Khi Mỹ mượn văn minh Hy Lạp để kéo châu Âu “cùng thuyền”

Nguồn: Đới Duy Lai, 戴维来| 雅典归来:我在鲁比奥深情演讲背后看见了什么 , Sohu, 12/10/2026.

Biên dịch: Lê Thị Thanh Loan

“Athens đã ươm mầm cho nền dân chủ. Plato và Aristotle đã mang đến cho chúng ta triết học phương Tây. Hiểu biết của chúng ta về pháp luật, mỹ đức, tư cách công dân và thể chế cộng hòa đều bắt nguồn từ các thành bang Hy Lạp. Cho đến rất nhiều thuật ngữ chính trị của chúng ta – như dân chủ, bạo chính, và bản thân từ ‘chính trị’ – cũng đều khởi nguồn từ đây.”

Khi Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio phát biểu những lời này trên ngọn đồi Pnyx ở Athens, phía sau ông là Đền Parthenon đang tắm mình trong ánh hoàng hôn. Địa điểm này rõ ràng đã được lựa chọn kỹ lưỡng: Đồi Pnyx là một trong những biểu tượng quan trọng của nền dân chủ Hy Lạp cổ đại, nơi từng diễn ra Hội đồng Công dân Athens cổ đại và được cho là nơi các nhà chính trị kiệt xuất như Pericles hay Demosthenes từng diễn thuyết.

Điều khiến người ta ít nhiều ngỡ ngàng là ngay từ đầu, bài phát biểu của Rubio đã tràn ngập những hoài niệm về nền văn minh phương Tây khởi nguồn từ Hy Lạp. Điều này hoàn toàn trái ngược với thái độ xa cách của chính quyền Trump đối với quan hệ xuyên Đại Tây Dương, đồng thời cho thấy Rubio cố ý thể hiện mong muốn tái quy tụ phương Tây quanh một sự đồng thuận về nền văn minh.

Chỉ một tuần trước khi Rubio hết lời ca ngợi nền dân chủ phương Tây, một cuộc thảo luận hoàn toàn khác đã diễn ra: Diễn đàn Dân chủ Athens lần thứ 14 được tổ chức từ ngày 29/9 đến 1/10. Với tư cách đơn vị đồng tổ chức, tờ The New York Times đã đứng ra tổ chức phiên tranh luận khai mạc. Chủ đề của diễn đàn năm nay là: “Liệu nền dân chủ còn có thể ứng phó với những thách thức hiện tại?” Khác với cảm xúc dạt dào mà Rubio thể hiện, bản thân chủ đề này đã phản ánh cuộc khủng hoảng quản trị mà nội bộ phương Tây đang trải qua, cũng như nỗi âu lo đối với thể chế dân chủ của chính họ. Đáng chú ý, diễn đàn lần này đã mời Giáo sư Trương Duy Vi (Zhang Weiwei) – người lâu nay vốn luôn giữ quan điểm phê phán đối với mô hình dân chủ phương Tây – tham gia diễn thuyết và tranh biện. Tôi cũng có cơ hội đi cùng đoàn tham dự diễn đàn.

Chỉ trong vòng một tuần, hai hình thức tự vấn khác nhau của phương Tây đã xuất hiện tại cùng một thành phố. Một cách nhìn đến từ giới học thuật, truyền thông và chính giới Mỹ – châu Âu, khi họ liên tục truy vấn tại diễn đàn rằng nền dân chủ đang gặp phải vấn đề gì. Cách nhìn còn lại đến từ Ngoại trưởng Mỹ: Đứng trước những di tích cổ, ông kêu gọi châu Âu khơi lại ngọn lửa nhiệt huyết, đồng thời cảnh báo rằng: “Hoặc hành động ngay lúc này, hoặc sẽ hoàn toàn đánh mất khả năng lựa chọn hành động.”

Nhiều ý kiến bình luận cho rằng bài phát biểu lần này của Rubio rất giàu cảm xúc. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ toàn văn, có thể nhận thấy bài phát biểu này không đơn thuần là một lời “tỏ tình” dành cho châu Âu, mà còn trình bày một cách hệ thống về cách nhìn của chính quyền Trump hiểu về phương Tây, châu Âu và mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương. Muốn hiểu được lối tư duy này, có lẽ cần đặt bài phát biểu của Rubio bên cạnh bài phát biểu mà Phó Tổng thống J. D. Vance đưa ra tại Munich.

