cực đã xuất hiện, đơn cử như thỏa thuận phân bón với Ả Rập Saudi hồi tháng Bảy năm 2025, cung cấp 3,1 triệu tấn phân bón mỗi năm trong vòng 5 năm, tăng đáng kể so với mức 1,9 triệu tấn vào năm ngoái, giúp giảm bớt đòn bẩy gây áp lực của Bắc Kinh. Dẫu vậy, thực tế là một số loại phân bón nhất định hiện vẫn chỉ có thể tìm thấy từ các nhà cung cấp Trung Quốc. Tuy nhiên, những bước đi này là tiền đề quan trọng trong chiến lược rạch ròi và đa dạng hóa mà Ấn Độ đang định hình. Sau cùng, Ấn Độ có thể kiên trì thực hiện lộ trình đa dạng hóa từng bước mà vẫn duy trì hợp tác kinh tế chính là bởi họ không có các tài sản doanh nghiệp đáng kể tại Trung Quốc để Bắc Kinh có thể dùng làm “con tin” nhằm gây sức ép ngược.
Hàm ý chiến lược
Kinh nghiệm của Ấn Độ là bài học giá trị nhất cho những quốc gia phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu nhưng lại ít có tài sản doanh nghiệp tại Trung Quốc, điển hình như một số nền kinh tế Đông Nam Á. Vị thế này hoàn toàn trái ngược với các nước châu Âu, Nhật Bản hay Hàn Quốc, nơi các doanh nghiệp đã cắm rễ sâu và trở thành một phần không thể tách rời trong mạng lưới sản xuất và thị trường của Trung Quốc.
Bài học lớn hơn ở đây là: chính cấu trúc của sự phụ thuộc lẫn nhau, chứ không chỉ quy mô của nó, mới là yếu tố quyết định tính khả thi của các chiến lược. Ấn Độ có thể duy trì đối đầu quân sự tại biên giới trong khi vẫn chấp nhận lệ thuộc vào nguồn hàng Trung Quốc là bởi vị thế phụ thuộc một chiều này tạo ra một sự tổn thương bất đối xứng. Điều này không có nghĩa là rủi ro hoàn toàn biến mất, bởi Trung Quốc vẫn có thể biến chuỗi cung ứng thành vũ khí như cách họ đã làm với đất hiếm, nhưng nó làm thay đổi hoàn toàn tính toàn trả đũa và cho phép Ấn Độ thực thi những tổ hợp chính sách mà các quốc gia có sự hội nhập sâu hơn không bao giờ có thể áp dụng.
Liệu chiến lược rạch ròi và đa dạng hóa của Ấn Độ có thể duy trì bền vững hay không, tất cả còn tùy thuộc vào giai đoạn thực thi. Nếu Trung Quốc leo thang cưỡng ép kinh tế, hoặc nếu những xung đột an ninh tràn sang lĩnh vực kinh tế làm bế tắc dòng vốn đầu tư, đà tăng trưởng của Ấn Độ chắc chắn sẽ bị tổn hại. Nếu quá trình đa dạng hóa giúp giảm bớt sự lệ thuộc vào các nguồn cung cốt yếu mà vẫn giữ được dòng chảy linh kiện công nghệ từ Trung Quốc ở những nơi có lợi, Ấn Độ sẽ chứng minh được tính hiệu quả của một mô hình mới: mô hình kiểm soát đối đầu, cho phép bảo tồn động lực tăng trưởng ngay giữa tâm điểm của những căng thẳng địa chính trị.
Kết luận
Ấn Độ đã chuyển từ tiếp cập việc tách rời kinh tế khỏi an ninh trước năm 2020 đến việc đặt điều kiện biên giới có bình yên thì quan hệ mới ổn định sau sự kiện Galwan, và giờ đây là hướng tới một chiến lược rạch ròi và đa dạng hóa một mặt thừa nhận tầm quan trọng của Trung Quốc đối với đà tăng trưởng, trong khi vẫn nỗ lực kiểm soát các rủi ro về an ninh và cạnh tranh. Chiến lược này tận dụng đặc thù trong vị thế rủi ro của Ấn Độ: chỉ phụ thuộc vào nhập khẩu chứ không bị ràng buộc về tài sản doanh nghiệp ở chiều ngược lại, để theo đuổi các lựa chọn mà các nước có nền kinh tế hội nhập sâu không có được.
Trung Quốc vẫn là một nhân tố không thể thay thế đối với sự phát triển của Ấn Độ, nhưng mức độ không thể thay thế đó không chỉ do sự phụ thuộc quyết định. Bản chất của sự phụ thuộc cũng quan trọng như quy mô của nó. Kinh nghiệm của Ấn Độ cho thấy sự phụ thuộc bất đối xứng có thể tạo ra những dư địa chiến lược quý giá. Tuy nhiên, việc có tận dụng hiệu quả được dư địa đó hay không vẫn còn là một câu hỏi mở với hàm ý không chỉ cho Nam Á, mà còn là bài học cho bất kỳ quốc gia nào đang phải chèo lái giữa các cuộc đối đầu trong một thế giới gắn kết chặt chẽ—nơi mà việc cắt đứt mối quan hệ hoàn toàn là điều không khả thi và cũng chẳng ai mong muốn.
Shantanu Roy-Chaudhury là chuyên gia phân tích địa chính trị và là nghiên cứu viên thuộc chương trình David Rockefeller của Ủy ban Ba bên.
