
Nguồn: David Sacks và Nick Snyder, “Japan Is Giving the United States a Chance in Asia”, Foreign Affairs, 28/09/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Nhật Bản, một quốc gia bị ràng buộc bởi điều khoản hòa bình trong Hiến pháp kể từ sau Thế chiến II, đang đầu tư mạnh mẽ vào quốc phòng và đóng góp cho an ninh khu vực theo những cách từng được xem là không tưởng. Tokyo đã gần như tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng, mua sắm các loại tên lửa tầm xa có khả năng tấn công các mục tiêu quân sự ở Trung Quốc và Triều Tiên, ký các thỏa thuận cho phép triển khai lực lượng quân sự ra nước ngoài, trực tiếp đảm nhiệm vai trò tác chiến trong các cuộc tập trận quân sự đa phương, và thậm chí bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí.
Chiến lược hiện nay của Nhật Bản mang lại những lợi ích lớn cho Mỹ. Tokyo không hề rời xa liên minh với Washington hay tìm kiếm quyền tự chủ chiến lược; ngược lại, họ đang giúp củng cố sức mạnh và sự hiện diện lâu dài của Mỹ tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Mỹ nên hỗ trợ và thúc đẩy các cải cách này, bởi một Nhật Bản mạnh hơn, được kết nối chặt chẽ với các đồng minh và đối tác khác của Mỹ trong khu vực, là yếu tố cốt lõi để răn đe một Trung Quốc đầy tham vọng và ngày càng quyết đoán. Nhật Bản đang mở ra cho Mỹ một con đường để bảo vệ các lợi ích cốt lõi tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với chi phí thấp hơn và ít rủi ro hơn nhiều so với việc Washington phải tự mình gánh vác toàn bộ trách nhiệm.
Tuy nhiên, Mỹ đang đứng trước nguy cơ lãng phí cơ hội này vì không đặt quan hệ với Nhật Bản lên vị trí ưu tiên hàng đầu. Tháng 11 năm 2025, Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi đưa ra những tuyên bố về việc bảo vệ Đài Loan, khiến Bắc Kinh phát động một chiến dịch cưỡng ép quy mô lớn nhằm vào Tokyo, bao gồm siết chặt nguồn cung khoáng sản đất hiếm nặng và đình chỉ nhập khẩu hải sản Nhật Bản. Mặc dù các phát biểu của bà Takaichi hoàn toàn phù hợp với định hướng chính sách của Mỹ, Washington lại không công khai đứng ra bảo vệ bà một cách quyết liệt. Sau đó, vào tháng 5 năm 2026, Washington thông báo với Tokyo rằng do cuộc chiến ở Iran, họ sẽ hoãn bàn giao các tên lửa Tomahawk mà Nhật Bản đã đặt mua từ hơn hai năm trước. Đến tháng 8, Washington tiếp tục tạm thời điều tàu sân bay duy nhất được triển khai thường trực bên ngoài lãnh thổ Mỹ rời Đông Á để chuyển sang Trung Đông.
Cho đến nay, Nhật Bản đã bỏ qua những bước lùi này và vẫn tiếp tục đầu tư vào quan hệ đối tác với Mỹ. Tokyo không có lựa chọn nào tốt hơn Washington. Nhưng liên minh Mỹ – Nhật sẽ không tự động tồn tại mãi mãi, và cách tiếp cận hiện tại của Mỹ có thể sớm khiến Nhật Bản hạ thấp kỳ vọng vào liên minh. Quan hệ Mỹ – Nhật đang tiến gần đến một điểm đảo chiều, khi sự chủ quan của Washington đối với liên minh cùng thái độ thờ ơ dành cho Tokyo có thể khiến Mỹ suy giảm quyền lực và ảnh hưởng trên khắp Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Mỹ cần thể hiện rõ mong muốn xây dựng một liên minh Mỹ – Nhật tham vọng hơn, đồng thời mở rộng hợp tác kinh tế và quân sự với Nhật Bản trước khi quá muộn.