Vance hỏi: “Các vị đang bảo vệ điều gì?”. Rubio đáp: “Nền văn minh phương Tây.”

Trước hết, hãy cùng nhìn lại bài phát biểu nổi tiếng của Vance tại Hội nghị An ninh Munich.

Tháng 2 năm 2025, Vance tham dự Hội nghị An ninh Munich với tư cách Phó Tổng thống Mỹ. Bằng giọng điệu dân túy bảo thủ, thẳng thừng và sắc bén, ông công khai chỉ trích giới tinh hoa đương quyền châu Âu có mặt bên dưới. Ông nói, điều khiến mình lo ngại nhất về châu Âu “không phải là Nga, không phải Trung Quốc, cũng không phải bất kỳ chủ thể bên ngoài nào”, mà là “mối đe dọa đến từ bên trong” – tức việc châu Âu đang đi chệch khỏi những giá trị nền tảng mà họ cùng chia sẻ với Mỹ.

Ngay lại hội nghị, Vance thẳng thừng chỉ trích việc Romania hủy bỏ kết quả bầu cử tổng thống và cách các thể chế EU quản lý mạng xã hội, đồng thời đích danh cáo buộc Anh, Đức, Thụy Điển và một số nước khác đã kết án, thậm chí bắt giữ những người phản đối phá thai, những người có quan điểm tôn giáo khác biệt và người dùng mạng, dưới danh nghĩa chống “thông tin sai lệch” và “ngôn từ thù ghét”. Ông cũng phản đối việc các đảng phái chính thống dựng lên một “bức tường lửa” nhằm ngăn đảng Sự lựa chọn vì nước Đức (AfD). Vance còn đưa ra một câu chất vấn ngược mà đến nay vẫn thường xuyên được trích dẫn: “Tôi đã nghe rất nhiều về những thứ mà các ông muốn đề phòng, nhưng rốt cuộc thì các ông đang bảo vệ điều gì?”

Bài phát biểu này khi đó đã gây chấn động lớn tại châu Âu. Các cơ quan truyền thông như Die Welt, Frankfurter Allgemeine Zeitung của Đức và Financial Times của Anh cho rằng bài phát biểu đánh dấu việc những bất đồng về ý thức hệ giữa Mỹ và châu Âu đã chính thức bộc lộ công khai. Nhiều quan chức châu Âu chỉ trích Vance vì can thiệp vào công việc nội bộ của châu Âu. Tuy nhiên, cũng có một số người thuộc phe bảo thủ châu Âu cho rằng ông đã nói lên tiếng lòng của một bộ phận cử tri châu Âu.

Một năm sau, vào tháng 2 năm 2026, Rubio bước lên chính bục diễn thuyết ấy, nhưng với một giọng điệu hoàn toàn khác. Ông nói: “Mái nhà của chúng ta có thể nằm ở Tây Bán cầu, nhưng chúng ta mãi mãi là đứa con của châu Âu.” Ông điểm từ Dante, Shakespeare đến Mozart, Beethoven, từ Nhà nguyện Sistine đến Nhà thờ lớn Cologne, cho tới cả The Beatles và The Rolling Stones. Tiếng vỗ tay phía dưới hội trường kéo dài không dứt, nhiều người đứng dậy bày tỏ sự tán thưởng. Sau sự kiện, von der Leyen cho biết bà cảm thấy “rất yên tâm”.

Tám tháng sau, tại Athens, Rubio tiếp tục đào sâu chủ đề này. Ngay khi mở đầu bài phát biểu, ông nói rằng trên khắp thế giới có rất nhiều di tích vĩ đại, trong đó không ít nơi “dường như là điểm kết thúc của lịch sử”, là tàn tích của những nền văn minh xa xưa đã vượt khỏi ký ức nhân loại. Nhưng Đền Acropolis ở Athens thì khác.

