Philippines đối mặt với năm 2026 đầy biến động

Nguồn: Derek Grossman, “The Philippines Are in for a Turbulent 2026,” Foreign Policy, 19/01/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Manila tiếp quản ghế chủ tịch ASEAN trong một năm có thể xem là thời điểm quyết định sự thành bại của khối.

Năm 2026 mang đến cho Philippines cơ hội định hình chương trình nghị sự khu vực ở một thời điểm then chốt. Vào ngày 01/01 vừa qua, Manila chính thức đảm nhận vai trò chủ tịch luân phiên hàng năm của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), trao cho Philippines quyền thiết lập chương trình nghị sự và triệu tập khối khu vực này để thảo luận các vấn đề mà họ cho là quan trọng nhất. Vì vai trò chủ tịch đi kèm với sự giám sát gắt gao, nó cũng mang theo rủi ro thực sự về việc không hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. và chính quyền của ông cần phải lèo lái qua những chia rẽ dai dẳng trong nội bộ ASEAN, đồng thời nuôi dưỡng hy vọng mong manh rằng cả Bắc Kinh lẫn Washington sẽ không làm mọi thứ phức tạp thêm. Đối với Manila, 2026 sẽ là năm “đi dây” chiến lược.

Về vấn đề an ninh – có lẽ là quan trọng nhất đối với khối, Philippines cam kết rằng, đến cuối nhiệm kỳ chủ tịch, họ sẽ hoàn tất Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) có tính ràng buộc pháp lý tại Biển Đông, nơi đang xảy ra ngày càng nhiều tranh chấp. Nhưng vấn đề là: giống như nhiều sáng kiến khác của ASEAN, COC có thể chủ yếu mang tính biểu tượng, vì văn bản này thiếu các cơ chế thực thi rõ ràng và khó có khả năng ràng buộc về mặt pháp lý. Thay vào đó, các chi tiết rò rỉ của bản dự thảo cho thấy ASEAN đang tìm cách luật hóa các biện pháp tuân thủ mới, chẳng hạn như nhu cầu đàm phán hòa bình về các tranh chấp chủ quyền; thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin và quy trình quản lý sự cố; và tiến hành giám sát chung để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ của COC.

Hơn nữa, ngay cả một thỏa thuận chỉ mang tính biểu tượng mà không có khả năng thực thi cũng có thể đối mặt với một rào cản không thể vượt qua: Bắc Kinh từ lâu đã phản đối bất kỳ cơ chế tuân thủ nào có thể hạn chế hành vi của họ. Trung Quốc đặc biệt phản đối ngôn ngữ trong dự thảo cấm xây dựng các đảo nhân tạo; sử dụng các thực thể biển như rạn san hô cho mục đích quân sự; phong tỏa và các hành động cưỡng ép khác; thiết lập các vùng nhận diện phòng không; hoặc yêu cầu thông báo trước về các cuộc tập trận quân sự. Bằng cách loại trừ các hoạt động kiểu này, Bắc Kinh đã tìm cách làm suy yếu khả năng của COC trong việc kiểm soát chính những hành vi sai trái mà các quốc gia ven biển bị ảnh hưởng muốn kiềm chế – và đây là lý do tại sao Trung Quốc vẫn ngần ngại ký vào văn bản.

Ngoài những bất đồng về nội dung, Trung Quốc khó có khả năng trao cho Philippines – kẻ thách thức mạnh mẽ nhất của họ ở Biển Đông và là đồng minh hiệp ước của Mỹ – bất kỳ thắng lợi chính trị hay biểu tượng nào trong nhiệm kỳ chủ tịch ASEAN. Thay vào đó, Bắc Kinh có lẽ sẽ tiếp tục duy trì áp lực lên chính quyền Marcos thông qua các chiến thuật vùng xám, bao gồm đâm va vào các tàu tuần tra của Manila, chiếu tia laser cấp quân sự, và tấn công bằng vòi rồng. Những hành động này nhằm củng cố cái gọi là “đường 10 đoạn” của Trung Quốc, một yêu sách rộng lớn bao trùm Eo biển Đài Loan và phần lớn Biển Đông, phần lớn chồng lấn với yêu sách của sáu quốc gia ven biển khác. Yêu sách của Trung Quốc bao gồm phần lớn vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines, theo đó vi phạm trực tiếp Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Trung Quốc còn chính thức tuyên bố chủ quyền đối với các vùng EEZ của Brunei, Malaysia, Đài Loan, và Việt Nam, và đường 10 đoạn cũng có một phần chồng lấn với EEZ của Indonesia.