GÁNH VÁC AN NINH MỘT MÌNH
Trong nhiều thập niên, liên minh Mỹ – Nhật dựa trên sự phân công lao động rõ ràng: Mỹ bảo đảm an ninh cho Nhật Bản, còn Nhật Bản tập trung nguồn lực quốc gia vào phát triển kinh tế. Thỏa thuận này dù mang tính bất đối xứng nhưng đáp ứng lợi ích của cả hai bên. Mỹ có được một điểm tựa an ninh vững chắc để kiềm chế sức mạnh của Liên Xô ở châu Á trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, đồng thời ngăn chặn sự hồi sinh của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản; trong khi đó, Nhật Bản có được môi trường an ninh cần thiết để phục hồi nền kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh.
Nhưng một loạt cú sốc bên ngoài trong hai thập niên qua đã buộc các nhà lãnh đạo Nhật Bản phải xem xét lại sự phân công thời hậu chiến này. Năm 2010, khi căng thẳng bùng phát quanh quần đảo tranh chấp Senkaku, mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư, Bắc Kinh áp đặt một lệnh cấm vận phi chính thức đối với xuất khẩu khoáng sản đất hiếm sang Tokyo. Động thái này cho thấy Trung Quốc sẵn sàng vũ khí hóa chuỗi cung ứng, đồng thời phơi bày mức độ dễ tổn thương của Nhật Bản trước các biện pháp cưỡng ép kinh tế. Sau khi Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố việc Syria sử dụng vũ khí hóa học là một “lằn ranh đỏ” nhưng lại không thực thi lời cảnh báo, cùng với việc Washington không làm được nhiều để ngăn Trung Quốc quân sự hóa các đảo và bãi đá ở Biển Đông, Nhật Bản bắt đầu nghi ngờ độ tin cậy của các cam kết an ninh từ Mỹ. Cuộc xâm lược Ukraine của Nga năm 2022 càng chứng minh rằng các cường quốc vẫn sẵn sàng sử dụng vũ lực để vẽ lại biên giới lãnh thổ. Và ngay sau chuyến thăm Đài Loan của Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi cùng năm đó, các cuộc tập trận bắn đạn thật quyết liệt của Trung Quốc khiến Nhật Bản nhận ra rằng một cuộc xung đột qua eo biển Đài Loan không còn chỉ là kịch bản lý thuyết. Tokyo dần đi đến kết luận rằng họ cần tự đầu tư vào sức mạnh của mình và gánh vác nhiều trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia.
Kể từ năm 2016, Nhật Bản đã theo đuổi chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, nhằm kết nối các quốc gia dọc Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương bằng những cam kết chung về thượng tôn pháp luật, tự do hàng hải và thương mại tự do. Trong khuôn khổ chiến lược này, Nhật Bản hợp tác với Mỹ để hồi sinh Bộ Tứ (Quad) — cơ chế hợp tác giữa Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ — giúp nâng cao năng lực phát hiện các hoạt động hàng hải trái phép và bảo vệ hệ thống cáp ngầm dưới biển. Từ năm 2022, Nhật Bản đã ký các thỏa thuận tiếp cận tương hỗ với Úc, Philippines và Anh, cho phép lực lượng quân sự của các bên huấn luyện và hoạt động trên lãnh thổ của nhau. Những thỏa thuận này tạo nền tảng cho hợp tác quân sự sâu rộng hơn. Đầu năm nay, Nhật Bản đã cử 1.400 quân tham gia, lần đầu tiên đảm nhận vai trò tác chiến, trong cuộc tập trận quân sự chung thường niên giữa Mỹ và Philippines, nơi lực lượng Nhật Bản phóng một tên lửa đất đối hải từ lãnh thổ Philippines — một cột mốc chưa từng có khác trong thời kỳ hậu chiến. Khả năng sửa đổi Điều 9 của Hiến pháp Nhật Bản, điều khoản từ bỏ chiến tranh và cấm duy trì một quân đội thường trực theo nghĩa truyền thống, giờ đây cũng không còn là chủ đề cấm kỵ tại Tokyo.
Nhật Bản cũng ngày càng chuyển hóa sức mạnh công nghiệp thành các quan hệ đối tác an ninh. Nước này đang hợp tác với Italia và Anh để phát triển một dòng máy bay chiến đấu thế hệ thứ sáu. Năm 2023, Nhật Bản chính thức khởi động chương trình Hỗ trợ An ninh Chính thức nhằm cung cấp trang thiết bị quân sự và cơ sở hạ tầng cho các đối tác, bao gồm việc chuyển giao hệ thống radar bờ biển và tàu tuần tra cho Philippines để giúp nước này theo dõi hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông. Năm 2026, Tokyo dỡ bỏ lệnh cấm kéo dài nhiều thập niên đối với xuất khẩu vũ khí sát thương và đồng ý đóng ba tàu khu trục cho Australia, đồng thời hợp tác sản xuất thêm tám chiếc nữa.
Quan trọng nhất, Nhật Bản đã phát tín hiệu rằng nước này sẵn sàng đóng vai trò tích cực hơn trong những nỗ lực do Mỹ dẫn dắt nhằm răn đe một cuộc xung đột ở Đài Loan. Tháng 11, bà Takaichi tuyên bố rằng một cuộc phong tỏa của Trung Quốc đối với Đài Loan có thể cấu thành một “tình huống đe dọa sự tồn vong” đối với Nhật Bản — một định danh pháp lý trao cho Tokyo quyền thực thi quyền tự vệ tập thể và đáp trả bằng quân sự. Đa số người dân Nhật Bản ủng hộ phát biểu của bà Takaichi: họ hiểu rằng Nhật Bản không thể đứng ngoài một cuộc xung đột như vậy, bởi Yonaguni, hòn đảo cực tây của Nhật Bản, chỉ cách Đài Loan khoảng 70 dặm. Thực tế đó đã trở nên đặc biệt rõ ràng khi tên lửa Trung Quốc rơi vào vùng đặc quyền kinh tế của Nhật Bản trong chiến dịch đe dọa mà Bắc Kinh phát động sau chuyến thăm Đài Loan của bà Pelosi năm 2022.
Để hiện thực hóa những tuyên bố này, Nhật Bản đã nâng cấp cơ sở hạ tầng quân sự tại quần đảo Ryukyu, khu vực lãnh thổ nằm gần Đài Loan nhất. Năm 2024, hải quân Nhật Bản cũng lần đầu tiên đi qua eo biển Đài Loan, còn Tokyo đặt mua 400 tên lửa hành trình Tomahawk từ Mỹ. Năm 2025, Nhật Bản thành lập Bộ Tư lệnh Tác chiến Chung thường trực nhằm hợp nhất các lực lượng lục quân, hải quân, không quân và không gian mạng dưới quyền một tư lệnh tác chiến duy nhất, qua đó cho phép phối hợp trực tiếp và theo thời gian thực với lực lượng Mỹ. Bằng cách gia tăng sức mạnh quân sự và bổ sung cho năng lực của Mỹ, Nhật Bản hướng tới mục tiêu duy trì vị thế của Mỹ trong khu vực, đồng thời răn đe hành vi gây hấn từ Trung Quốc.
XÓI MÒN KHÔNG PHẢI LÀ CHIẾN CÔNG
Tuy nhiên, Mỹ lại chưa có nhiều động thái công khai hoan nghênh sự chuyển hướng chính sách này của Nhật Bản. Washington cũng chưa thực hiện những bước đi cần thiết để trấn an một khu vực đang đầy lo âu. Bên cạnh việc hoãn giao tên lửa cho Tokyo và rút tàu sân bay khỏi khu vực, Mỹ còn thu hẹp quy mô hoặc hủy bỏ các cuộc tập trận quân sự chung với Hàn Quốc. Washington đã trì hoãn một thương vụ bán vũ khí lớn cho Đài Loan, còn cuộc chiến ở Iran nhiều khả năng sẽ tiếp tục làm gián đoạn việc bàn giao những khí tài mà Đài Loan đã thanh toán. Tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore vào tháng 5, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth hoàn toàn không nhắc đến Đài Loan trong bài phát biểu — lần đầu tiên chủ đề này vắng bóng trong một bài phát biểu như vậy suốt một thập niên — càng làm gia tăng nghi ngờ về mức độ cam kết của Mỹ với Đài Bắc. Một số quan chức chính quyền lập luận rằng Washington chỉ đang cố tránh chọc giận Bắc Kinh một cách không cần thiết. Nhưng ngôn từ chiến lược có ý nghĩa rất lớn, nhất là khi Trung Quốc luôn tìm cách khai thác mọi dấu hiệu suy yếu của Mỹ để biến sự trỗi dậy áp đảo của mình trong khu vực thành điều có vẻ tất yếu.
