Tại sao Trung Quốc sẽ không giúp Iran?

Nguồn: Yun Sun, “Why China Won’t Help Iran”, Foreign Affairs, 05/03/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Trung Quốc đang quan sát vô cùng cẩn trọng khi Mỹ và Israel oanh tạc Iran. Suy cho cùng, Bắc Kinh chính là đối tác quan trọng nhất của Tehran. Hai quốc gia này đã trở nên gần gũi nhờ lịch sử và những mục tiêu chung: cả hai đều truy nguyên nguồn gốc từ các nền văn minh cổ đại hàng đầu ngoài phương Tây, và ngày nay cả hai đều phản đối một trật tự toàn cầu do phương Tây thống trị. An ninh năng lượng của Trung Quốc cũng gắn liền với mối quan hệ với Iran. Hơn 55% tổng lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc trong năm 2025 đến từ Trung Đông (khoảng 13% đến từ chính Iran), phần lớn trong số đó phải đi qua eo biển Hormuz, tuyến đường thủy hẹp giáp ranh với Iran. Do chiến dịch ném bom gần đây sẽ làm gián đoạn nguồn cung dầu của Iran và có thể làm suy yếu việc sản xuất dầu tại các quốc gia vùng Vịnh, và bởi nó có khả năng đe dọa khả năng vận chuyển dầu từ khu vực này của Bắc Kinh, một số nhà phân tích đã suy đoán rằng Bắc Kinh sẽ ra tay hỗ trợ Tehran—hoặc bằng can thiệp quân sự trực tiếp hoặc ít nhất là hỗ trợ vật chất như thiết bị và linh kiện lưỡng dụng, tương tự như những gì Trung Quốc đã cung cấp cho Nga trong cuộc chiến Ukraine.

Nhưng mặc dù Trung Quốc đang lo ngại, họ khó có khả năng can dự sâu. Sau cuộc chiến kéo dài 12 ngày của Israel chống lại Iran vào tháng 6 năm 2025, Trung Quốc chỉ đưa ra những phát ngôn ngoại giao mang tính khuôn mẫu nhằm ủng hộ nước Cộng hòa Hồi giáo. Tương tự, trong các nhận định tại buổi họp báo chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuần này, ngôn từ gay gắt nhất mà bộ này sẵn sàng sử dụng là lên án đối với vụ ám sát lãnh tụ tối cao của Iran, Ayatollah Ali Khamenei, thay vì lên án toàn bộ chiến dịch chống lại Iran. Việc Trung Quốc kêu gọi “các bên liên quan chấm dứt các chiến dịch quân sự”—một yêu cầu bao gồm cả Iran cũng như Mỹ và Israel—và sự ủng hộ mạnh mẽ của họ đối với việc tôn trọng “chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ” của các quốc gia vùng Vịnh cho thấy Trung Quốc đang cố gắng giữ mối quan hệ tốt đẹp với các nước trong vùng Vịnh cũng như với Iran.

Cách tiếp cận đứng ngoài cuộc đối với Iran này đã hình thành từ lâu. Kể từ ngày 7 tháng 10 năm 2023, khi Hamas tấn công Israel, Bắc Kinh ngày càng trở nên vỡ mộng về năng lực và uy tín của Tehran với tư cách là một cường quốc khu vực. Các nhà chiến lược Trung Quốc cũng mất niềm tin vì những gì họ coi là xu hướng của Iran trong việc đầu hàng trước các yêu sách của phương Tây, thay vì đánh trả, điều thể hiện qua mong muốn kiên trì đàm phán với Washington. Cuối cùng, Bắc Kinh không xem việc thay đổi chế độ ở Iran là kịch bản tồi tệ nhất. Trung Quốc sẵn sàng làm việc với bất kỳ ban lãnh đạo nào xuất hiện sau các cuộc không kích miễn là chính quyền đó bảo vệ dòng chảy dầu mỏ và ưu tiên các lợi ích kinh tế chung. Chỉ khi những lợi ích này bị đe dọa, hoặc nếu một cuộc chiến tiêu hao kéo dài làm gián đoạn việc vận chuyển dầu qua eo biển Hormuz, Bắc Kinh mới phải cân nhắc lại vị thế đứng ngoài của mình và phản ứng mạnh mẽ hơn.