Ông kể về việc người Ba Tư đốt phá Acropolis vào năm 480 trước Công nguyên, về việc người Athens xây dựng lại nơi này trên đống đổ nát, rồi đến thời Pericles, đền Parthenon được hoàn thành. Ông nói về tinh thần thumos của người Hy Lạp – tức “ngọn lửa của đam mê, sức mạnh, dũng khí và niềm tự hào”, nói về “cá tính mạnh mẽ cùng hoài bão không ngừng nghỉ”, nói về khát khao phát kiến, mạo hiểm, dấn thân vào rủi ro và vinh quang. Ông cũng nhắc đến Socrates – người thà chết chứ không từ bỏ sự thật, 300 chiến binh Sparta chiến đấu đến người cuối cùng, và Achilles – người chọn ở lại Troy để truy cầu vinh quang bất tử.

Để kéo gần khoảng cách với dòng chảy lịch sử này, Rubio xúc động nói: “Tôi đứng đây hôm nay, với tư cách là Ngoại trưởng của nền cộng hòa này, với tư cách là chắt của những người di cư từ Tây Ban Nha đến Tân Thế giới. Tôi đứng đây là để làm minh chứng cho một món nợ ân tình mà dù thời gian trôi qua hay khoảng cách muôn trùng cũng không thể xóa nhòa.”

Đặt những đoạn này cạnh nhau, có thể thấy Rubio thực chất đang trả lời câu hỏi của Vance. Vance hỏi châu Âu: “Rốt cuộc thì các ông đang bảo vệ điều gì?”. Câu trả lời của Rubio là: Một nền văn minh chung. Như chính Rubio nói: “Chúng ta ngày nay phải bảo vệ nền văn minh này với tất cả nhiệt huyết, như cách tổ tiên của chúng ta đã làm.” Bằng một tập hợp diễn ngôn được kể theo cách ôn hòa hơn và có vẻ bao dung hơn – rằng Mỹ và châu Âu “cùng nhau bảo vệ nền văn minh cổ điển phương Tây” – Rubio đang tìm cách hàn gắn liên minh Mỹ – châu Âu.

Hai hình thái “châu Âu”: Thay lãnh đạo hay thay linh hồn?

Truyền thông châu Âu thường dùng hình ảnh “cảnh sát tốt – cảnh sát tồi” (good cop – bad cop) để mô tả thái độ của hai nhân vật chủ chốt của Mỹ này đối với châu Âu. Thế nhưng sự khác biệt giữa hai người không chỉ dừng lại ở giọng điệu, mà còn ở cách hiểu của họ về câu hỏi “Châu Âu là gì?”.                   .

Điều Vance chủ yếu nói đến là châu Âu ở phương diện thể chế và chính trị. Ông quan tâm đến tự do ngôn luận, kết quả bầu cử và việc thể hiện ý chí của công chúng; đối tượng bị ông chỉ trích chủ yếu là một số chính sách hiện hành và các đảng phái đương quyền tại châu Âu. Đây đều là những yếu tố thuộc phần “lớp da” của châu Âu, có thể thay đổi theo các cuộc bầu cử và sự điều chỉnh chính sách. Hàm ý trong lập luận của Vance là chỉ cần châu Âu thay một chính phủ cánh hữu, châu Âu sẽ có thể trở lại đúng quỹ đạo của liên minh Mỹ – châu Âu.

Trong khi đó, Rubio lại bàn về châu Âu ở chiều kích phả hệ lịch sử và diễn ngôn văn minh. Tại Athens, ông mô tả người Mỹ là những người “sinh ra ở Athens, được nhào nặn bởi Rome, rửa tội trong thế giới Kitô giáo, tôi luyện trong lò luyện châu Âu thời Trung cổ, mang bản tính truy cầu tự do của người Anh, và rồi băng qua Đại Tây Dương để tái sinh trên bờ cõi Tân Thế giới.” Ông quy mối liên kết Mỹ – châu Âu về một lịch sử, đức tin Kitô giáo, văn hóa, di sản, ngôn ngữ và huyết thống chung. Trong cách diễn đạt của Rubio, Mỹ không phải là một vị quan tòa đứng trên cao phán xét châu Âu, mà là người kế thừa nền văn minh châu Âu. Cách nói này nghe rất đỗi ấm áp, nên đương nhiên dễ được người châu Âu đón nhận hơn.