Nhật Bản vẫn kiên định với liên minh Mỹ – Nhật và tiếp tục nỗ lực củng cố mối quan hệ này. Nhưng điều đó không nên khiến Washington trở nên chủ quan. Nếu thiếu sự hậu thuẫn bền bỉ của Mỹ, quan hệ Mỹ – Nhật sẽ suy yếu, khiến Washington mất đi đồng minh tốt nhất tại khu vực quan trọng nhất thế giới. Nếu Tổng thống Mỹ Donald Trump đưa ra những nhượng bộ lớn cho Bắc Kinh về vị thế của Đài Loan, rút quân khỏi Hàn Quốc hoặc từ chối bảo vệ Philippines trong một cuộc đụng độ ở Biển Đông, Nhật Bản sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc cân nhắc điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng giảm phụ thuộc vào Mỹ.
Một Tokyo mất niềm tin sẽ phải đánh giá lại nhiều mối quan hệ, và có thể tìm cách thắt chặt quan hệ với các đối thủ của Mỹ theo những hướng đi ngược lợi ích của Washington. Để giảm áp lực ở sườn phía bắc và tiếp cận những nguồn năng lượng rất cần thiết, Nhật Bản có thể thỏa hiệp với Nga bằng cách giảm hỗ trợ cho Ukraine. Tokyo cũng có thể cải thiện quan hệ với chính quyền quân sự Myanmar nhằm bảo đảm nguồn cung khoáng sản thiết yếu, thậm chí cân nhắc mua dầu giá rẻ từ Iran. Nghiêm trọng nhất, nếu thiếu sự dẫn dắt của Mỹ, Nhật Bản có thể rút lại sự ủng hộ dành cho Đài Loan, khiến hòn đảo này trở nên dễ tổn thương hơn trước nguy cơ can thiệp từ Trung Quốc.
Nếu Nhật Bản cảm thấy không còn có thể dựa vào chiếc ô răn đe mở rộng của Mỹ, nước này rất có thể sẽ phát triển vũ khí hạt nhân của riêng mình. Xét cho cùng, Trung Quốc, Triều Tiên và Nga đều sở hữu những kho vũ khí hạt nhân khổng lồ. Nhật Bản có thể cảm thấy buộc phải hành động để tránh bị khuất phục trước sự cưỡng ép bằng hạt nhân. Một khi Nhật Bản theo đuổi vũ khí hạt nhân, điều mà nước này có thể thực hiện tương đối nhanh chóng, Hàn Quốc nhiều khả năng cũng sẽ nhanh chóng nối gót, biến khu vực thành một kho vũ khí hạt nhân.
Nhật Bản gần như chắc chắn cũng sẽ tiến hành một chương trình tăng cường quân sự quy mô lớn bằng vũ khí thông thường. Trung Quốc, khi nhận thấy Nhật Bản không còn được Mỹ bảo vệ nhưng cửa sổ cơ hội có thể khép lại khi Tokyo gia tăng sức mạnh quân sự, sẽ tăng cường sức ép đối với các yêu sách chủ quyền ở Biển Hoa Đông, làm gia tăng nguy cơ xung đột. Nếu không có Mỹ đóng vai trò trung gian, hợp tác Nhật Bản – Hàn Quốc cũng có thể rạn nứt, đẩy Tokyo và Seoul trở lại mối quan hệ đối đầu như trước đây.
