Hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại (P2)

Print Friendly

Tng hp: Mai Nguyễn

6 – Sinh s vì Dương Văn Minh lên đi tướng trước Nguyn Khánh 3 ngày!

Vừa là bạn đồng sàng, vừa là phụ tá đắc lực của Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan được “Thủ tướng” Kỳ tin cẩn lần lượt giao nắm các chức vụ đầy quyền sinh sát trong ngành an ninh quân đội, tình báo và cảnh sát Sài Gòn

Một bữa, Loan uống say, mặt đỏ và méo, kéo tay Nguyễn Chánh Thi lôi vào một căn phòng ở Bộ Tổng tham mưu hét toáng lên: – Thôi ông ơi, ông thì chu khó đi ra ngoi quc mt thi gian đi! Chúng nó ngi ông lm. Nếu ông còn ln qun đây thì chúng nó còn khó chu và còn làm nhiu chuyn n ào lm.

“Chúng nó” tức cánh Kỳ và Thiệu đang hợp tác tìm thủ đoạn đốn ngã Thi, Loan vừa lè nhè mớm cho Thi hãy “chạy ra nước ngoài”, vừa đưa cao chai bia đang cầm trong tay lên nốc, rồi chửi đổng một hồi vung vít…

Chừng sáu, bảy ngày sau, Loan tìm gặp Thi lần nữa, lần này có cả Mai Đen – từng nhúng tay vào việc buôn vàng và thuốc phiện vùng biên giới Lào – Việt thời Ngô Đình Nhu – đi kèm. Không say như hôm trước, mà rất tỉnh táo, lạnh lùng “đề nghị” Thi:  Ông nên chu khó đi ra nước ngoài thì hơn, nếu ông còn li Vit Nam, ch s tính mng ca ông không được bo đm.

Nguyễn Chánh Thi hiểu đó chẳng phải là lời đe dọa suông.

Sau này, khi lưu vong, ông viết hồi ký và ngán ngẩm về các “chiến hữu” của mình thời đó như Kỳ, như Khánh. Với đầu óc quân phiệt, muốn làm “cha dân” của Khánh. Có lần qua điện đàm, Thi tỏ thái độ không đồng tình với Khánh về chuyện đó, khiến Khánh “rất khó chịu” và theo lời Thi: “ông ta bỏ điện thoại xuống một cách giận dữ”.

Thi viết: “Dẫu sao sau đấy một chính quyền dân sự (!) được thành lập bởi Thủ tướng Trần Văn Hương và cụ Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng, Trung tướng Dương Văn Minh và trung tướng Nguyễn Khánh được thăng lên đại tướng”.

Vụ thăng đại tướng của hai ông Khánh và Minh hồi ấy cũng bộc lộ những bất đồng sẵn có giữa họ vốn manh nha từ cuộc đảo chánh 1.11.1963. Ông Khánh không muốn ông Minh đưa ông Nguyễn Ngọc Thơ lên làm Thủ tướng. Ông Minh đợi đến buổi lễ gần thăng cấp cho các tướng tá có công trong đảo chánh mới quay lại bảo Khánh: – Anh không mun cho ông Thơ làm th tướng ch gì, ch chc na đây chính ông Thơ s gn sao cho anh!

Làm sao Khánh có thể khước từ được? Chuyện xảy ra tại Câu lạc bộ Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn có đông đảo các tướng tá sĩ quan cùng biết nên Khánh bực lắm. Đến 1964, khi ông Minh làm “Quốc trưởng” và Khánh làm “Thủ tướng” rồi tự dàn cảnh phong mình lên “Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa”, thì hai bên “đụng” nhau hoài. Một lần, vào ngày 1.7.1964, hai ông Minh và Khánh sừng sộ nhau tại Dinh số 2 Đà Lạt trước mặt các ông Trần Thiện Khiêm, Lê Văn Kim quanh “quyền” của mỗi người. Ông Khánh bắt đầu “nổ” ngay:

–          Ti sao anh ra Huế và Đà Nng, anh gn huy chương cho ông Tôn Tht Xng và ông M, tôi là “ch tch” mà anh không hi ý kiến tôi gì hết?

Dương Văn Minh đáp:

–          Tôi tưởng tôi là “Quc trưởng” thì có quyn ch!

Khánh không chịu:

–          Nhưng tôi là “Ch tch”, anh phi hi tôi.

–          Thế anh có quyn thì n đnh quyn hn cho tôi đi.

–          Thì anh đ ngh quyn hn lên tôi. Chuyn này na, tôi là Th tướng, tôi cn dùng xe c, tôi cũng có khách đ tiếp đón, ti sao bên anh li s dng gì đến mt trăm hai mươi my chiếc xe, tôi cn anh tr li mt ít đ làm cái Pool: văn phòng tôi hi thì ông đng lý văn phòng anh bo là không tr gì c!

“Quốc trưởng”, “Thủ tướng” và “Chủ tịch nước” mà đè nhau ra chì chiết những chuyện như thế thì khó nghe quá. Trần Văn Đôn cũng có mặt tại buổi “tọa đàm nội bộ’ trên kéo dài từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, có chen vào những “thắc mắc chung” của “từng người” khác và đã ghi lại mẩu “đối chọi” giữa hai ông Minh và Khánh như vậy trong hồi ký Vit Nam nhân chng.

Vài tháng sau, cuối năm 1964, ông Khánh mới nhờ cậu ông ta là Nguyễn Lưu Viên, bấy giờ giữ chức “Tổng trưởng Nội vụ” nói với ông Trần Văn Hương đề nghị với Quốc trưởng Phan Khắc Sửu thăng Nguyễn Khánh và Dương Văn Minh lên đại tướng, nhưng trong sắc lệnh phải ghi, ông Khánh được “lên” trước ông Minh…1 ngày!

