Những hiểm họa thực sự từ cuộc đối đầu giữa Ả Rập Saudi và UAE

Nguồn: Jonathan Panikoff, “The Real Risks of the Saudi-UAE Feud”, Foreign Affairs, 06/02/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Sự rạn nứt giữa Ả Rập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) hiện đã lộ rõ cho cả thế giới thấy. Căng thẳng đã gia tăng vào năm ngoái khi hai chế độ quân chủ vùng Vịnh đụng độ về vấn đề Yemen, nhưng sự thù địch tiềm ẩn đã bùng phát công khai vào tháng Giêng, khi các phương tiện truyền thông Ả Rập Saudi cáo buộc UAE “thêm dầu vào lửa” khắp khu vực Bắc Phi và Sừng châu Phi, đồng thời đóng vai trò là tay sai của Israel trong khu vực. Về phần mình, UAE đã hạn chế đưa ra những bình luận công khai như vậy, nhưng sự bất hòa mới nhất này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm.

Riyadh và Abu Dhabi đang bị cuốn vào một cuộc cạnh tranh chiến lược rộng lớn hơn, cạnh tranh về các vấn đề kinh tế, chính trị và an ninh. Thứ từng là một cuộc cạnh tranh lành mạnh giờ đã biến thành sự kình địch. Gốc rễ cuộc khủng hoảng nằm ở Tầm nhìn 2030, đại kế hoạch của Saudi Arabia chuẩn bị cho tương lai. Nếu vương quốc này muốn đạt được các mục tiêu do nhà lãnh đạo trên thực tế của mình, Mohammed bin Salman (được gọi là MBS), đề ra, họ phải thách thức sự thống trị của UAE trong các lĩnh vực tài chính, du lịch và thương mại. Không chính phủ nào công khai thừa nhận sự căng thẳng này, nhưng họ chắc chắn nhận thức được nó, xét cho cùng, một sự thay thế như vậy chính là điều UAE đã thực hiện vài thập kỷ trước khi soán ngôi Bahrain để trở thành tác nhân thương mại hàng đầu của vùng Vịnh.

Sự rạn nứt ở vùng Vịnh có lẽ sẽ không leo thang thành một cuộc chiến trực tiếp giữa Ả Rập Saudi và UAE hay thậm chí là các  biện pháp quân sự nhẹ hơn, chẳng hạn như phong tỏa. Nhưng Riyadh và Abu Dhabi đang ở trong một cuộc xung đột kinh tế tại quê nhà và trong một vài trận chiến quân sự ủy nhiệm ở nước ngoài. Tranh chấp của họ sẽ định hình khu vực trong thập kỷ tới, bao gồm cách họ tiếp cận các cam kết an ninh với các cường quốc phương Tây, cách họ thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, và cách họ chọn tham gia vào một số xung đột khu vực đang diễn ra hoặc đang âm ỉ.

Đối đầu gay gắt

Vào năm 2015, khi MBS trở thành phó thái tử và bắt đầu nắm quyền điều hành chính phủ Ả Rập Saudi, Riyadh và Abu Dhabi đã liên kết chặt chẽ với nhau về các vấn đề lớn nhất của Trung Đông. Về mặt cá nhân, MBS và Tổng thống UAE Mohammed bin Zayed (được gọi là MBZ) đã hòa hợp với nhau. UAE đã hỗ trợ chiến dịch quân sự của Ả Rập Saudi chống lại Houthi—một tổ chức khủng bố do Iran hậu thuẫn—ở Yemen. Hai nước đã ủng hộ chiến dịch “áp lực tối đa” của Tổng thống Mỹ Donald Trump chống lại Iran. Vào năm 2017, hai quốc gia này đã cùng nhau phong tỏa Qatar nhằm ép buộc Doha phải cắt đứt quan hệ với Iran; phải khai tử hãng thông tấn Al Jazeera; và phải chấm dứt việc dung dưỡng Tổ chức Anh em Hồi giáo, một phong trào có tầm ảnh hưởng khắp khu vực suốt thế kỷ qua, vốn truyền bá tư tưởng chính trị Hồi giáo mà một số chính quyền vùng Vịnh coi là mối đe dọa. Chẳng hạn, tổ chức này ủng hộ mô hình dân chủ. (Tháng trước, Mỹ đã chính thức đưa nhóm này vào danh sách các tổ chức khủng bố).