Nếu Nhật Bản cũng quyết định không muốn tiếp tục chấp nhận một lực lượng lớn quân đội Mỹ đồn trú trên lãnh thổ, Washington sẽ mất đi điểm tựa tốt nhất trong khu vực, làm suy giảm năng lực triển khai sức mạnh tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và khả năng bảo đảm các thị trường trọng yếu luôn mở cửa. Mặc dù Mỹ có thể tăng cường lực lượng tại Guam hoặc tìm kiếm quyền tiếp cận lớn hơn ở Úc, những địa điểm này đều nằm xa hơn đáng kể so với các điểm nóng xung đột tiềm tàng — đặc biệt là Đài Loan và Biển Đông — qua đó hạn chế các phương án ứng phó của Washington.
ĐIỀU GÌ TỐT CHO TOKYO CŨNG TỐT CHO WASHINGTON
Mỹ nên đáp lại niềm tin của Nhật Bản vào liên minh thay vì xem đó là điều hiển nhiên. Washington có thể thực hiện những bước đi nhằm khuyến khích Nhật Bản tiếp tục theo đuổi định hướng chiến lược có lợi cho Mỹ, củng cố khả năng răn đe vào thời điểm những nghi ngờ về cam kết của Mỹ ngày càng gia tăng, đồng thời gửi một tín hiệu mạnh mẽ tới Trung Quốc rằng việc cưỡng ép Nhật Bản sẽ không thành công, qua đó ngăn Bắc Kinh đe dọa các đồng minh và đối tác khác của Mỹ. Một liên minh Mỹ – Nhật vững mạnh sẽ là chìa khóa để cạnh tranh lâu dài với Trung Quốc và bảo vệ các lợi ích của Mỹ tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, và những hành động của Nhật Bản đã giúp Washington dễ dàng khai thác lợi ích từ mối quan hệ này hơn.
Trước hết, Mỹ và Nhật Bản có thể hợp tác sản xuất một loạt vũ khí tiên tiến, trong đó có tên lửa dẫn đường chính xác. Điều này vừa giúp Washington giải quyết tình trạng thiếu hụt đạn dược nghiêm trọng, vừa tạo động lực phát triển cho ngành công nghiệp quốc phòng đầy triển vọng của Tokyo. Các công ty Mỹ và Nhật Bản từng phối hợp thiết kế và sản xuất tên lửa đánh chặn phòng thủ tầm xa, và hai nước cũng đã cam kết cùng sản xuất các tên lửa đánh chặn do Mỹ thiết kế cũng như tên lửa không đối không tầm trung tiên tiến, những loại khí tài hiện đang thiếu hụt nghiêm trọng và có vai trò sống còn đối với khả năng bảo vệ Đài Loan do Mỹ dẫn dắt. Năm 2025, Nhật Bản đã xuất khẩu sang Mỹ các tên lửa đánh chặn do nước này sản xuất theo giấy phép; Tokyo có thể sản xuất nhiều hơn nữa, nhưng những điểm nghẽn trong chuỗi cung ứng linh kiện của Mỹ đã làm chậm tiến độ. Chính phủ Mỹ có thể cấp phép cho các công ty Nhật Bản sản xuất thêm linh kiện trong nước và chứng nhận thêm các nhà cung cấp Nhật Bản.
Mỹ và Nhật Bản cũng có thể tích hợp chặt chẽ hơn việc hoạch định và thực thi các chiến dịch quân sự, vừa để nâng cao năng lực răn đe, vừa cho phép ra quyết định nhanh hơn nếu khả năng răn đe thất bại. Họ có thể bắt đầu bằng việc khai thác tối đa quần đảo phía tây nam của Nhật Bản làm căn cứ hoạt động. Việc Mỹ và Nhật Bản triển khai lực lượng tại quần đảo Ryukyu, nằm ngoài khơi bờ biển phía đông bắc Đài Loan, sẽ bổ trợ cho các nỗ lực của Mỹ và Philippines tại kênh Bashi ở phía nam Đài Loan, qua đó tạo khả năng kiềm chế ưu thế hàng hải của Trung Quốc ở cả hai phía của hòn đảo. Mỹ và Nhật Bản nên thiết lập sự hiện diện quân sự luân phiên của Mỹ tại Ishigaki, một địa điểm quan trọng ở quần đảo Ryukyu, nơi Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản đã có một doanh trại với đơn vị tên lửa hành trình chống hạm cơ động.