Theo ông Đôn, khi sắc lệnh được trình ký lên văn phòng quốc trưởng “những sĩ quan làm việc tại đó phần nhiều là người của ông Minh. Thấy thế, biết là ông Khánh chơi “thầy” mình nên họ đề nghị Quốc trưởng trình lên Thượng hội đồng quốc gia (…). Nhận định rằng ông Minh là cựu Quốc trưởng và ở chức vụ trung tướng thâm niên hơn ông Khánh, cho nên cuối cùng họ (Thượng hội đồng quốc gia) đồng chấp thuận thăng hai ông lên đại tướng, nhưng để ông Minh “lên” trước …3 ngày!”.

Thế là sinh sự . Khi nhận được điện thoại báo tin sắc lệnh trên đã được ký, ông Khánh đang dùng cơm tối với Trần Văn Đôn ở Dinh số 2, chẳng những không vui mà lộ hẳn vẻ ác cảm, bực tức đến nghẹn cơm vì cái “hội đồng quốc gia” đã làm ông vỡ một cuộc chơi.

Về Sài Gòn, Khánh nhóm họ “nhóm tướng trẻ” quy cho “Thượng hội đồng quốc gia đang âm mưu giành tất cả quyền hành, lấn át quân đội!”. Lúc đó, theo hồi ký của Nguyễn Cao Kỳ, có người về hùa với Khánh la to: “Hốt chúng đi là xong!”. Thật loạn.

Bề nào thì hội đồng đó vẫn gồm các thành viên cao niên, hoặc tên tuổi được chính giới Sài Gòn biết tiếng như các ông: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyền, Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Văn Chữ, Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn Đình Lượng, Hồ Đắc Thắng, được thành lập hồi tháng 9.1964.

Nguyễn Cao Kỳ mỉa mai: “Hi đng quá già nua đến đ các quán rượu Sài Gòn người ta gi đó là vin bo tàng quc gia”, và Kỳ cùng Khánh ra lệnh “nhóm tướng trẻ” hốt hội đồng đó thật, bắt một số đem quản thúc khiến đại sứ Mỹ M.Taylor phải ôm đầu bảo họ: “Các v đã làm nát bét c ri!” Nghĩa là làm mất cái “màu mè dân ch”, cái “chính ph dân s” mà Mỹ đang muốn có. Dĩ nhiên,  nhiều nguyên do để Khánh “hốt” hội đồng , nhưng chắc chắn việc quyết định để Khánh lên đại tướng sau Dương Văn Minh 3 ngày có tác động tâm lý thúc đẩy Khánh hành động nhanh hơn. Vả lại, lúc ấy nghi án “5 tướng Đà Lạt” kết thúc rồi, các “tướng già” đang có mặt ở Sài Gòn . Họ quen biết những nhân vật thân cận với đại sứ Taylor, điều đó cũng đáng lo chứ?

7 – “Anh c Trường Sơn” Vĩnh Lc vi cuc tình trên ph núi cao

Trung tướng Vĩnh Lc thường cho máy bay quân s “không vn” các n ca sĩ lên phc v Vùng II chiến thut

Đêm 28.5.1964, đường phố Đà Lạt thấp thoáng bóng nhiều chiếc xe jeep gắn sao đỏ di chuyển về hướng dinh số 3. Có nhiều dấu hiệu rất rõ về sự hiện diện bất ngờ của khá đông các tướng tá từ Sài Gòn lên.

Kết thúc nghi án năm tướng Đà Lt “trung lp”

Trần Văn Đôn lúc đó cùng em rể là trung tướng Lê Văn Kim được đưa từ Đà Nẵng về quản thúc tại nhà riêng số 16 đường Lê Thái Tổ, Đà Lạt. Khoảng mười một giờ rưỡi khuya hôm đó, an ninh quân đội đến “mời” hai ông Đôn và Kim ra xe, đưa về dinh 3. Ở đó, 4 tướng “Đôn-Đính-Kim-Xuân” (và Vỹ) bị tình nghi “trung lập” được đưa ra đối chất trước hội đồng tướng lĩnh ngồi xoay quanh theo hình chữ U.

Trần Văn Đôn được đưa vào phòng họp lúc …1 giờ sáng 29.5! Ông Đôn kể: “Bước vào thật là buồn rầu, bỡ ngỡ. Trước mặt tôi là các tướng tá: Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Đỗ Cao Trí, Phạm Xuân Chiểu, Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát, Đỗ Mậu, Tôn Thất Xứng, Nguyễn Chánh Thi, Dương Ngọc Lắm, Trần Tử Oai, Lê Văn Nghiêm, Nguyễn Cao Kỳ (đến buổi sáng sau). Chung Tấn Cang, các đại tá: Trần Thanh Bền, Nguyễn Mộng Bích, Lê Văn Nhiêu. Tôi ngồi ở giữa, họ ngồi chung quanh…”.

Sau 4 tháng bắt giữ vì bị nghi “trung lập”, đến lúc đưa ra xét hỏi chẳng thấy nhắc tới hai tiếng “trung lập” chi cả, chỉ loanh quanh mấy chuyện gì đâu kéo tận tới 6 giờ rưỡi sáng . Nguyễn Chánh Thi cứ lôi chuyện bà Ngô Đình Nhu hỏi Đôn: “Tại sao trung tướng trả các con của bà Nhu lại mà không giữ làm con tin để đòi trao đổi tiền bạc của nhà Nhu?”. Trần Văn Đôn viết là ông đã trả lời ông Thi một cách “bình tĩnh, ôn tồn” như sau:

–          Sau cái chết ca hai ông Dim – Nhu dư lun trong và ngoài nước đu xúc đng nên đi s Cabot Lodge có yêu cu chúng tôi tr con ca bà Nhu li cho bà ta đ làm du bt tinh thn dân chúng M đang xúc đng.