Thất sủng

Chiến lược đối với Iran của Trung Quốc từ lâu đã dựa trên giả định rằng quốc gia này có thể là một bàn đạp cho các lợi ích của Bắc Kinh ở Trung Đông. Vào năm 2021, để nhấn mạnh sự hợp tác ngày càng tăng, hai nước đã ký kết một hiệp ước hợp tác chiến lược kéo dài 25 năm trị giá 400 tỷ USD nhằm củng cố các mối quan hệ kinh tế và an ninh. Nhưng rất ít dự án được dự liệu trong hiệp ước thành hiện thực do Tehran lo ngại rằng ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ làm tổn hại đến chủ quyền và nền độc lập của Iran, đồng thời Bắc Kinh cũng trở nên thất vọng trước sự thiếu nhất quán và không đáng tin cậy của Tehran. Quan trọng nhất, Trung Quốc đã xác định rằng quyền lực và uy tín cách mạng của Iran đều bị thổi phồng. Iran có dân số gấp mười lần Israel và gấp ba lần Ả Rập Saudi, nhưng GDP của nước này lại thấp hơn 90% so với Israel và chỉ bằng 25% so với Ả Rập Saudi. Theo đánh giá của Bắc Kinh, Iran đã sử dụng các cuộc chiến ủy nhiệm và chiến tranh bất đối xứng để răn đe đối thủ, điều này làm thổi phồng năng lực và che đậy những điểm yếu nội tại của họ.

Trung Quốc cũng nhìn thấy sự không ăn nhập giữa mục tiêu chiến lược lãnh đạo một cuộc cách mạng Hồi giáo của Iran và các điều kiện cần thiết để đạt được nó. Theo bình luận công khai và phân tích của Ngưu Tân Xuân, Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu Trung Quốc-Ả Rập tại Đại học Ninh Hạ, hệ tư tưởng Hồi giáo của chế độ Iran ngăn cản các thỏa hiệp và nhượng bộ đối với Mỹ trong các vấn đề chính trị và hạt nhân. Nhưng do các lệnh trừng phạt gây tê liệt, một mối quan hệ tốt hơn với Mỹ là điều kiện tiên quyết cơ bản để Iran cải thiện nền kinh tế, phát triển sức mạnh và giảm bớt áp lực bên ngoài đang cản trở cải cách trong nước. Iran do đó bị mắc kẹt giữa sự phản đối Mỹ và nhu cầu đạt được một thỏa thuận với Washington, giữa nguồn gốc bảo thủ về mặt thần học và nhu cầu cải cách.

Hơn nữa, theo quan điểm của nhiều nhà phân tích Trung Quốc, Iran đã không thể hiện đủ quyết tâm để trực tiếp đối đầu với kẻ thù. Chẳng hạn, khi Mỹ ám sát Qasem Soleimani, tướng quân đội hàng đầu của Iran vào năm 2020, và khi Israel tấn công đại sứ quán Iran tại Syria vào năm 2024, sự trả đũa của Tehran đối với các căn cứ của Mỹ ở Iraq và Israel bị coi là không tương xứng. Nhiều quan sát viên Trung Quốc cũng nhận thấy phản ứng của Iran đối với cuộc chiến 12 ngày, bao gồm cả việc đưa ra cảnh báo trước cho Qatar và Mỹ trước khi phóng tên lửa, là yếu ớt và kém hiệu quả một cách quá mức. Cư dân mạng Trung Quốc đã chế giễu các phản ứng của Iran là “trả đũa cho có lệ”. Sự bi quan về số phận của Iran hiện đã ăn sâu vào các đánh giá của Trung Quốc về Trung Đông: trong cuộc khủng hoảng hiện tại, những người định hướng dư luận Trung Quốc như học giả nổi tiếng Hồ Tích Tiến đã than thở về vũng lầy mà Iran và người dân nước này đang phải đối mặt và đổ lỗi cho Tehran đã dẫn dắt đất nước rơi vào đó.