Nhưng trong vòng vài năm, chương trình nghị sự chung này bắt đầu có dấu hiệu rạn nứt. Hai nước đã từ bỏ việc phong tỏa Qatar, mặc dù sự ủng hộ của Doha đối với Tổ chức Anh em Hồi giáo và mối quan hệ của nước này với Iran không có thay đổi đáng kể. Và chiến dịch áp lực tối đa của chính quyền Trump đã thất bại trong việc thuyết phục Tehran kiềm chế hành vi của mình.

Trước những thất bại này, và bắt đầu từ khoảng năm 2021, Ả Rập Saudi bắt đầu tách rời khỏi UAE. Họ bắt đầu tiến trình làm ấm quan hệ với Iran, Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ. Đến năm 2023, họ đã đồng ý thực hiện một tiến trình hòa giải chính thức với Tehran. Các quan chức cấp cao của Ả Rập Saudi thậm chí bắt đầu tuyên bố rằng UAE đã dụ dỗ Ả Rập Saudi vào cuộc phong tỏa Qatar nhiều năm trước đó.

Sự chuyển hướng của Ả Rập Saudi bắt nguồn từ việc đánh giá lại cách tốt nhất để đạt được chương trình nghị sự trong nước. MBS ban đầu đã theo đuổi một chính sách đối ngoại đối đầu tập trung vào việc truy quét các quốc gia liên quan đến tư tưởng chính trị Hồi giáo. Nhưng cuối cùng ông nhận ra cách tiếp cận như vậy không thúc đẩy mục tiêu tối thượng của mình—đạt được Tầm nhìn 2030, mục tiêu chứng kiến vương quốc này thoát ly khỏi dầu mỏ và trở thành trung tâm tài chính, kinh doanh và du lịch. Để thực hiện kế hoạch, vương quốc cần hàng tỷ USD đầu tư nước ngoài, điều mà đổi lại đòi hỏi sự ổn định và điềm tĩnh.

Do đó, Ả Rập Saudi đang tạo dựng mối quan hệ nồng ấm hơn với các đối thủ cũ không phải vì quan điểm của họ về các quốc gia đó đã thay đổi, mà vì giờ đây họ tin rằng việc hòa hoãn là một chiến lược tốt hơn. Xung đột ở Trung Đông hoặc dọc theo Biển Đỏ có nguy cơ làm gián đoạn các hành lang thương mại hoặc làm các nhà đầu tư nước ngoài hoảng sợ. Ngược lại, UAE vẫn gắn bó với cùng một tập hợp các ưu tiên đã dẫn dắt chính sách đối ngoại của họ trong phần lớn thập kỷ qua. Họ muốn duy trì sức mạnh khu vực và toàn cầu, vốn được củng cố bởi năng lực kinh tế, thương mại và đầu tư trong nước, đồng thời ngăn chặn sự lan rộng của tư tưởng chính trị Hồi giáo.

Ngày nay, Ả Rập Saudi và UAE đang bất đồng về Israel, Sudan, Syria và Yemen. Trên hầu hết các mặt trận này, Saudi Arabia đặt ưu tiên hàng đầu vào sự ổn định—miễn là không có mối đe dọa trực tiếp nào nhắm vào vương quốc—trong khi UAE lại tập trung vào việc ngăn chặn các lực lượng Hồi giáo cực đoan mở rộng tầm ảnh hưởng. Tại Sudan, nơi đang hứng chịu cuộc khủng hoảng nhân đạo tồi tệ nhất thế giới, Riyadh đã đứng sau ủng hộ Quân đội Sudan (lực lượng mà UAE nghi ngờ có liên đới với các nhóm chính trị Hồi giáo), còn UAE lại đổ tiền và vũ khí cho đối trọng là Lực lượng Hỗ trợ Nhanh, bất chấp những lời phủ nhận công khai.