Ông Đôn bảo là đã trình lên hội đồng quân nhân đảo chính trước khi các con bà Nhu lên máy bay ra nước ngoài và hội đồng chấp thuận. Sau những thẩm vấn đại loại như vậy, các tướng gác chuyện bà Nhu sang một bên và trao cho Trần Văn Đôn một danh sách dài thượt gồm tên họ các bà các cô và bảo: – Có phi đây là tên h các nhân tình ca anh? Chúng tôi nhn thy anh thiếu tác phong. Chúng tôi ngh 15 phút đ anh coi cho k ri tr li.

Thật lạ lùng. “Hội đồng xét hỏi” đưa ra danh sách các bà các cô xem chừng chẳng dính dáng gì tới “nghi án chính trị”? Ông Đôn đọc qua; khi trở lại phiên họp, trả lời rằng “mt s tên đúng” là nhân tình của ông ta, “mt s tên chưa h quen biết”, có thể là nhân tình của ai đó đang ngồi đây? Cả phòng họp cười ồ. Tướng Đỗ Cao Trí bảo hỏi chuyện đời tư nghe “xấu hổ quá” : – Nếu ngày nào tôi ngi vào ghế ca trung tướng Đôn thì không phi là mt t giy như vy mà là ch mt xe GMC!

Ý ông Trí bảo nếu có điều kiện như ông Đôn, danh sách tình nhân của ông ta chép trên giấy nhiều tới nỗi phải dùng xe quân sự loại lớn mới tải hết!

Ngoài “Đôn-Đính-Kim-Xuân”, tướng Nguyễn Văn Vỹ cũng bị xét hỏi, và kết quả rất chung chung cho 5 người là: “Chưa dứt khoát tư tưởng”, “thiếu lãnh đạo chỉ huy”, kèm theo mục bồ bịch lung tung gọi là “thiếu tác phong”. Rồi tuyên bố…trả tự do! Ưa thì bắt. Ưa thì thả. Chuyện như đùa, xét hỏi như đùa. Đôn than: “Tôi ng mt đêm t do sau 4 tháng “đi ngh mát” bin và cao nguyên. Qua ngày ch nht 31.5, tt c gia đình tôi đoàn t Đà Lt sau 4 tháng đen ti nht ca đi tôi”.

Vụ “nghi án” 5 tướng Đà Lạt “trung lập” khép lại hồ sơ từ đó. Đường binh nghiệp của họ cũng dần khép theo, một khung cửa hẹp mở ra để Trần Văn Đôn bước vào chính trường theo con đường khác, sau này…

B sưu tp “nh l cao nguyên” x làm ba mnh, vì đâu?

Không chỉ ông Đôn bị lôi chuyện bồ bịch đời tư vào “chương trình nghị sự” mà nhiều tướng tá Sài Gòn khác như “anh cả Trường Sơn” Vĩnh Lộc cũng bị vướng. Gọi “anh cả Trường Sơn” vì theo làng báo thời đó, ông Lộc tuy thuộc hàng VIP. KK nhưng có máu văn nghệ, bỏ tiền thực hiện bộ phim Anh c Trường Sơn và nhảy vào đóng phim đó luôn!

Thuộc hoàng phái, từng làm việc trong văn phòng Bảo Đại, đến thời ông Diệm suốt 10 năm trong quân vụ ông chỉ lên được một cấp: trung tá chỉ huy trưởng một trung tâm huấn luyện nằm sát Sài Gòn. Chế độ Diệm đổ, thời Thiệu – Kỳ chớm lên, Vĩnh Lộc làm Tư lệnh Vùng II chiến thuật đóng tại “phố núi cao” Pleiku. Vĩnh Lộc thường sai viên sĩ quan tùy viên của mình về Sài Gòn rủ một số văn nghệ sĩ , ký giả, và dĩ nhiên vài “người đẹp hậu phương’ lên cao nguyên chơi vào cuối tuần. Qua sáng thứ  hai, dùng máy bay quân sự chở họ về Sài Gòn.

Những chuyến bay “văn nghệ tiền tuyến” đó nối chặt cuộc tình “anh cả Trường Sơn” với cô ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn thời đó: Minh H.

Ca sĩ H. là “người vợ không bao giờ cưới” của nhạc sĩ T.T.T, tác giả của các nhạc phẩm viết về chân trời tím, và tình thư của lính…

Khi mối tình vụng trộm của “anh cả” và ca sĩ H. chín mọng, vừa lúc Thiệu và Kỳ hục hặc nhau nặng và Thiệu muốn hất Kỳ thẳng tay. Vì vậy khi nghe em út dèm pha rằng nhóm văn nghệ sĩ hay lên Pleiku “giao duyên” với Vĩnh Lộc là nhóm của Kỳ, cánh Thiệu nhất định không để yên cho “sinh hoạt văn nghệ” đó. Họ tìm cách chụp lén hình tướng Lộc và ca sĩ H. ăn nằm âu yếm nhau góp lại làm một “sưu tập”. Sau đó chia làm 3 phần. Một phần đưa lên mặt báo. Một phần gửi cho người vợ lớn của ông Lộc có nhà nằm trong khu đất Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn. Phần còn lại gửi cho người chồng “chưa cưới” của ca sĩ H. là nhạc sĩ T.