Tuy nhiên, nếu đặt hai bài phát biểu cạnh nhau, ta sẽ thấy những điều Rubio phủ định thậm chí còn nhiều hơn Vance.

Vance chỉ trích các chính sách cụ thể như kiểm soát ngôn luận, chính sách nhập cư hay việc phong tỏa các đảng phái dân túy – những điều chỉ cần thay đổi một bộ máy chính quyền là có thể điều chỉnh về cơ bản.

Rubio thì chạm đến một tầng sâu hơn. Tại Munich, ông nói rằng liên minh mà Mỹ mong muốn không phải là một liên minh dùng để vận hành nhà nước phúc lợi toàn cầu và chuộc lại những tội lỗi mà các thế hệ trước được cho là đã gây ra. Đến Athens, ông diễn đạt rõ hơn: “Người phương Tây chúng ta bắt đầu cảm thấy xấu hổ về những phẩm chất khiến chúng ta khác biệt… Bằng cách nào đó, sự thịnh vượng của chúng ta lại trở thành nguồn gốc của cảm giác tội lỗi”; “từ ‘chủ nghĩa dân tộc’ đã trở thành một từ mang nghĩa tiêu cực. Vì thế, chúng ta phá bỏ các tượng đài, lên án chính lịch sử của mình”, thậm chí “dạy con cái mình phải cảm thấy xấu hổ về đất nước mà chúng sẽ thừa kế”. Ông chỉ trích nhiều hệ tư tưởng ngày nay “đã thoái hóa thành một thế giới tuyệt đối an toàn, không có rủi ro, không có thất bại”, đồng thời chỉ trích việc phương Tây trao quyền quyết định cho “các cơ quan quan liêu toàn cầu vượt xa tầm kiểm soát của chúng ta”.

Những phát biểu này đều nhắm đến những vấn đề cụ thể. Những từ ngữ như “chuộc tội” và “lên án chính lịch sử của mình” khó có thể không khiến người ta liên tưởng đến quá trình phản tỉnh lịch sử thời hậu chiến của nước Đức – điều vốn là nền tảng để Cộng hòa Liên bang Đức tái hòa nhập vào cộng đồng quốc tế. Những lời chỉ trích về một thế giới “tuyệt đối an toàn”, “không có rủi ro” nhắm vào mô hình phúc lợi xã hội mà châu Âu vốn tự hào; còn “các bộ máy quan liêu toàn cầu” là cách ám chỉ EU – mô hình nhất thể hóa trong đó các quốc gia thành viên phải nhượng lại một phần chủ quyền. Rubio đặc biệt nhấn mạnh rằng việc tái thiết các thể chế và liên minh “không phải để xóa bỏ chủ quyền của những quốc gia cấu thành nên chúng, mà là để bảo vệ chủ quyền ấy”. Điều này chẳng khác nào công khai ủng hộ các xu hướng chống hội nhập đang nổi lên bên trong châu Âu.

Vì vậy, có thể nói Vance muốn châu Âu thay một thế hệ lãnh đạo, còn Rubio muốn châu Âu thay đổi linh hồn. Ông muốn châu Âu từ bỏ mô hình châu Âu tự do chủ nghĩa hình thành sau năm 1945, với những giá trị nền tảng là hòa giải, phúc lợi xã hội, hội nhập và các quy tắc, để quay trở lại hình thái châu Âu cũ vốn tôn sùng chủ nghĩa dân tộc, vinh quang và sự chinh phục.

Danh sách các anh hùng phương Tây mà Rubio đưa ra tại Athens thể hiện khá rõ điều này: “Những phẩm chất đã giúp Alexander chinh phục toàn bộ thế giới mà ông biết đến cũng tái hiện ở Caesar, Charlemagne và Cortés.” Việc Columbus “phát hiện ra châu Mỹ” được xem là biểu tượng của tinh thần khám phá, còn điểm kết thúc của diễn ngôn là hành trình từ “một nước cộng hòa ven biển còn non trẻ” trở thành “một đế quốc trải dài khắp lục địa”.

Cortés là nhà thực dân Tây Ban Nha đã chinh phục Đế chế Aztec. Việc liệt nhân vật vào hàng ngũ anh hùng là điều hoàn toàn “không đúng đắn về mặt chính trị” trong hệ thống diễn ngôn châu Âu đương đại. Đối với người dân Mỹ Latinh, cũng như các cộng đồng rộng lớn hơn thuộc phương Nam toàn cầu (Global South), bản thân danh sách anh hùng này chính là một chú giải cho lịch sử của chủ nghĩa thực dân. Điều đó cũng phần nào lý giải vì sao những “giá trị phổ quát” mà phương Tây đề cao ngày càng khó tạo được tiếng vang tại phương Nam toàn cầu.

Trong và ngoài diễn đàn: Một góc nhìn khác về sự tự vấn của phương Tây

Trong khi đó, bầu không khí tại Diễn đàn Dân chủ Athens lại hoàn toàn trái ngược với hội trường được dàn dựng công phu cho bài phát biểu của Rubio. Các học giả và nhà hoạt động với những lập trường khác nhau tại diễn đàn đã thẳng thắn nêu ra những vấn đề thực sự mà nền dân chủ phương Tây đang phải đối mặt – cũng chính là những vấn đề mà Rubio cố tình né tránh trên Đồi Pnyx.

Ngay tại diễn đàn, tôi đã được lắng nghe một tiếng nói khác từ nước Mỹ. Trong bài phát biểu của mình, một vị khách mời người Mỹ chỉ trích việc Mỹ cắt giảm viện trợ dân chủ thông qua Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), cho rằng điều này làm suy yếu sự phối hợp giữa “liên minh các quốc gia dân chủ”, đồng thời chủ trương châu Âu nên tăng cường hợp tác theo chiều ngang với các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Canada. Đây là tư duy mà giới chính trị đương quyền Mỹ vốn theo đuổi lâu nay: Tập hợp đồng minh dựa trên sự phân chia nhị nguyên giữa “dân chủ” và “chuyên chế”. Trong khi đó, Rubio muốn dùng một “cộng đồng văn minh phương Tây” mang tính loại trừ cao hơn và có tính tiến công mạnh mẽ hơn để thay thế cách tiếp cận này. Đối với châu Âu, vấn đề giờ đây không chỉ còn là có nên đi theo Mỹ hay không, mà còn là nên đi theo kịch bản nào của nước Mỹ.

Rõ ràng, niềm tin của thế hệ trẻ châu Âu vào nền dân chủ phương Tây đang dần xói mòn, và cả số liệu lẫn những gì diễn ra tại diễn đàn đều xác nhận điều này. Có khách mời thẳng thắn thừa nhận rằng: “Không nên mặc định rằng công dân luôn đặt tự do, sự tham gia và các thủ tục dân chủ lên trên hết.” Khi tình trạng bất an về kinh tế gia tăng, con người có thể sẽ coi trọng an ninh, sự ổn định và thịnh vượng hơn. Khảo sát Thanh niên châu Âu mới nhất do Quỹ TUI của Đức công bố cho thấy, trong số 8.024 người được hỏi từ 16 đến 26 tuổi tại bảy quốc gia châu Âu, chỉ khoảng 26% hài lòng với cách vận hành thực tế của nền dân chủ ở đất nước mình.

Fidias Panayiotou – một thanh niên người Cyprus tham dự diễn đàn, từng gây bất ngờ khi đắc cử nghị sĩ Nghị viện châu Âu ở tuổi 24 – đã thẳng thắn chia sẻ tại diễn đàn rằng, nhiều người dân đã mất niềm tin vào nền chính trị của các đảng phái truyền thống, cứ vài năm họ lại đi bỏ phiếu một lần, nhưng điều đó không bảo đảm những người đắc cử sẽ thực hiện các cam kết của mình. Anh thử sử dụng ứng dụng điện thoại để giúp cử tri trực tiếp tham gia biểu quyết tại nghị viện, đồng thời tìm hiểu khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quá trình ra quyết định. Trên thực tế, đây là một nỗ lực mượn công nghệ kỹ thuật số để tiến hành một cuộc điều chỉnh mang màu sắc dân túy đối với thể chế đại diện truyền thống.