Việc Nhật Bản đầu tư vào bộ máy tình báo cũng mở ra khả năng hợp tác sâu rộng hơn với Mỹ. Trong quá khứ, chia sẻ tình báo luôn tụt hậu so với các hình thức hợp tác Mỹ – Nhật khác vì Tokyo thiếu một cơ quan tình báo tập trung, trong khi các cơ chế bảo mật và an ninh mạng chưa đáp ứng tiêu chuẩn của Mỹ. Nhưng vào năm 2026, Nhật Bản đã thành lập Hội đồng Tình báo Quốc gia và Cục Tình báo Quốc gia, đồng thời hợp tác với các tập đoàn Mỹ để xây dựng hạ tầng điện toán đám mây tối mật, qua đó từng bước tạo dựng mức độ tin cậy cao hơn để hai bên chia sẻ thông tin nhạy cảm. Mỹ giờ đây có thể xây dựng một lộ trình khả thi để Nhật Bản gia nhập liên minh chia sẻ tình báo Ngũ Nhãn, cho phép Tokyo tiếp cận nhiều thông tin tình báo nhạy cảm hơn và mở đường cho việc lập kế hoạch tác chiến Mỹ – Nhật chặt chẽ hơn nữa.
Hợp tác kinh tế Mỹ – Nhật cũng có thể giúp cả hai bên khắc phục những điểm yếu trong chuỗi cung ứng. Việc Trung Quốc chi phối khoáng sản thiết yếu và đất hiếm là điểm yếu lớn của cả Washington lẫn Tokyo. Các định chế tài chính phát triển của hai nước nên thành lập một quỹ khoáng sản thiết yếu chung để cùng đầu tư vào năng lực khai thác, tinh chế và sản xuất nam châm, qua đó đẩy nhanh nỗ lực của cả hai quốc gia nhằm giảm phụ thuộc vào Trung Quốc. Hợp tác năng lượng cũng có thể mang lại lợi ích tương hỗ: Mỹ hiện là nước xuất khẩu khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới, trong khi Nhật Bản sở hữu hệ thống cảng tiếp nhận, kho chứa và cơ sở tái hóa khí LNG đẳng cấp thế giới. Việc biến Nhật Bản thành trung tâm trung chuyển và phân phối LNG của Mỹ tới Hàn Quốc, Đài Loan và Đông Nam Á sẽ tăng cường an ninh năng lượng cho các đồng minh và đối tác của Mỹ, đồng thời mở rộng thị trường cho một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Washington.
Những tín hiệu bất nhất mà Washington đang phát đi về tương lai của liên minh với Nhật Bản đã làm dấy lên hoài nghi trên khắp châu Á về tương lai sức mạnh của Mỹ trong khu vực. Một cách để xóa bỏ những lo ngại rằng Mỹ đang rút lui khỏi khu vực quan trọng nhất thế giới là vạch ra một lộ trình đầy tham vọng cho liên minh quan trọng nhất của mình. Cho đến lúc này, Nhật Bản đã đặt cược tương lai vào Mỹ, nhưng việc Tokyo có tiếp tục đi theo con đường đó hay không phụ thuộc vào việc Washington có lựa chọn công khai và mạnh mẽ đồng hành với Nhật Bản hay không. Mỹ đang đứng trước một cơ hội hiếm có để đưa một liên minh then chốt lên một tầm cao mới. Nhưng nếu Washington để liên minh này xói mòn và suy yếu, cả Mỹ, Nhật Bản lẫn toàn bộ khu vực sẽ phải gánh chịu hậu quả.
DAVID SACKS là Nghiên cứu viên cao cấp về châu Á tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR) và là tác giả của cuốn sách sắp xuất bản The Realist: Hans Morgenthau and the Purpose of American Power.
NICK SNYDER là Nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Hudson. Là một cựu quan chức ngoại giao cao cấp của Mỹ đã nghỉ hưu, ông từng giữ chức Giám đốc Văn phòng Nhật Bản thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ giai đoạn 2023–2025 và là Cố vấn đặc biệt về châu Á – Thái Bình Dương cho Phó Tổng thống Mỹ giai đoạn 2018–2020.