Riêng hai phần sau có kèm theo mấy cuốn băng ghi âm những lời thề thốt “yêu ai yêu cả một đời” của họ. Việc gì xảy ra sau đó? Theo dân làng báo thời bấy giờ, sau khi xem ảnh và nghe xong băng, vợ “anh cả Lộc” nổi cơn ghen ngút trời. Nhạc sĩ T. lận súng lên tận biệt điện Phượng Hoàng đòi bắn  ca sĩ H. Chuyện còn dài nhưng xin ngừng nơi đây. Tờ Quật Cường do ông Thiệu cùng nhóm vây cánh của ông ta – phối hợp với các “diễn đàn” khác – bôi nhọ Vĩnh Lộc, triệt hạ uy tín những người bị nghi là thuộc phe Nguyễn Cao Kỳ, bằng cách moi móc chuyện phòng the làm cho phải ngượng nghịu trước “quân dân bốn vùng chiến thuật”.

Bộ sưu tầm ảnh phải “xẻ làm ba mảnh” vì như thế. Cũng cần nhắc việc xích mích giữa Vĩnh Lộc với cố vấn Mỹ Palmer mà chúng tôi có nói qua trong bài viết về chuyến hàng thuốc phiện ở sân bay Pleiku. Theo Vĩnh Lộc: “Ông Palmer trch thượng, xem thường chc v ca tôi. Nhiu khi ông y hành đng như là mun sai khiến tôi thế nào cũng được. Vì mun gi th din, nên đôi khi ông y làm quá, tôi phi t thái đ”.

Nhưng Thiệu – Kỳ thì khác, họ muốn vâng lời, vâng lời và vâng lời đã! Vĩnh Lộc đã khều Nguyễn Chánh Thi ra xa Thiệu – Kỳ sau một cuộc họp tại cao nguyên và thẳng thừng mắng: “Ti nó chó má chưa! Ch đi theo quan thy thôi. Thôi thì trăm s nh “ainé” c”. Ông Thi xác nhận đó là nguyên văn lời Vĩnh Lộc. Nhưng một năm sau, trong nhóm “quan tòa” xử Nguyễn Chánh Thi ngoài Thiệu – Kỳ – Có – Viên trong chuyến máy bay chở thuốc phiện tháng 9.1965 có…Vĩnh Lộc ngồi chung, và là người đầu tiên cao giọng chỉ trích Thi! Ông Thi viết một cách cay đắng:

–          Bây gi trong hàng ngũ quan tòa x ti tôi, tôi chua chát thy Vĩnh Lc ngi chung vi bn “chó má”. Giá ông ta không có thái đ gay gt, có khi tôi vn tin rng ông ta ln ln vi bn “chó má” chng qua ch vì vn bt đc dĩ mà thôi”.

Thi bị gạt vào Sài Gòn họp và bị bắt giữ bất ngờ. Những người tưởng “tướng tá anh em” đã xử ông tội gì?

8 – Chân dung tướng M M.Taylor dưới “kính lon hoa” ca Thiu – Kỳ – Thi

Nguyên tng thng VNCH Nguyn Văn Thiu

Nguyễn Chánh Thi bị ghép “13 tội” mà theo ông ta tội lớn nhất không được nêu ra là “biết quá rõ những hành động tham ô, buôn lậu á phiện” của phe Kỳ và Thiệu. Tội nữa là nặng đầu óc cát cứ miền Trung – bộc lộ qua đòi hỏi phải thả, hoặc để những nhân vật người Trung cho Thi xử lý qua vụ “hốt” Thượng hội đồng quốc gia cuối năm 1964.

Vụ “hốt” đó do Khánh và” nhóm tướng trẻ” của Kỳ  chủ mưu. Nó là sự tiếp tục tham vọng quân đội làm “vua” manh nha ngay sau đảo chính 1.11.1963, như Thiệu đòi hỏi:”Quân đi đo chính thì quân đi phi hưởng” (trong cuộc họp tìm người thay  Nguyễn Ngọc Thơ làm thủ tướng ).

Trần Thiện Khiêm trong chuyến thăm Mã Lai, người nước đó hỏi: Ở Sài Gòn đảng nào mạnh nhất, Khiêm trả lời:”Quân đội!”. Nghe kể lại, các tướng tá Sài Gòn cười ầm lên, người hả hê nhất phải là Khánh. Một tuần trước lễ Giáng sinh 1964, Khánh xuất hiện với bộ quân phục, gặp các ông  Đôn – Kim – Xuân tại Đà Lạt và hậm hực nói (giọng vẫn đầy ”ấn tượng” với Dương Văn Minh):

–         Thượng hi đng quc gia là người ca ông Minh, tôi quyết đnh vn đh cũng bác hết. Các anh thy tôi bn quân phc đây chc là s phi có chuyn gì! Chiu nay (19.12) tôi v Sài Gòn nhóm anh em và s có quyết đnh: mt là đo chính, quân đi lên nm chính quyn tr li; hai là xúc Thượng hi đng quc gia.

Thượng hội đồng đang soạn thảo hiến pháp để tiến tới thiết lập chính quyền dân sự, nhưng điều đó thâm tâm Khánh-Kỳ-Thiệu–Khiêm và nhóm tướng trẻ diều hâu, quân phiệt không muốn. Nguyễn Cao Kỳ xem rẻ Thượng hội đồng, bảo Quốc trưởng Phan Quốc Sửu là “ông già lải nhải”, gọi thủ tướng Trần văn Hương 61 tuổi, cựu đô trưởng Sài Gòn là “mt người mang li tai ha. Ông ta không có ngh lc, không nhìn xa thy rng…”. Tóm lại, Kỳ cũng đang nôn nóng lật ngã cái “Thượng hội đồng” bị mỉa mai là “Vin bo tàng quc gia” đó, thì đùng một cái, như lời hứa, Khánh về Sài Gòn tụ họp “nhóm tướng trẻ” suốt 6 tiếng đồng hồ để xem có nên ra tay chưa.