Những thực tế chính trị được phơi bày trong báo cáo của Quỹ TUI hẳn cũng là điều mà giới tinh hoa phương Tây đã cảm nhận sâu sắc. Cuộc khủng hoảng thực sự mà phương Tây đang đối mặt chính là sức hấp dẫn của nền dân chủ chính thống đang lung lay tận gốc rễ trong thế hệ trẻ. Trong khi Rubio hô hào trên bục diễn thuyết về việc khơi dậy tinh thần “mạo hiểm và vinh quang”, người dân châu Âu bình thường lại quan tâm đến giá năng lượng, việc làm và nhà ở. Giữa câu chuyện lớn lao mà giới tinh hoa theo đuổi và những kỳ vọng cụ thể của người dân đối với cuộc sống tồn tại một khoảng cách lớn lao.

Trong cuộc tranh luận trực tiếp tại hội trường, các học giả và khán giả phương Tây đã không còn sa lầy vào những cái nhãn thể chế trừu tượng. Họ bắt đầu truy vấn xem logic quản trị “lấy nhân dân làm trung tâm” rốt cuộc là đang nói về phúc lợi hay quyền lợi, đo lường ra sao, và liệu có thể duy trì bền vững hay không? Giáo sư Trương Duy Vi đã dùng triết lý chính trị cổ điển Trung Hoa “Nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền” để diễn giải mối quan hệ biện chứng giữa việc cầm quyền và lòng dân. Trên thực tế, trọng tâm của toàn bộ cuộc tranh luận nằm ở một vấn đề thực tiễn: Hiệu quả quản trị. Những cuộc nội loạn cùng quá trình thịnh suy của các thành bang Hy Lạp được Thucydides ghi lại trong Lịch sử cuộc chiến tranh Peloponnese vẫn nhắc nhở chúng ta rằng, việc một thể chế liệu có thể tồn tại lâu dài hay không, suy cho cùng phải xem nó có thể cung cấp an ninh, sự ổn định và phồn vinh một cách bền vững và hiệu quả cho các thành viên trong xã hội hay không, tức là có thực hiện được “lương chính thiện trị” (quản trị tốt) hay không.

Trở lại bài phát biểu của Rubio ở Athens, ông ca ngợi chi tiêu quốc phòng của châu Âu đang “tăng vọt”. Động lực chính của sự gia tăng này đến từ cam kết tại Hội nghị thượng đỉnh NATO ở The Hague, theo đó đến năm 2035, các nước sẽ nâng chi tiêu quốc phòng lên mức 5% GDP. Xét một cách khách quan, sự thay đổi này vừa chịu tác động từ sức ép lâu dài của Mỹ, vừa xuất phát từ những lo ngại an ninh của chính châu Âu sau khi xung đột Nga – Ukraine bùng nổ. Trong một cuộc hội thảo kín mà chúng tôi tham dự sau đó tại Rome, phát biểu của một nhà ngoại giao kỳ cựu người Italy thể hiện khá rõ quan điểm này. Ông nói thẳng: “Mỗi bước đi của tiến trình nhất thể hóa châu Âu đều không thể thiếu sự thúc đẩy của Mỹ; kỳ vọng Mỹ và châu Âu hoàn toàn tách rời nhau là điều phi thực tế.”

Sự phụ thuộc chiến lược vào Mỹ khiến các lợi ích địa chính trị cụ thể của châu Âu đang được tái cấu trúc, đồng thời làm nảy sinh những rạn nứt và phân hóa. Chính quyền Trump thích làm việc riêng rẽ với từng quốc gia châu Âu, rồi đưa một số nước trong đó lên làm “hình mẫu”. Gần đây, Mỹ, Đan Mạch và Greenland đã ký kết một thỏa thuận mới về đất hiếm và quốc phòng; phía Mỹ lập tức quảng bá thỏa thuận này như một hình mẫu của tình hữu nghị xuyên Đại Tây Dương. Trong bài phát biểu tại Athens, Rubio tuyên bố tình hữu nghị xuyên Đại Tây Dương “không phải là một cuộc chơi có tổng bằng không”, đồng thời nhấn mạnh: “Chúng ta muốn cùng thắng, và chúng ta phải cùng thắng.” Ông ca ngợi Hy Lạp là “đồng minh mẫu mực” trong các lĩnh vực năng lượng, di cư và quốc phòng, đồng thời “chân thành hy vọng toàn thể châu Âu có thể noi theo cách làm của các bạn”. Trong các vấn đề quốc phòng và địa chính trị, liên minh xuyên Đại Tây Dương từ lâu đã rơi vào tình thế đan xen phức tạp giữa sự ràng buộc chiến lược và những toan tính lợi ích thực dụng.