Cách đối xử của Iran với các lực lượng ủy nhiệm của mình càng làm suy yếu niềm tin của Trung Quốc. Kể từ năm 2023, các nhóm này đã bị nhắm mục tiêu và xóa sổ lần lượt từng nhóm một. Chẳng hạn, lực lượng Israel đã tiêu diệt Hamas và Hezbollah, nhưng Iran đã không cung cấp được sự hỗ trợ có ý nghĩa hoặc trả đũa hiệu quả. Bắc Kinh đã theo dõi trong sự ngỡ ngàng vào tháng 12 năm 2024 khi Phó Tổng thống Iran Mohammad Zarif phủ nhận mối quan hệ của quốc gia này với các nhóm ủy nhiệm trong khu vực—cái gọi là trục kháng chiến—và tuyên bố rằng Iran không có quyền kiểm soát đối với hành động của họ. Sau đó, vào tháng 4 năm 2025, Iran đã sơ tán quân nhân của mình khỏi Yemen giữa lúc chiến dịch ném bom của Mỹ đang diễn ra, điều này đồng nghĩa với việc bỏ rơi các đồng minh Houthi của mình để tránh làm tăng căng thẳng với Washington và nuôi hy vọng nối lại các cuộc đàm phán với Mỹ.

Bắc Kinh cũng thất vọng trước những thất bại trong nước của chế độ Iran. Mặc dù truyền thông nhà nước Trung Quốc kiềm chế việc công khai chỉ trích chế độ này, nhưng cộng đồng chính sách Trung Quốc tập trung vào Trung Đông hoàn toàn nhìn nhận rõ ràng về những quyết định sai lầm, tình trạng tham nhũng tràn lan và quản trị kém cỏi ở Tehran. Khả năng Israel thâm nhập vào bộ máy an ninh Iran, điều đã cho phép họ nhắm mục tiêu hiệu quả vào các lãnh đạo quân sự và các nhà khoa học hạt nhân của Iran trong cuộc chiến 12 ngày, cho thấy nhiều quan chức Iran không tin tưởng vào hệ thống của họ và sẵn sàng bán đứng đất nước. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nghi ngờ về khả năng tồn tại của một nhà nước Iran mà chính các quan chức của họ cũng không còn niềm tin.

Sự vỡ mộng của Trung Quốc đối với các nhà lãnh đạo Iran đồng nghĩa với việc Bắc Kinh vốn không phản đối sự thay đổi chế độ. Bởi ưu tiên của họ là đảm bảo Iran vẫn là một đối tác kinh tế khả thi, họ không quá bận tâm về việc ai cầm quyền. Trên thực tế, nếu các cuộc tấn công của Mỹ và Israel hạn chế được các tham vọng quân sự bất hảo của Iran và quốc gia này định vị lại mình như một cường quốc kinh tế ở Trung Đông, thì đó có thể là một tương lai mà Trung Quốc hoan nghênh.

Bắc Kinh cũng khó có khả năng cố gắng hậu thuẫn cho chế độ Iran vì mối quan hệ của Trung Quốc với Mỹ. Tổng thống Donald Trump và nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình dự kiến sẽ gặp nhau vào cuối tháng 3—một cuộc gặp mang theo triển vọng về một thỏa thuận lớn tiềm năng giữa Mỹ và Trung Quốc có thể dẫn đến một sự hạ nhiệt thực sự sau tám năm cạnh tranh giữa các cường quốc đầy mệt mỏi. Bắc Kinh không muốn một cuộc chiến ở Trung Đông làm chệch hướng nỗ lực hợp tác với Trump.

Thay đổi toan tính

Mối quan tâm của Trung Quốc đối với Iran trước hết là về an ninh năng lượng. Mặc dù Trung Quốc đã đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và đầu tư mạnh mẽ vào than, năng lượng mặt trời, gió và hạt nhân—năng lượng tái tạo đã vượt qua dầu mỏ để trở thành nguồn tiêu thụ năng lượng lớn thứ hai của Trung Quốc sau than đá vào năm 2025—dầu mỏ vẫn đóng một vai trò không thể thay thế trong nền kinh tế của nước này. Trung Quốc vẫn dựa vào dầu nhập khẩu để cung cấp nhiên liệu cho máy bay phản lực, vận hành các tàu biển và sản xuất hóa dầu. Trung Quốc được ước tính có từ 1,3 đến 1,4 tỷ thùng dầu dự trữ, tương đương khoảng 30% lượng nhập khẩu của năm 2025, đủ để chịu đựng sự gián đoạn vận chuyển ngắn hạn từ Trung Đông nhưng không thể kéo dài.