Kỳ kể lại, cuối cùng tất cả biểu quyết bằng cách đưa tay, kết quả là đồng ý “hốt” ngay hôm 20.12.1964 và: “Tôi còn nhớ lúc đó vào khoảng chập tối, tướng Có (sau này là thành viên trong nội các của tôi cho đến khi tôi giải nhiệm ông ta vì tham ô) nhìn vào đồng hồ tay và nói: Đã muộn rồi. Đến lúc phải lùa về gà và bò vào chuồng thôi!”.

Việc “hốt”, “xúc”, hoặc “lùa” (chữ dùng của nhóm tướng tá kiêu binh, quân phiệt) được tiến hành trong đêm tối; y hệt cuộc hợp đồng tác chiến chống lại những ông già ốm yếu không một tấc sắc trong tay.

Kỳ ghi nhận: “Khánh cầm đầu các lực lượng vũ trang, tôi hoàn toàn kiểm soát không quân. Những người khác kiểm soát lực lượng đặc biệt, thủy quân lục chiến, nhảy dù. Tôi cho tìm những sĩ quan cấp nhỏ, cung cấp chi tiết (danh sách, địa chỉ, nơi giam giữ), thế là họ cho quân đi bắt…”

Khuya đó, một số thành viên Thượng hội đồng và hàng chục chính khách, giáo sư, lãnh tụ sinh viên mà Kỳ ghép vào “thành phần bất hảo” bị bắt giữ đưa lên Pleiku và Kontum quản thúc ngay sáng hôm sau. Trong số đó có cả thiếu tướng Đỗ Mậu, ông kể: “Khong 3 gi đêm ngày 20.12.1964, đi tá Nhiêu, mt cng s viên ca Khánh và đang là Giám đc S Trung ương tình báo, đi xe jeep cùng vi 3 binh sĩ võ trang đến nhà riêng ca tôi mi tôi đến gp Hi đng tướng lĩnh đang nhóm hp ti B Tng tham mưu. Tôi biết vic chng lành đang xy ra nên dn v con c yên tâm nhà (…), Đến 7 gi sáng, tướng Có mi tôi lên xe và đưa ra phi trường Tân Sơn Nht”. Ở đó, các ông Mai Ngọc Liệu, Vũ Ngọc Các, Nguyễn Văn Lực, bác sĩ Lê Khắc Quyến, luật sư Trần Thanh Hiệp…lần lượt được binh lính chở tới cầu thang máy bay để đưa đi quản thúc tại Kontum và Pleiku.

Đại sứ Mỹ M.Taylor nhanh chóng biết tin và điện thoại cho Khánh, Khánh nghe xong quay qua bảo mọi người có mặt: “Đại sứ Mỹ Taylor muốn gặp tất cả chúng ta tại Đại sứ quán Mỹ ngay bây giờ. Nhưng tôi không đi (…). Trong các anh có ai đại diện tôi không?”. Không ai đi thay cả. Khánh nói: “Này Kỳ, anh là lãnh đo ca nhóm tướng tr, anh nên đi đi”. Thiệu và Thi đồng ý đi. Đô đốc Chung Tấn Cang cũng thế. Rốt lại: Thiệu-Thi-Kỳ-Cang đi gặp Taylor.

Thái độ và lời nói của Taylor nhằm vào 4 người được mô tả là “quá sỗ sàng”. Ông ta bảo đại ý là cuộc đảo chính náo động tối hôm qua đã làm tiêu tan quá trình hình thành chính phủ dân sự đang diễn tiến, khiến Mỹ có thể cắt viện trợ. Hành động của nhóm tướng trẻ quá “loạn”. Lời nói của Taylor đầy vẻ lên lớp, không làm tắt “loạn” được. Hai bên chỏi nhau.

Kỳ bảo: “Taylor vẫn cứ tiếp tục nói với chúng tôi như là những học sinh lang thang bị bắt gặp đang trộm quả trong một vườn cây ăn trái”. Ngược lại, các tướng đầy máu kiêu binh, quân phiệt, háo thắng đó lại nhìn Taylor qua một “kính loạn hoa” để thấy ông ta chẳng phải là “ngài đại sứ” đang mặc bộ thường phục trang nhã trước mặt họ mà là, như Kỳ viết, một vị tướng “không sao che đy được phong thái quân s…Taylor thuc v loi người luôn luôn thuyết ging cho người khác ch không phi là đ nói chuyn vi h”.

Ông hiện ra trong ý nghĩ họ như một người đang mặc áo hoa rằn ri của lính Mỹ với những lời như đạn réo. Thiệu ức lắm, dọa sẽ họp báo về thái độ của Taylor. Thi điên lên. Còn Khánh? Kỳ bảo sẽ không bao giờ tha thứ Khánh về việc ông ta “lẩn tránh không chịu đi dự cuộc họp đó”. Nhưng 3 ngày sau, Khánh lên Đà Lạt khoe trước Trần Văn Đôn, Linh Quang Viên, Lê Nguyên Khang:

–         Bây giờ tôi đã nắm ông Taylor trong tay rồi, ông ta không dám hành động gì để chống tôi nữa. Ông Taylor muốn gặp tôi thì đến văn phòng tôi ở Bộ Tổng tư lệnh – chứ tôi không đến văn phòng ông Taylor nữa đâu.

Ông Đôn không lạ về lối nói của Khánh, hỏi:

–         Có phải anh gây với ông Taylor không?

Khánh khoái lắm, cười ha hả:

–         Ừ, tôi đã mắng ông Taylor một mạch…

Và ông Taylor đã nhịn im?

9 – Nguyn Khánh la đi s Henry Cabot Lodge và cái chết ca thiếu tá Nhung

Nguyễn Khánh khoe đã thâu băng cuộc nói chuyện tay đôi với đại sứ Taylor: “Tôi nói ông (Taylor) là một tướng giỏi, tài ba ở nước ông, nhưng ở đây ông là một nhà ngoại giao dở”.

“Ngoại giao dở” vì không lôi kéo được mà còn gây ra sự bất mãn của các tướng lĩnh Sài Gòn như Thiệu – Kỳ – Thi  và…Khánh! Có lẽ ông Taylor đã nín nhịn, nhưng ngấm ngầm “vận động” thế nào đó để góp phần làm Khánh phải văng ra khỏi Việt Nam, lưu vong mãi đến giờ.

Với đại sứ Cabot Lodge, ông Khánh “qua mặt” một lần. Frederick Flott, một người thân cận với Tòa đại sứ Mỹ, đã đưa 3 đứa con của bà Ngô Đình Nhu sang Roma hồi đảo chánh 1.11.1963, kể với Trần Văn Đôn chuyện đó.

Theo Flott, hôm vụ chỉnh lý 30.1.1964 nổ ra, đại sứ Cabot Lodge cho mời Nguyễn Khánh đến lúc 5 giờ sáng, hỏi vì sao lại bắt mấy tướng Đôn-Đính-Kim-Xuân? Khánh đáp: – Không bt sao được, chúng tôi có tài liu là trong vài ngày na, các ông đó s tuyên b min Nam trung lp!

–         Thế anh chc chn có bng chng không?

–         Sao li không? Chúng tôi có đ tt c tài liu đây ny!

Ông Khánh chỉ vào một tập hồ sơ ông ta đang ôm trong tay.

–         Thôi được, anh đưa tôi xem đ tôi trình cho Hoa Thnh Đn.

–         Không được, vì trưa nay chúng tôi có cuc hp báo, cn tài liu này đ trưng bng c, ri sau đó s đưa li cho ông.

Nói qua chuyện vậy thôi chứ ông Khánh không đến. Phía đại sứ Cabot Lodge –nhắn, Khánh lại hứa “sẽ”.  “Rồi một hai tháng trôi qua, ông Khánh không đưa gì hết. Lúc ấy ông Lodge mới biết là bị gạt”, Đôn viết như vậy. Đó là tập “hồ sơ giả” hoặc một mớ giấy lộn “giả làm hồ sơ” mà “ngài đại sứ” không bao giờ đọc được. “Qua mặt”. Cabot Lodge, Khánh không đơn độc mà có sự che chở của cố vấn Mỹ riêng của mình là Jasper Wilson.

Các hồi ký sau này của Trần Văn Đôn, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi viết và xuất bản ở nước ngoài đều cho người sắm “vai chánh” trong chỉnh lý 30.1.1964 không phải Nguyễn Khánh mà là…Trần Thiện Khiêm (lúc đó làm tư lệnh quân đoàn 3). Do vậy, đại sứ Cabot Lodge lẽ ra gặp ông Khiêm thay vì Khánh mới “đúng người đúng việc”. Đêm có chỉnh lý, bắt các tướng, ông Khánh chỉ được 5 phút để suy nghĩ nhận làm hay không làm thủ tướng. Trần Văn Đôn viết:

Ông Khánh cho tôi biết sau này là ông ta nhn làm th tướng quá bt ng. Trong đêm đo chánh (chnh lý 30.1.1964) Trn Thin Khiêm yêu cu Nguyn Khánh nhn chc v Th tướng và Khiêm ch đ cho Khánh 5 phút quyết đnh. Năm phút sau Khánh bng lòng. Có l vì vy mà nhóm đng Đi Vit (…) nói là h b gt và đòi “đo chánh li”.

Hồi ký Nguyễn Chánh Thi cũng viết Trần Thiện Khiêm là “vai chánh” vụ đó: “Ngoài ra, bên cnh ông Khiêm còn có mt s quân nhân thuc đng phái, cng vi mt s sĩ quan khác bt mãn vi chế đ “mi” (ca ông Dương Văn Minh) vì không được trng dng, không được lên lon v.v…Thì ra cái th “cách mng” (ch cuc chnh lý 30.1.1964 lúc đu được Thi ng h) mà tôi đã tin tưởng, đã lăn lưng vào, nó là như thế!”.

Ra nước ngoài hơn 35 năm nay, chưa thấy ông Khánh xuất bản hồi ký. Trong một cuốn sách của Vĩnh Phúc ấn hành tại Mỹ năm 1998 có in lời đáp của Nguyễn Khánh khi được hỏi quanh “cái chết của thiếu tá Nhung” (người bắn hai anh em Diệm Nhu) với các chi tiết dưới đây.

Về lời đồn cho rằng Nguyễn Chánh Thi xuống nhà giam của lực lượng nhảy dù đang nhốt Nhung rồi đi lên, mặt hầm hầm, một lát sau lại xuống, lên lần nữa bảo thượng sĩ Hải: “My xung ly dây giy ct nó lên!”, có không? Ông Khánh trả lời không được rõ ý và nhắc lại:

Hôm đo chánh 1.11.1963, nhng tư lnh quân chng, thy quân lc chiến, ông Khang ny n…trước khi vô ăn cơm h đ khí gii ngoài .Ăn cơm xong ông Minh mi tuyên b có cuc đo chánh. Thì lúc đó thng Nhung nó có súng. Nó đi đi li li, s v my ông đi tá, k c ông đi tá Cao Văn Viên. Hi lâu lâu, nó bun tình, nó nm đu mt ông lên nó bn! Phi có lnh ch không phi vô tình. Nó nm ông Tung (Lê Quang Tung) ra sau hè nó bn. Hi na nó vô nó nm em ông Tung là trung tá Triu (Lê Quang Triu) đem ra ngoài bn luôn. Thành ra, my ông ny b s v mà có làm được gì đâu. Anh tưởng tượng my ông đi tá …b mt anh đi úy mà hi Bình Xuyên vi tôi nó còn là trung sĩ, thượng sĩ là gì đó nó s v thì h nghĩ sao? Thành ra có nhiu “thèses” lm. Tôi không dám qu quyết được”.