“Màn bộc lộ cảm xúc chân thành” rốt cuộc đã tiết lộ điều gì?

Không ít bài bình luận dùng cụm từ “bộc lộ tình cảm chân thành” để mô tả bài phát biểu của Rubio trên Đồi Pnyx. Quả thực, bài diễn văn của ông giàu cảm xúc và có sức biểu đạt mạnh mẽ. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ trong bối cảnh cán cân quyền lực xuyên Đại Tây Dương đang thay đổi, có thể nhận thấy bài phát biểu này còn truyền tải ít nhất ba tín hiệu sâu xa hơn.

Thứ nhất, cảm giác cấp bách trước sự thay đổi tương quan sức mạnh.

Bài phát biểu mở đầu bằng câu chuyện về những “tàn tích”. Rubio nói rằng nhiều tàn tích trên thế giới “dường như đánh dấu điểm kết thúc của lịch sử”, nhưng thành Acropolis ở Athens đã được tái thiết sau khi bị thiêu hủy. Đây không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên. Trong bối cảnh trật tự đa cực đang tăng tốc hình thành và thế giới phi phương Tây đang trỗi dậy, liệu phương Tây có đi đến một “điểm kết thúc của lịch sử” theo một cách khác hay không – đó mới là vấn đề thực sự khiến giới hoạch định chính sách Mỹ quan tâm.

Tiếp đó, ông tuyên bố: “Mười năm tới và những quyết định mà chúng ta đưa ra sẽ viết nên chương tiếp theo của thế kỷ này”, đồng thời cảnh báo phương Tây “hoặc phải hành động ngay bây giờ, hoặc sẽ hoàn toàn đánh mất khả năng lựa chọn hành động”. Cách ông nhấn mạnh tính cấp bách của thời cơ cho thấy tâm thế của Mỹ thiên về phòng thủ hơn là ung dung, tự tại.

Thứ hai, mượn lời Lincoln để thừa nhận những rạn nứt sâu sắc.

Rubio nói: “Dù cảm xúc mãnh liệt đôi khi khiến mối dây liên kết trong tình hữu nghị Mỹ – châu Âu trở nên căng thẳng, nhưng chúng ta tuyệt đối không được để chúng phá vỡ mối liên kết ấy.” Câu này gần như phỏng theo đoạn kết bài diễn văn nhậm chức đầu tiên của Abraham Lincoln năm 1861: “Dù cảm xúc có thể làm căng thẳng, nhưng chúng ta tuyệt đối không được để nó cắt đứt sợi dây liên kết tình cảm giữa chúng ta.”

Khi Lincoln nói những lời ấy, có 7 bang miền Nam nước Mỹ tuyên bố ly khai khỏi Liên bang. Đó vốn là lời ông gửi đến những “đồng bào bất mãn”. Việc Rubio mượn câu nói này hàm chứa hai tầng ý nghĩa. Thứ nhất, ông định nghĩa quan hệ Mỹ – châu Âu như chuyện nội bộ của một gia đình, nhấn mạnh rằng mối liên kết giữa hai bên không thể bị cắt đứt. Thứ hai, ông gián tiếp thừa nhận rằng sau những va chạm về thuế quan, những sóng gió xoay quanh vấn đề Greenland và các tranh luận ý thức hệ, bất đồng giữa Mỹ và châu Âu đã trở nên nghiêm trọng đến mức cần được hàn gắn một cách nghiêm túc.

Thứ ba, sự song hành của diễn ngôn về lòng biết ơn và những yêu cầu về lợi ích.