Một điều Trung Quốc lo lắng—và là điều có thể làm thay đổi các tính toán của Bắc Kinh và buộc họ phải rời khỏi vị thế đứng ngoài cuộc—là việc đóng cửa eo biển Hormuz, hành động sẽ cắt đứt hơn một nửa lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc. Các giám đốc điều hành dầu mỏ và các chuyên gia Trung Đông của Trung Quốc từ lâu đã bác bỏ khả năng xung đột khu vực dẫn đến việc đóng cửa lâu dài các tuyến đường vận tải biển. Họ lập luận rằng nếu chiến tranh ở Trung Đông làm gián đoạn việc vận chuyển dầu qua eo biển, nó sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu và một giải pháp tập thể sẽ nhanh chóng xuất hiện. Chẳng hạn, trong cuộc chiến 12 ngày, các chuyên gia Trung Quốc đã bác bỏ ý định đóng cửa eo biển Hormuz của Iran vì họ tin rằng điều đó sẽ gây thù chuốc oán với toàn bộ vùng Vịnh và cắt đứt doanh thu của chính Iran. Bắc Kinh đã sử dụng lập luận này để bác bỏ những lời kêu gọi trong nước—và sự suy đoán của phương Tây—về việc có thể xây dựng sự hiện diện quân sự của Trung Quốc trong khu vực.

Giả định rằng các nhà sản xuất và tiêu dùng năng lượng toàn cầu sẽ không để khu vực này tan rã hiện đang bị đưa ra thử thách. Bắc Kinh đang gây sức ép với Tehran để giữ cho eo biển Hormuz mở cửa và tránh thực hiện bất kỳ biện pháp nào có thể làm gián đoạn việc vận chuyển năng lượng. Nếu nguồn cung cấp dầu của Trung Quốc từ khu vực này bị đe dọa, họ có thể chuyển sang các nhà cung cấp thay thế, đặc biệt là Nga, hiện là nguồn cung cấp hơn 17% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh không thoải mái với việc quá phụ thuộc vào bất kỳ nhà cung cấp đơn lẻ nào vì họ lo sợ một sự gián đoạn lớn khác đối với nguồn cung của mình.

Một thử thách thậm chí còn lớn hơn đối với Trung Quốc sẽ là một cuộc chiến kéo dài. Nếu chế độ Iran chịu đựng được sự oanh tạc của Mỹ và Israel và gây ra thiệt hại thực sự trong các cuộc phản công của mình, nó sẽ tạo ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan cho Bắc Kinh. Nếu Tehran từ bỏ xu hướng đầu hàng, chiến đấu trở lại và sống sót, Trung Quốc sẽ khó lòng đứng sang một bên và từ chối hỗ trợ cho chế độ này. Iran vẫn là đối tác khu vực then chốt của Trung Quốc. Việc từ chối cung cấp hỗ trợ ngay cả khi Iran thể hiện quyết tâm và khả năng chịu đựng các cuộc tấn công sẽ bộc lộ sự thiếu cam kết của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc tham gia, sự hỗ trợ của họ dành cho Tehran có thể phản ánh những gì họ đã làm để giúp Nga trong cuộc chiến Ukraine: cung cấp vật tư công nghệ và linh kiện lưỡng dụng, chẳng hạn như drone; thu mua dầu của Iran; và cung cấp hỗ trợ công nghệ để xây dựng ngành công nghiệp quốc phòng địa phương của Iran.

Chế độ này cầm cự càng lâu, Trung Quốc sẽ càng phải vào cuộc và hỗ trợ nó, điều có thể kéo dài cuộc chiến hơn nữa. Nhưng nếu chế độ sụp đổ nhanh chóng như chính quyền Bashar al-Assad ở Syria, hoặc tình hình nhanh chóng ổn định như những gì đã diễn ra sau khi Nicolás Maduro của Venezuela bị phế truất, Bắc Kinh khó có khả năng bận tâm về kết quả đó. Trung Quốc đã mất niềm tin vào ban lãnh đạo của Iran. Điều quan trọng bây giờ là tìm cách làm việc với những người nắm giữ quyền lực tiếp theo để giữ cho dòng dầu từ Trung Đông tiếp tục chảy.

YUN SUN là Giám đốc Chương trình Trung Quốc tại Trung tâm Stimson.