Theo ông Khánh, việc Nhung chết rất đáng tiếc vì có nhiều chuyện cần để Nhung nói ra.

Ông Nguyễn Chánh Thi phủ nhận việc dư luận gán cho ông là người đá chết Nhung dưới hầm nhà giam. Ông bảo lúc bắt Nhung đưa về chỗ ông tuồng như có Cao Văn Viên ở đó nữa, ông nói với Nhung: “Anh khai tht đi. Vì cái chuyn mình nhà binh (…), thiên lôi ch đâu đánh đó! Có gì mà anh phi s. Khai tht cho tôi nghe vì tôi có biết qua v chuyn giết ông Dim đó”.

Nghe lời, thiếu tá Nhung viết bản tường trình khai hoàn toàn không biết gì về quyết định của Hội đồng quân nhân đảo chánh mà chỉ ra đi bắt hai ông Diệm – Nhu theo lệnh của Viên “ch huy tng quát v ny là ông thiếu tướng Thu” (?).

Xe từ nhà thờ cha Tam đi một hồi gặp một đoàn mấy xe jeep chạy ngược lại, trên xe có tướng Thu (…). “Khi đó ông Thu đưa hai ngón tay (ngón tr và ngón gia) ca bàn tay trái…tôi (thiếu tá Nhung) rút khu Colt 12 bn mi người 5 phát. Sau đó hăng máu bi thêm cho ông Nhu 3 phát na vào ngc. Đng thi đoàn xe thiết giáp dp đường chy v B Tng tham mưu…”.

Ông thiếu tướng Thu là ai? Nhung chết quá nhanh chưa kịp khai hết chi tiết, nên “tướng Thu” vẫn còn là một dấu hỏi trong hồ sơ cũ.

10 – Ba cơm gây oán ca th trưởng Đà Nng đãi “người hùng” Honolulu

Th tướng VNCH Nguyn Cao Kỳ và tng thng M Johnson “hi ngh thượng đnh” Honolulu, tháng 2.1966

Đầu tháng 2.1966, Tổng thống Johnson triệu tập “hội nghị thượng đỉnh” Việt – Mỹ tại Honolulu. Phía Sài Gòn chỉ được báo trước có …2 ngày! Gấp gáp quá, diễn văn của “thủ tướng” Kỳ không soạn kịp và phải phác thảo trên máy bay.

Trước khi lên đường, theo yêu cầu phía Mỹ cần có mặt một tư lệnh Quân đoàn (đại diện cho 4 quân đoàn thuộc 4 vùng chiến thuật miền Nam) và Sài Gòn chọn Nguyễn Chánh Thi. Tướng Nguyễn Cao Kỳ điện khẩn ra Đà Nẵng bảo Thi chuẩn bị đi họp “thượng đỉnh”, nhưng Thi nổi đóa, phang: “Dù chỉ hai thường dân mời nhau ăn bữa cơm, thì cũng không thể mời một cách khiếm nhã như thế được”, thành ra giờ cuối đoàn Sài Gòn vắng Nguyễn Chánh Thi.

Đến nơi, phía Mỹ hiện diện khá “hùng hậu”: ngoài Tổng thống Johnson , có Bộ trưởng ngoại giao Dean Rusk, Bộ trưởng quốc phòng Mac Namara, Trợ lý quốc phòng Mc Naughton, cố vấn trưởng đối ngoại Mc George Bundy, Bộ trưởng Nông nghiệp Orville Freeman, Bộ trưởng Y tế Giáo dục và Phúc lợi John Gardner, các tướng Earle Wheelr, W.Westmoreland, Maxell Taylor, Đô đốc Grant Sharp và các đại sứ: Henry Cabot Lodge, Averell Hamman và Leonard Unger.

Nguyễn Chánh Thi nhận định Thiệu, Kỳ qua họp chỉ để nhận “chỉ thị” về “Mỹ hóa” cuộc chiến Việt Nam. Còn Nguyễn Cao Kỳ viết trong hồi ký là tại hội nghị, Johnson đã “chấm dứt lắng tai nghe” diễn văn của Kỳ. Khi Kỳ dứt lời “Johnson đã vươn mình về phía tôi” và khen “Thật hay, thủ tướng đã nói giống như một người Hoa Kỳ” (!!!). Kỳ viết: “Tôi thích Johnson và ngay từ lúc đầu chúng tôi đã ý hợp tâm đầu”. Phần Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Hữu Có ngồi hai bên Kỳ, đối diện với Johnson, họ chủ yếu gật, hoặc lắc, đôi lúc tỏ đồng tình bằng cách…nhoẻn cười!