Rubio nói về “món nợ ân tình không gì có thể xóa nhòa”, đồng thời viện dẫn lời chính trị gia Mỹ thế kỷ XIX Daniel Webster để bày tỏ món nợ ân tình mà nước Mỹ dành cho Hy Lạp. Qua đó, ông đặt nước Mỹ vào vị thế vừa là người kế thừa một nền văn minh, vừa là bên mang ơn. Tuy nhiên, phần lớn những kỳ vọng cụ thể được nêu ra trong bài phát biểu lại hướng về phía châu Âu: Chẳng hạn, yêu cầu các nước tiến tới mục tiêu chi tiêu quốc phòng bằng 5% GDP đã được xác định tại Hội nghị thượng đỉnh The Hague, phối hợp với Mỹ trong các vấn đề Bắc Cực, cũng như tăng cường điều phối trong lĩnh vực năng lượng, di cư và những vấn đề khác.

Mỹ là bên bày tỏ tình cảm, còn châu Âu là bên phải gánh chịu phần lớn chi phí. Dùng câu chuyện về nền văn minh để củng cố sự đồng thuận, rồi hiện thực hóa lợi ích thông qua những chương trình nghị sự cụ thể – đó là cách tiếp cận điển hình của chính sách ngoại giao “Nước Mỹ trên hết” trong việc xử lý quan hệ đồng minh. Dĩ nhiên, việc châu Âu tăng chi tiêu quốc phòng cũng xuất phát từ những cân nhắc an ninh của chính mình, chứ không thể quy tất cả cho sức ép từ phía Mỹ.

Trước màn “bộc lộ tình cảm chân thành” của Rubio, người châu Âu cũng không hoàn toàn bị thuyết phục. Không ít tiếng nói trong dư luận châu Âu đã chỉ ra dụng ý ẩn sau diễn ngôn về nền văn minh: Trói buộc Mỹ và châu Âu vào cùng một “con thuyền văn minh”, nhưng rốt cuộc vẫn là buộc châu Âu phải trả tiền cho chiến lược địa chính trị của Mỹ.

Bài bình luận Rubio đã chọn nhầm người Athens đăng trên tạp chí Anh The Spectator đánh giá khá cao bài phát biểu của Rubio, cho rằng đây là một trong những bài diễn thuyết hay nhất của các chính trị gia phương Tây trong những năm gần đây, đồng thời nhận định rằng bài phát biểu đã phân tích khá chính xác những vấn đề của phương Tây.

Tuy nhiên, tác giả cũng thu hút sự chú ý của người đọc đến những mỹ đức mà Rubio lựa chọn: “Hoài bão không ngừng nghỉ”, “mạo hiểm và vinh quang”, “thách thức mọi giới hạn”, cùng bảng danh sách các anh hùng kéo dài từ Alexander, Caesar đến Cortés. Tác giả chỉ ra rằng, đây không phải là những tín điều mà Pericles từng đề cao. Pericles chủ trương cố thủ trong thành, dựa vào sức mạnh hải quân và kiềm chế tham vọng đế quốc; ông nổi tiếng với sự thận trọng. Những gì Rubio cổ vũ như “hoài bão không ngừng nghỉ” và “sự thiếu kiên nhẫn đối với mọi ranh giới và giới hạn” thực chất lại thuộc về Alcibiades.

Năm 415 TCN, chính tại ngọn đồi này, Alcibiades đã thuyết phục Hội đồng Công dân Athens tiến hành cuộc viễn chinh đến Sicily. Hai năm sau, toàn bộ đạo quân viễn chinh bị tiêu diệt; thất bại này trở thành bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến từ thịnh sang suy của Athens. Theo tác giả, khẩu hiệu “hoặc hành động ngay bây giờ” chính là kiểu luận điệu mang màu sắc Alcibiades. Còn cuộc chiến của Mỹ nhằm vào Iran – đã kéo dài bảy tháng, trong khi eo biển Hormuz đến nay vẫn chưa được mở lại – chính là “Sicily” của nước Mỹ.

Tác giả Đới Duy Lai là Giáo sư thuộc Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Đại học Phúc Đán.