Trong khi đó, Ả Rập Saudi đã đồng ý đầu tư hàng tỷ USD vào việc tái thiết Syria vì họ coi nhà lãnh đạo mới (một cựu chiến binh thánh chiến Hồi giáo) là cơ hội tốt nhất của đất nước này để có được sự ổn định. Nhưng UAE đã đổ vào rất ít tiền vì hoài nghi về khả năng củng cố quyền lực của tổng thống mới và sự sẵn lòng từ bỏ nguồn gốc Hồi giáo của ông. Và khi nói đến Israel, UAE đã âm thầm tăng cường quan hệ thương mại và an ninh, trong khi Ả Rập Saudi từ chối bình thường hóa quan hệ nếu không có lộ trình tiến tới một nhà nước Palestine.

Những căng thẳng khu vực này đã lên đến đỉnh điểm vào cuối năm 2025 tại Yemen. Sau nhiều năm cùng nhau chống lại Houthi tại đó, các phe phái do Riyadh và Abu Dhabi hậu thuẫn đã rơi vào cảnh nội chiến. Vào tháng 12, một nhóm ly khai Yemen do Abu Dhabi hỗ trợ đã chiếm giữ lãnh thổ ở Yemen do các nhóm được Ả Rập Saudi hậu thuẫn chiếm giữ. Riyadh đã trả đũa bằng cách ném bom một lô hàng vũ khí của UAE, khiến UAE phải rút toàn bộ quân đội khỏi quốc gia này.

Mọi thứ vì Tầm nhìn 2030

Cả Ả Rập Saudi và UAE đều hiểu rằng việc công khai xoa dịu các bất đồng là bước đi cần thiết để trấn an giới đầu tư quốc tế rằng vùng Vịnh vẫn là bến đỗ an toàn cho dòng vốn của họ. Tuy nhiên, thực tế là căng thẳng giữa hai quốc gia này nhiều khả năng sẽ còn trầm trọng hơn, khi họ đang ngày càng dấn sâu vào cuộc đua giành giật đầu tư trong  những lĩnh vực tương tự nhau. Với cơn khát vốn ngoại khổng lồ để hoàn thành Tầm nhìn 2030, thành công của Saudi Arabia chắc chắn sẽ phải đánh đổi bằng việc hạ bệ vị thế độc tôn của UAE trong các mảng tài chính, công nghệ, du lịch và logistics. Đơn giản là vì thị trường khu vực và toàn cầu khó có thể dung nạp cả hai quốc gia này cùng lúc ở quy mô lớn đến như vậy.

Các nhà lãnh đạo UAE quyết tâm không để UAE đi theo con đường của Bahrain. Năm 1932, Bahrain trở thành quốc gia đầu tiên trong khu vực phát hiện ra dầu mỏ. Nhưng vì trữ lượng nhỏ, nước này đã đa dạng hóa nền kinh tế. Đến những năm 1970, đây là điểm nóng của khu vực về tài chính, du lịch, logistics và luyện nhôm. Nhưng vào đầu những năm 1990, Dubai, và sau đó là Abu Dhabi, đã thành lập các trung tâm tài chính với ít hạn chế về quy định hơn và nhiều vốn hơn. Đến thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, các siêu dự án bao gồm Palm Jumeirah, một hòn đảo nhân tạo dành cho các khu dân cư sang trọng và du lịch, và Burj Khalifa, tòa nhà cao nhất thế giới, đã củng cố vị thế của UAE như một điểm đến cho người nước ngoài. Sau đó, chính phủ đã dành những năm 2010 để chuyển hóa sức mạnh kinh tế thành ảnh hưởng toàn cầu. Năm 1971, năm UAE được thành lập, GDP của nước này là 940 triệu USD và của Bahrain là 422 triệu USD. Đến năm 1990, GDP của UAE là 308 tỷ USD và của Bahrain là 27 tỷ USD.