Báo chí Sài Gòn thời đó “điểm tin Honolulu” viết là “Johnson cưng chiều Kỳ quá” đến nỗi trong bữa cơm trưa, Johnson dành phần lớn thời giờ đàm đạo với Kỳ, còn quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu phải chịu cảnh ngồi rờ râu cằm ngó trần nhà! Vào đêm cuối cùng của hội nghị, Johnson mời Kỳ- Thiệu với Westmoreland uống vài ly. Sau đó, theo Kỳ, Johnson nói nhỏ: “Mi Th tướng đến phòng ng ca tôi đ vài phút…” Đóng cửa lại, Johnson nói nếu Kỳ không thấy trở ngại thì Phó Tổng thống Hubert Humphrey cùng đi với Kỳ về Việt Nam. Đây là điều khiến Kỳ ngạc nhiên vì không có mặt Humphrey tại đó. Johnson điện về Hoa Thịnh Đốn bảo Humphrey đến Honolulu ngay.

–         Humphrey sẽ có mặt ở đây trước khi máy bay của thủ tướng cất cánh.

Humphrey và Nguyễn Cao Kỳ xuất hiện bên nhau tại cầu thang máy bay trước mắt công chúng. Đó là hình ảnh đầy “tính hợp tác Việt – Mỹ” có công năng thông báo nhanh chóng đến dư luận sự ủng hộ của chính phủ Johnson đối với “nội các chiến tranh” của Kỳ. Về Sài Gòn, Kỳ cấp tiền cho 4 vùng chiến thuật biểu tình hoan hô thành quả Honolulu. Đến 19.2 Kỳ gửi công điện cho biết sẽ ra thăm các “chiến lợi phẩm”. Thi trả lời: “Vùng 1 không có gì để triển lãm” và cũng không tổ chức hoan hô “Lulu”.

Từ Sài Gòn, Nguyễn Cao Kỳ điện đàm với tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh là Nguyễn Văn Chuân tìm người thay thế Nguyễn Chánh Thi. Nguyễn Văn Chuân đâm thọc sao đó để đại tá Nguyễn Văn Thiện bị cách chức thị trưởng Đà Nẵng trước. Thi tính sau. Đại tá Thiện cho biết như vậy tại lễ bàn giao; người nhậm chức tân thị trưởng là bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn. Ông thị trưởng này rất bực mình với danh xưng “chính ph ca dân nghèo” do Nguyễn Cao Kỳ làm “thủ tướng”.

Buổi ra mắt chính phủ này, các “bộ trưởng” tổng ủy viên ăn mặc áo ngắn tay, tỏ rõ quyết tâm làm “cách mạng”. Họ kéo lên Đà Lạt họp tại Dinh số 1, bàn bạc chương trình hành động biện minh cho sự có mặt của quân Mỹ và “đồng minh” ngày càng đông tại miền Nam. Cuối buổi họp, ăn cơm xong, bàn ghế được dọn dẹp để các thành viên “chính ph ca dân nghèo” nhảy đầm.

Nguyễn Chánh Thi thuật lại: buổi đó một số “gái gi” được đưa đến “đ hu các tướng lãnh”  (chữ Thi dùng). Thị trưởng Mẫn muốn chơi “thủ tướng” của cái chính phủ “nghèo” đó, nên hôm Kỳ ra thăm Đà Nẵng vào 1.3.1966, đã mời Kỳ một bữa cơm đạm bạc đúng nghĩa tại Tòa Thị chánh, Nguyễn Chánh Thi viết:

Ông th trưởng là bác sĩ Nguyn Văn Mn dường như c ý cho Kỳ mt bài hc, nht đnh đãi mt ba cơm đơn sơ, nht đnh không đem rượu cho Kỳ ung (mc dù Kỳ đòi phi có rượu ung trước khi ăn cơm). Đã thế, ông còn buông mt câu làm Kỳ tím mt:  “Chúng tôi theo gương “chính ph ca dân nghèo” xin th tướng hiu cho! Đi cho Kỳ thm thía, bác sĩ Mn hi tiếp: -Thiếu tướng ra kỳ này chc phi có tin mng cho chúng tôi? Cao Kỳ nói: “-Hôm nay, Hoa Kỳ va chp thun 4,8 t M kim cho chiến tranh Vit Nam, và h ha s ng h tôi hết mình”.

Nghe vậy, ông Thi “kê tủ đứng” vào miệng Kỳ mấy câu, như: “Tiền của ấy chỉ tăng thêm chết chóc, tăng thêm đĩ điếm, tham nhũng, rác rưởi…”. Ngồi lặng một lúc, Kỳ đốp lại: “Nếu anh (Nguyễn Chánh Thi) có ý nghĩ như thế, tôi đề nghị anh cầm đầu một phái đoàn đi ngoại quốc xem sao”.

“Đi ngoại quốc” trong tình huống đó là tín hiệu bị thất sủng, sắp mất quyền: Ông Thi biết Kỳ không dọa chơi. Bữa ăn tiếp tục lạnh nhạt, buồn nản. Kỳ ngó lảng đi nơi khác, nhưng tâm ý chắc hẳn vẫn chăm chăm đến chuyện trả đũa thị trưởng Mẫn và bãi chức Thi. Chả thế mà vài tháng sau, khi cuộc đấu tranh miền Trung nổ lớn, báo chí hỏi Kỳ:

–         Nghe nói ông th trưởng Đà Nng, bác sĩ Nguyn Văn Mn là người Công giáo, nhưng li giúp đ đng bào Pht giáo min Trung biu tình chng Chính ph Sài Gòn. Có tht thế không?

Nguyễn Cao Kỳ trả lời đầy hằn học: “- Không cn biết. Ch biết rng, mt là chính ph này sp đ, hai là tên th trưởng Mn b bn chết!”.

Ngun: Nghiên cứu Lịch sử tng hp t Một thế giới

Hình: Trung tướng Nguyễn Khánh họp báo sau cuộc chỉnh lý ngày 30.1.1964

This entry was posted in Lịch sử, Tư liệu, Việt Nam and tagged , , , , , . Bookmark the permalink.