Trung Quốc cũng nhìn thấy cơ hội để thử thách chính quyền Trump nhằm đánh giá sự sẵn lòng của Mỹ trong việc bảo vệ Philippines theo hiệp ước phòng thủ chung. Một điểm đáng ghi nhận là chính quyền Mỹ đã hành động nhanh chóng để ra tín hiệu ủng hộ đồng minh: Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã đến thăm Manila vào năm ngoái để công bố thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Philippines – một đội ngũ quân sự và tác chiến chung có nhiệm vụ mở rộng hợp tác và răn đe. Đồng thời, chính quyền Mỹ cũng bày tỏ mong muốn ổn định quan hệ với Bắc Kinh trước chuyến thăm dự kiến của Tổng thống Donald Trump tới Trung Quốc vào tháng 4 tới. Trong quá khứ, Trump từng tìm cách tránh đối đầu quân sự về các vấn đề mà ông xem là ngoại vi đối với lợi ích cốt lõi của Mỹ. Đáng chú ý, Chiến lược An ninh Quốc gia mới của chính quyền đã không đề cập đến Philippines – một sự thiếu vắng cho thấy các ưu tiên liên minh của Mỹ có thể đang thay đổi không chỉ ở châu Âu mà còn ở châu Á.

Bên cạnh đó, chính trị nội bộ của Manila càng làm tình hình thêm phức tạp. Dù nhiệm kỳ của Marcos kéo dài đến tận năm 2028, nhưng các quyết định được đưa ra trong nhiệm kỳ chủ tịch ASEAN có thể định hình chiến dịch tranh cử tổng thống tiếp theo. Phó Tổng thống Sara Duterte đã nổi lên như đối thủ chính trị chính của Marcos, được hậu thuẫn bởi cha bà, cựu Tổng thống Rodrigo Duterte. (Ông hiện đang bị xét xử tại La Haye vì các tội ác chống lại loài người liên quan đến chiến dịch chống ma túy giai đoạn 2016-2022 của mình). Căng thẳng chính trị giữa phe Marcos và phe Duterte cũng bao gồm những khác biệt sâu sắc về chính sách đối với Trung Quốc: Rodrigo Duterte ủng hộ sự hòa hoãn với Bắc Kinh, trong khi Marcos lại nghiêng về phía Washington. Sara Duterte cũng tỏ ra ít ngần ngại trong việc công khai thách thức chính quyền mà bà vẫn là một thành viên trong đó – một động thái có thể làm suy yếu sự gắn kết ngoại giao của Manila vào thời điểm nhạy cảm.

Các thành viên ASEAN đã hoàn tất lần đọc thứ ba và cũng là cuối cùng của văn bản COC dự thảo vào tháng 11/2024, mở đường cho việc phê duyệt. Malaysia đã không cố gắng hoàn tất COC vào năm ngoái trong nhiệm kỳ chủ tịch của mình, có lẽ vì Bắc Kinh chưa sẵn sàng và còn vì nguy cơ làm phức tạp thêm cuộc đối đầu ở Biển Đông. Dù Bắc Kinh vẫn khó có khả năng đồng ý trong năm nay, nhưng thực tế là tất cả các nước ASEAN (bao gồm cả thành viên mới nhất là Timor Leste, gia nhập năm 2025) đều ủng hộ các cơ chế tuân thủ đã mang lại cho Manila lợi thế. Tuy nhiên, thất bại trong việc đảm bảo sự đồng thuận của Trung Quốc sẽ đặt ra những câu hỏi khó chịu về khả năng của ASEAN trong việc thúc đẩy các mục tiêu an ninh tham vọng nhất của khối.

Cuộc nội chiến đang diễn ra ở Myanmar đặt ra một thách thức quan trọng khác cho Manila trong năm nay. Chế độ quân sự đang tiến hành các cuộc bầu cử toàn quốc mà hầu hết các quan sát viên bên ngoài cho là gian lận và được thiết kế để củng cố quyền lực của họ. Một kịch bản khả dĩ là một nhóm các thành viên ASEAN sẽ công nhận kết quả bầu cử, trong khi các thành viên khác thì không, theo đó gây ra chia rẽ nội khối và gây áp lực lên Philippines trong việc duy trì sự đoàn kết.

Cho đến nay, Manila vẫn chưa hoàn thành tốt trách nhiệm ngoại giao của mình đối với vấn đề Myanmar. Theo Đồng thuận Năm điểm năm 2021, chủ tịch ASEAN có nhiệm vụ bổ nhiệm một đặc phái viên để tiếp xúc với cả chính quyền quân sự lẫn các nhà lãnh đạo dân sự bị giam giữ – và dù Philippines đã bổ nhiệm đặc phái viên là Ngoại trưởng Maria Theresa Lazaro, nhưng bà mới chỉ gặp các quan chức của chế độ. Các nhà phê bình cho rằng sự can dự của bà có nguy cơ hợp thức hóa chính quyền quân sự trong khi gạt phe đối lập ra bên lề. Dù một số thành viên ASEAN cũng lựa chọn cách tiếp cận tương tự, nhưng Philippines – với tư cách là một nền dân chủ – bị đòi hỏi các tiêu chuẩn cao hơn. Một cách tiếp cận cân bằng hơn, bao gồm việc tiếp xúc với các nhân vật đối lập, có thể là cần thiết để bảo vệ uy tín của ASEAN.

Việc các thành viên ASEAN tấn công lẫn nhau cũng sẽ thử thách khả năng lãnh đạo của Manila. Các cuộc đụng độ biên giới giữa Campuchia và Thái Lan hồi năm ngoái là một trong những vụ bạo lực nhất trong nhiều thập kỷ, và lệnh ngừng bắn được ký vào cuối năm ngoái vẫn còn mong manh. Nếu giao tranh tái diễn, sẽ đến lượt Philippines chứng minh liệu ASEAN có thể quản lý các xung đột quân sự giữa các thành viên của mình mà không cần dựa vào các cường quốc bên ngoài hay không, như cách Malaysia đã làm khi Mỹ và sau đó là Trung Quốc can thiệp để làm trung gian giải quyết xung đột Campuchia-Thái Lan.

Môi trường chiến lược rộng lớn hơn có lẽ còn khó quản lý hơn nữa. Nhiều quốc gia ASEAN hoan nghênh sự can dự an ninh của Mỹ trong khu vực để cân bằng với Trung Quốc, nhưng họ lại vô cùng thất vọng trước việc chính quyền Trump áp đặt mức thuế quan cao. Hàng hóa Philippines hiện phải đối mặt với mức thuế 19% tại Mỹ, một tỷ lệ cao đáng ngạc nhiên xét đến việc họ là đồng minh hiệp ước lâu năm. Những nỗ lực năm ngoái nhằm tạo ra một lập trường thống nhất và chiến lược đàm phán chung của ASEAN đã sụp đổ, khiến các thành viên phải theo đuổi các thỏa thuận song phương riêng lẻ với Washington. Quả thực, thật khó để hình dung Manila thành công ở nơi mà Kuala Lumpur đã thất bại.

Hơn nữa, sự lãnh đạo và tham gia của Mỹ trong các nhóm như Bộ Tứ (Quad), AUKUS, và khuôn khổ Pax Silica mới hơn – bao gồm cả Singapore – đang nuôi dưỡng những lo ngại rằng sự tập trung ngày càng tăng của Washington vào an ninh sẽ khiến cuộc đấu tranh để biến ASEAN thành một tác nhân khu vực hiệu quả hơn trở nên khó khăn hơn. Tuy nhiên, Philippines nhìn chung ủng hộ các sáng kiến an ninh như vậy. Là một trong hai đồng minh hiệp ước của Mỹ tại Đông Nam Á, Manila có thể gặp khó khăn trong việc giải thích sự ủng hộ của mình đối với các thỏa thuận này cho các nước láng giềng, đặc biệt là trong bối cảnh các cuộc tập trận và tuần tra quân sự mở rộng mà các cường quốc ngoài ASEAN đang tiến hành ở Biển Đông, đôi khi là trực tiếp thay mặt cho Philippines, và nguy cơ đối đầu cao hơn với Trung Quốc.

Cùng lúc đó, Bắc Kinh tiếp tục mở rộng ảnh hưởng của mình trên khắp khu vực. Một số thành viên ASEAN đã làm sâu sắc thêm quan hệ với các tổ chức do Trung Quốc dẫn đầu, bao gồm BRICS – mà Indonesia đã trở thành thành viên chính thức vào năm ngoái – và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Thông qua Sáng kiến Vành đai và Con đường, Trung Quốc đã tận dụng đầu tư cơ sở hạ tầng để xây dựng thiện chí chính trị khắp Đông Nam Á. Bắc Kinh cũng tận dụng quan ngại ngày càng tăng trong khu vực về các mức thuế quan của chính quyền Trump. Ngay sau khi Trump công bố mức thuế vào tháng 4 năm ngoái, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đến thăm Việt Nam, cam kết tránh các cuộc chiến thuế quan, tăng cường ổn định khu vực và thúc đẩy các quan hệ có thể dự đoán được. Giờ đây, Bắc Kinh đã bám rễ sâu vào Đông Nam Á hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử gần đây.

Một sự hòa hoãn bền vững giữa Mỹ và Trung Quốc cũng vẫn có khả năng xảy ra, mang lại những ý nghĩa chiến lược quan trọng cho ASEAN và nhiệm kỳ chủ tịch của Manila. Trump đã nhiều lần ra tín hiệu quan tâm đến việc cải thiện quan hệ với Bắc Kinh, và chuyến thăm sắp tới của ông có thể làm rõ cách tiếp cận của chính quyền Mỹ. Quan hệ được cải thiện có thể giảm bớt ma sát trong hoạt động giữa các lực lượng Mỹ và Trung Quốc, mang lại lợi ích cho sự ổn định khu vực. Nhưng chúng cũng có thể làm suy yếu các mục tiêu của Manila. Nếu Bắc Kinh kết luận rằng một sự sắp xếp mới, hòa hoãn hơn với Washington mang lại cho họ nhiều không gian để hành động quyết đoán trong EEZ của Philippines, họ có thể sẽ càng ít có xu hướng chấp nhận một COC ràng buộc hạn chế hành động của mình hơn so với hiện nay.

Philippines lên đảm nhận ghế chủ tịch ASEAN vào một thời điểm địa chính trị đầy căng thẳng. Thành công không phải là ngoài tầm với: Manila đã có một văn bản dự thảo COC được thống nhất, các lựa chọn để điều chỉnh lại chính sách ngoại giao với Myanmar, và các tranh chấp khu vực có thể quản lý được. Tuy nhiên, thất bại sẽ mang lại những hệ quả sâu rộng. Nếu Philippines không thể thúc đẩy các sáng kiến an ninh quan trọng nhất của ASEAN dưới áp lực liên tục của Trung Quốc và với sự hậu thuẫn không chắc chắn của Mỹ, điều đó có thể báo hiệu rằng trật tự khu vực do ASEAN dẫn dắt đã chạm tới giới hạn. Đơn giản thì, trong năm 2026, sự thể hiện của Manila sẽ có ý nghĩa quan trọng vượt xa biên giới của chính họ.

Derek Grossman là giáo sư khoa học chính trị và quan hệ quốc tế tại Đại học Nam California, nhà sáng lập và nhà phân tích chính của công ty tư vấn Indo-Pacific Solutions. Ông từng làm việc tại Rand Corp và là cựu cố vấn tình báo của Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về các vấn đề an ninh Châu Á và Thái Bình Dương.