Ngày nay, Ả Rập Saudi đang áp dụng chiến lược này. Nhưng trong khi UAE mất nhiều thập kỷ để vượt qua nước láng giềng trong các ngành công nghiệp chủ chốt, Ả Rập Saudi đang cố gắng làm điều đó trong thời gian ngắn hơn nhiều và đang tận dụng mọi lợi thế mà mình có. Thị trường Saudi là thị trường lớn nhất khu vực. Để cạnh tranh với UAE, Riyadh đang sử dụng các rào cản phi thuế quan để ép các công ty của UAE ra khỏi thị trường nội địa của mình. Ví dụ, Ả Rập Saudi yêu cầu xe tải nước ngoài phải có giấy phép đặc biệt để vận chuyển cây trồng và vật nuôi trong biên giới của mình. Năm 2021, họ bắt đầu áp dụng thuế quan cao hơn đối với hàng hóa được sản xuất tại các cái gọi là khu tự do, nơi cho phép người nước ngoài sở hữu toàn bộ công ty và miễn thuế xuất nhập khẩu cho họ. UAE là nước xuất khẩu lớn nhất vùng Vịnh và sở hữu hơn 40 khu vực như vậy. Vào năm 2024, Ả Rập Saudi bắt đầu chỉ trao các hợp đồng chính phủ cho những công ty có trụ sở khu vực tại vương quốc này, khiến nhiều công ty đa quốc gia phải chuyển văn phòng từ UAE sang Ả Rập Saudi.

Ả Rập Saudi cũng có năng lực sản xuất và công nghiệp lớn hơn nhiều so với UAE, và họ đang đầu tư mạnh mẽ vào khai thác mỏ trong nước vì có trữ lượng phosphat, vàng, bauxite và các nguyên tố đất hiếm. Về diện tích đất liền, nước này lớn gấp 27 lần UAE. Họ thậm chí còn tận dụng quy mô, vốn và nguồn năng lượng của mình để xây dựng các tổ hợp sản xuất khổng lồ hỗ trợ ngành công nghiệp sữa lớn nhất Trung Đông. Họ cũng được hưởng lợi từ du lịch tôn giáo và ảnh hưởng đến từ việc quản lý hai thánh đường linh thiêng nhất của Hồi giáo, ở Mecca và Medina. Riyadh tin rằng, nhờ vai trò này, họ là nhà lãnh đạo duy nhất của thế giới Ả Rập và Hồi giáo.

Tuy nhiên, dân số đông hơn của Saudi Arabia là một con dao hai lưỡi. Điều này đồng nghĩa với việc vương quốc còn rất nhiều dư địa để phát triển tiêu dùng nội địa, nhưng đồng thời cũng phải gánh vác trách nhiệm chăm lo cho một lượng dân cư khổng lồ. Ả Rập Saudi có 35 triệu dân, với khoảng 20 triệu là người bản địa; trong khi đó, UAE chỉ có 11 triệu người nhưng chiếm đa số lại là người nước ngoài, còn công dân UAE chỉ vỏn vẹn hơn một triệu. Chính quy mô tinh gọn đã cho phép UAE xoay chuyển cục diện nhanh nhạy hơn hẳn nước láng giềng, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp đòi hỏi sự thay đổi chóng mặt như trí tuệ nhân tạo hay công nghệ sinh học.

UAE từ lâu đã hấp dẫn đối với đầu tư và nhân tài nước ngoài. Họ đã có lợi thế sẵn có trong các dịch vụ tài chính, hàng không, chăm sóc sức khỏe và du lịch. Quốc gia này cũng sở hữu các quy định xã hội thông thoáng hơn. Ví dụ, các cặp đôi chưa kết hôn được phép sống chung. Và khả năng xử lý thương mại và logistics của họ là vô song trong khu vực: ví dụ vào năm 2023, UAE đã xử lý số lượng container vận chuyển gấp đôi và nhận được lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài gấp đôi so với Ả Rập Saudi. Với một nền kinh tế đa dạng như vậy, chỉ khoảng 25% GDP của UAE đến từ dầu mỏ, khiến nước này ít nhạy cảm hơn với những thay đổi của giá dầu so với Ả Rập Saudi, nơi gần 50% GDP phụ thuộc vào dầu mỏ.

Vấn đề đối với Ả Rập Saudi là, khi họ tìm cách đa dạng hóa nền kinh tế, UAE không hề nhượng bộ dù chỉ một ly. Abu Dhabi đang chi hàng tỷ USD để cạnh tranh trong cùng các lĩnh vực mà Tầm nhìn 2030 yêu cầu Ả Rập Saudi phải thống trị vào cuối thập kỷ này, chẳng hạn như AI, năng lượng tái tạo và logistics toàn cầu.

Đến lúc cần hòa giải?

Riyadh và Abu Dhabi vẫn có thể  giảm bớt căng thẳng bằng cách hợp tác trong các ngành cụ thể, chẳng hạn như bằng cách tạo ra các trung tâm công nghệ và trung tâm dữ liệu chung. Hai nước cũng có thể, thông qua song phương hoặc các bên trung gian như Bahrain hoặc Oman, cố gắng thống nhất về kết quả mà họ muốn thấy ở các vùng xung đột khác nhau, và cùng nhau làm ngược lại để đạt được kết quả cuối cùng đó.

Nhưng dường như ngày càng có khả năng căng thẳng sẽ leo thang. Trước thực tế này, Mỹ và châu Âu nên cẩn thận không đứng về bên nào trong cuộc đối đầu vùng Vịnh. Vị trí địa lý của cả Ả Rập Saudi và UAE mang lại cho họ ảnh hưởng to lớn đối với thị trường dầu mỏ và các tuyến thương mại quan trọng; việc giữ cho cả hai hài lòng là rất quan trọng. Nếu Washington hoặc các cường quốc châu Âu thể hiện sự ưu ái đối với một bên, họ sẽ mất đi ảnh hưởng và các cơ hội đầu tư với bên còn lại. Tệ hơn nữa, họ có thể phá hoại sự ổn định khu vực. Nếu một cường quốc vùng Vịnh cảm thấy vị thế của mình đang tuột dốc, họ có thể nghiêng về phía Trung Quốc, có khả năng dành cho nước này sự đối xử ưu đãi trong vận tải biển, đầu tư và các quyền đặt căn cứ quân sự.

Bốn đời tổng thống Mỹ gần đây nhất đã cam kết sẽ can thiệp ít hơn ở Trung Đông, nhưng cuối cùng vẫn duy trì sự hiện diện tích cực. Trump nên khôn ngoan để duy trì sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ trong khu vực. Cùng với các nhà lãnh đạo châu Âu, ông nên giữ thế cân bằng giữa hai quốc gia vùng Vịnh. Ông cũng nên lưu ý rằng việc hàn gắn sự chia rẽ của họ có thể đòi hỏi một sự tiếp cận mang tính cá nhân hơn. Một số nhà quan sát nói rằng trong những ngày đầu MBS giữ chức thái tử, ông là người được MBZ bảo trợ. Mặc dù đó có thể là một sự cường điệu, nhưng hai người đàn ông này đã từng có mối quan hệ tốt đẹp. Ngày nay, mỗi nhà lãnh đạo đều coi người kia là thiếu tôn trọng mình, và sự đố kỵ của họ góp phần vào cuộc kình địch rộng lớn hơn. Một tiến trình giúp xích lại gần nhau giữa hai người đàn ông này có thể giúp ích rất nhiều cho việc ổn định khu vực.

JONATHAN PANIKOFF là Giám đốc Sáng kiến An ninh Trung Đông Scowcroft thuộc Atlantic Council. Từ năm 2015 đến năm 2020, ông từng giữ chức Phó Giám đốc Tình báo Quốc gia phụ trách khu vực Cận Đông tại Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ.