
Nguồn: Jonathan A. Czin, “The Coming Taiwan Crisis,” Foreign Affairs, 25/09/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Hãy tận dụng sự bình yên hôm nay để chuẩn bị cho cơn bão lớn đã cận kề.
Khi Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình gặp nhau tại Washington, Eo biển Đài Loan, tuyến đường biển từ lâu đã là điểm nóng giữa hai nước, lại trở nên yên tĩnh một cách đáng ngạc nhiên. Các máy bay chiến đấu của Trung Quốc vẫn thường xuyên vượt qua đường trung tuyến giữa Đài Loan và đại lục. Các tàu chiến Trung Quốc vẫn diễn tập ở phía đông hòn đảo. Và Bắc Kinh vẫn sử dụng lực lượng tuần duyên để liên tục quấy rối các tàu bè trong khu vực. Nhưng trong gần một năm qua, Bắc Kinh đã tránh các cuộc tập trận quân sự quy mô lớn – vốn đã trở thành đặc trưng thường thấy trong các nỗ lực cưỡng ép Đài Loan sau chuyến thăm của cựu Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi tới hòn đảo này vào năm 2022.
Sự thay đổi đó phần lớn xuất phát từ tinh thần lạc quan mới nổi lên ở Bắc Kinh. Dù chính quyền Trump chưa chính thức thay đổi chính sách đối với Đài Loan, nhưng những tuyên bố của Trump sau cuộc gặp trước đó với Tập vào tháng 5 đã làm suy giảm niềm tin của Đài Bắc vào cam kết của Mỹ đối với hòn đảo. “Tôi không muốn thấy ai đó đòi độc lập,” ông nói vào thời điểm đó. “Và bạn biết đấy, chúng ta sẽ phải vượt qua 9.500 dặm (hơn 15.000 km) để tham gia một cuộc chiến. Tôi không hề muốn điều đó.”
Suốt nhiều năm, một số nhân vật ở Washington và trên khắp khu vực châu Á-Thái Bình Dương cho rằng năm 2027 sẽ là bước ngoặt tiềm năng tiếp theo cho chính sách Đài Loan của Bắc Kinh, bởi Tập đã chỉ đạo Quân Giải phóng Nhân dân chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc xung đột quân sự xuyên eo biển vào thời điểm đó. Tuy nhiên, khi năm 2027 đến gần, kịch bản Tập chuẩn bị sử dụng vũ lực sát thương trong tương lai gần lại vô cùng khó xảy ra. Chủ tịch Trung Quốc đã sẵn sàng tiến hành các cuộc thanh trừng có hệ thống nhắm vào bộ chỉ huy cấp cao trong quân đội của mình, một phần vì ông không lo ngại về một cuộc khủng hoảng xuyên eo biển trong thời gian tới. Hiện tại, ông dường như cảm thấy tự tin rằng mình có thể xoay xở hiệu quả với cả Washington và Đài Bắc.
Tuy nhiên, Tập vẫn cực kỳ nghiêm túc trong việc củng cố lực lượng cho một cuộc xung đột vì Đài Loan trong những năm tới. Cột mốc quan trọng tiếp theo sẽ không phải là năm 2027, khi ông dự kiến bắt đầu nhiệm kỳ thứ tư, mà là năm 2028, khi cả Mỹ và Đài Loan đều tổ chức bầu cử tổng thống – những sự kiện sẽ quyết định quỹ đạo tương lai của các động thái xuyên eo biển. Nhiều khả năng Tập sẽ cảm thấy thất vọng với kết quả của cuộc bầu cử tiếp theo tại Đài Loan, theo đó khiến tình hình trở nên căng thẳng hơn hiện tại. Vì thế, hai năm tới là khoảng thời gian vàng để Washington hợp tác với Đài Bắc nhằm chuẩn bị cho một eo biển có thể sẽ sóng gió hơn rất nhiều sau năm 2028.
Thay vì để những hoài nghi về sự ủng hộ dành cho Đài Bắc ngày càng hằn sâu, Washington nên thắt chặt hơn nữa quan hệ với hòn đảo này. Về nhiều mặt, Đài Loan đã tự chuyển mình thành một đối tác kiểu mẫu, cả bằng cách định hướng lại nền kinh tế chuyển dịch sang Mỹ và tách rời khỏi Trung Quốc, lẫn thông qua việc đẩy mạnh đầu tư vào khả năng phòng thủ của chính mình. Ít nhất Trump cũng nên phê duyệt gói vũ khí trị giá 14 tỷ USD đang đặt trên bàn làm việc của ông, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc chia nhỏ các đợt bán để tránh leo thang căng thẳng với Bắc Kinh.
Trung Quốc sẽ không hoan nghênh một loạt các thương vụ bán vũ khí của Mỹ, nhưng xét về lịch sử, Bắc Kinh thường tỏ ra quan ngại trước các động thái thể hiện sự ủng hộ chính trị cấp cao dành cho Đài Loan – chẳng hạn như chuyến thăm của Pelosi – nhiều hơn là các chi tiết trong thủ tục chuyển giao vũ khí của Mỹ. Hơn nữa, việc đình trệ các thương vụ vũ khí sẽ gây thêm những tổn thất riêng trong dài hạn. Bằng cách bỏ qua bước tối thiểu này, chính quyền Mỹ sẽ vô tình tiếp tay cho nỗ lực của Bắc Kinh nhằm thiết lập quyền phủ quyết đối với các thương vụ bán vũ khí của Mỹ, và rộng hơn là đối với cục diện xuyên eo biển. Sau năm 2028, cái giá về mặt ngoại giao cho việc ủng hộ Đài Bắc có thể sẽ tăng lên, bởi một Tập Cận Bình ngày càng lớn tuổi có thể đi đến kết luận rằng việc trì hoãn vấn đề Đài Loan không còn mang lại lợi ích cho ông nữa.
KHÔNG SỚM THÌ MUỘN
Thái độ lạc quan của Tập được xây dựng dựa trên hy vọng rằng đảng đối lập Quốc Dân Đảng (KMT) sẽ giành lại quyền lực vào năm 2028, sau hàng chục năm cai trị của Đảng Dân Tiến (DPP) – đảng mà đại lục kịch liệt lên án là theo xu hướng ly khai. Bắc Kinh đã không có bất kỳ sự gắn kết rõ ràng nào với chính quyền Đài Loan kể từ khi DPP lên nắm quyền vào năm 2016 – một sự khác biệt rõ rệt so với cách tiếp cận của Tập đối với chính quyền tiền nhiệm. Quay trở lại năm 2015, Tập đã trở thành nhà lãnh đạo Trung Quốc đầu tiên kể từ thời Mao Trạch Đông bắt tay với người đồng cấp Đài Loan, một tiền lệ mà hẳn ông rất tâm đắc. Tuy nhiên, thay vì trở thành một bộ phận gắn liền với thứ mà Tập và bộ máy tuyên truyền gọi là “kỷ nguyên mới” của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của ông, Đài Loan lại ngày càng trôi dạt xa khỏi đại lục, làm nản lòng tham vọng khởi động quá trình chính trị nhằm sáp nhập hòn đảo của ông. Cần nhớ rằng, sáp nhập – chứ không phải một cuộc xâm lược quân sự tốn kém và có nguy cơ đi đến kết cục thảm khốc – mới là mục tiêu tối thượng của Tập.
Hy vọng của Tập đã nhen nhóm trở lại vào tháng 11/2025, khi Trịnh Lệ Văn bất ngờ trở thành Chủ tịch KMT. Bà từng chủ trương một lập trường mềm mỏng hơn nhiều đối với Trung Quốc, nhấn mạnh đến bản sắc Trung Hoa chung của người dân hai bên bờ eo biển và sự cần thiết của đối thoại xuyên eo biển. Vào tháng 04/2026, bà tới Bắc Kinh để gặp Tập, chỉ vài tuần trước khi ông tiếp đón Trump. Cuộc gặp này giúp Chủ tịch Trung Quốc xây dựng hình ảnh chính sách Đài Loan của mình là hòa giải và hợp tình hợp lý, bất chấp cách tiếp cận cứng rắn của ông đối với đảng cầm quyền trong suốt thập kỷ qua. Việc ông sẵn lòng đón tiếp Trịnh cho thấy bà đã trở thành nhân tố trung tâm trong hy vọng thúc đẩy các cuộc thảo luận về quy chế của Đài Loan sau năm 2028. Dù vậy, hy vọng không phải là một chiến lược, và triển vọng để Trịnh trở thành ứng viên của KMT vào năm 2028, chứ chưa nói đến việc giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử, là hết sức bấp bênh. Quan điểm thân Bắc Kinh của bà không được đa số tán thành, ngay cả trong nội bộ đảng của mình. Trịnh thật ra là “ngựa ô” đã giành được vị trí chủ tịch KMT với chỉ hơn 50% số phiếu bầu, và chỉ 27% dân số ủng hộ đảng của bà.
Điều đó có nghĩa là vào năm 2028, Tập rất có thể sẽ phải đối mặt với một chính quyền DPP thứ tư liên tiếp, đặt dưới sự lãnh đạo của đương kim Tổng thống Lại Thanh Đức hoặc một nhà lãnh đạo KMT ôn hòa hơn, cảnh giác hơn Trịnh trước cái ôm của Tập. Nếu Lại giành được nhiệm kỳ thứ hai cũng như chiếm được thế đa số tại Lập pháp viện Đài Loan, điều đó sẽ đập tan hy vọng của Tập rằng KMT là một giải pháp thay thế khả thi. Sau chiến thắng của Lại trong cuộc bầu cử năm 2024, Bắc Kinh đã tự an ủi bằng thực tế là ông chỉ giành chiến thắng với tỷ lệ đa số tương đối và mất quyền kiểm soát cơ quan lập pháp vào tay KMT; họ diễn giải kết quả này thành dấu hiệu cho thấy hầu hết cử tri Đài Loan không ủng hộ cách tiếp cận đại lục của Lại. Hành động ấy không đơn thuần là tuyên truyền, mà còn là sự tự trấn an cho thất bại rõ ràng của chính sách xuyên eo biển của Bắc Kinh. Nhưng sẽ khó để lấp liếm những thiếu sót này vào năm 2028, đặc biệt nếu cử tri xem việc tái đắc cử của Lại như một đòn giáng mạnh vào lập trường mang tính hòa giải hơn của KMT. Khi đó, Tập sẽ trở thành người đứng sau một chính sách Đài Loan trì trệ, không mang lại bất kỳ tiến triển chính trị nào trong hơn chục năm qua.
Tình thế lưỡng nan mà Tập đang đối diện nhấn mạnh sự rỗng tuếch trong chiến lược Đài Loan của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Người tiền nhiệm của ông, Hồ Cẩm Đào, từng cố gắng áp dụng một cách tiếp cận mềm mỏng hơn đối với chính quyền KMT của Mã Anh Cửu, nhưng nỗ lực này đã phản tác dụng. Năm 2014, những người biểu tình trẻ tuổi trong Phong trào Hoa Hướng Dương đã chiếm giữ cơ quan lập pháp Đài Loan để phản đối mạnh mẽ một thỏa thuận thương mại nhằm làm sâu sắc thêm hội nhập xuyên eo biển. Khi DPP lên nắm quyền vào năm 2016, Tập – người vốn thể hiện sự thoải mái với một chính sách an ninh quốc gia mạnh tay hơn – đã chuyển sang chiến lược cưỡng ép không màng ngoại giao, cắt đứt mọi kênh liên lạc hữu hình với giới lãnh đạo chính trị Đài Loan. Mục tiêu là thuyết phục người dân hòn đảo rằng nguyên trạng là không thể duy trì, rằng sáp nhập là tất yếu, và do đó họ nên phục tùng trước những lời chào mời của Bắc Kinh.
CÁI GIÁ CỦA SỰ CƯỠNG ÉP
Tập có thể sẽ nôn nóng hơn trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan vào nhiệm kỳ thứ tư của mình, bởi khi kết thúc nhiệm kỳ đó, ông sẽ ngấp nghé 80 tuổi. Dù hiện tại ông có thể cảm thấy thời gian đang đứng về phía mình, nhưng khả năng cao là ông sẽ không còn cảm thấy như vậy vào lúc đó. Quan trọng hơn, nếu ông thất vọng vì kết quả bầu cử năm 2028 của Đài Loan, ông có thể sẽ bị cám dỗ hướng tới những hành động cưỡng ép mạnh mẽ hơn. Tập có lẽ đã học được từ sự cố Pelosi rằng ông có thể tiến khá xa trong việc đe dọa hòn đảo này: phản ứng thái quá của Trung Quốc vào năm 2022 bao gồm việc bắn tên lửa của Quân Giải phóng Nhân dân bay qua Đài Loan lần đầu tiên kể từ Khủng hoảng Eo biển Đài Loan hồi thập niên 1990, cũng như áp đặt các vùng cấm trên biển quanh hòn đảo. Dù vậy, các hành động này đã không kích động một cuộc khủng hoảng toàn diện với Mỹ hay gây ra những hậu quả hữu hình cho Trung Quốc. Tập cũng có thể tự tin hơn vào bộ chỉ huy cấp cao của mình sau Đại hội lần thứ 21 của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm sau, thời điểm ông sẽ cải tổ đội ngũ lãnh đạo. Có lẽ ông sẽ hoàn tất việc thay thế hàng chục sĩ quan cấp cao mà ông đã thanh trừng trong nhiệm kỳ thứ ba và có thể tổ chức lại toàn bộ các cấp bậc cao nhất trong quân đội.
Tuy nhiên, Tập sẽ phải đi xa hơn những gì ông đã làm vào năm 2022 để buộc Đài Bắc và Washington phải để mắt đến sự bất mãn của ông. Điều này có thể bao gồm một chiến dịch gây sức ép quân sự dai dẳng hơn, mang tính trừng phạt và rủi ro hơn, ngay cả khi không có tiếng súng nào nổ ra, chẳng hạn như chặn các tàu nước ngoài trên biển, tuyên bố nhiều khu vực gần Đài Loan là vùng cấm đối với giao thông hàng hải quốc tế, và tìm cách làm gián đoạn các đợt giao nhận vũ khí quan trọng của Mỹ trên các tàu chở hàng thương mại. Mức độ đó có thể chưa đến mức phong tỏa toàn diện hay cách ly mà nhiều người ở Washington vẫn luôn lo ngại, nhưng nó sẽ gửi đi một thông điệp rằng Đài Loan vẫn kết nối với thế giới bên ngoài chỉ nhờ vào sự chấp thuận của Bắc Kinh.
Thế nhưng, trong bất kỳ kịch bản nào như vậy, lối thoát và hồi kết đều rất mù mờ. Quyết định leo thang của Trung Quốc có thể đẩy cử tri Đài Loan đến chỗ miễn cưỡng chấp nhận sự cai trị của đại lục – nhưng nó cũng rất dễ phản tác dụng, tạo ra hiệu ứng đoàn kết toàn dân trên hòn đảo và khuếch đại tâm lý chống Bắc Kinh. Đây chính là những gì đã xảy ra sau Khủng hoảng Eo biển Đài Loan lần thứ ba vào những năm 1990, khi những lời đe dọa của Bắc Kinh nhằm vào DPP trước thềm cuộc bầu cử năm 2000 đã vô tình giúp đảng này giành được chiến thắng trong cuộc đua tổng thống đầu tiên của họ.
Tất nhiên, Tập hoàn toàn có thể tiến tới phong tỏa hay cách ly toàn diện, hoặc thậm chí chiếm lấy một trong những hòn đảo do Đài Loan quản lý nằm gần đại lục một cách đáng báo động. Nhưng trong hơn 14 năm cầm quyền, ông đã cho thấy mình không hề bốc đồng hay bạo lực trong việc điều hành chính sách đối ngoại; ông ưu tiên sức ép đều đặn, tiệm tiến hơn là một đòn quyết định duy nhất. Những lựa chọn rủi ro hơn đó rất có thể sẽ thất bại, phá hoại tiền đề đã thôi thúc ông suốt nhiều thập kỷ: đảm bảo di sản của mình với tư cách là nhà lãnh đạo đã đưa Đài Loan bước vào con đường hướng tới những gì Bắc Kinh gọi là “thống nhất.” Theo một số khía cạnh, một lệnh cách ly hoặc phong tỏa cũng sẽ rơi vào đúng thế mạnh của Mỹ trong một cuộc khủng hoảng, cho phép nước này có thời gian để tập hợp một liên minh các nước tự nguyện nhằm buộc Bắc Kinh phải trả giá.
Những lựa chọn bạo lực hơn này có thể trở nên hấp dẫn hơn đối với Tập nếu một người được cho là “kiềm chế” – luôn hoài nghi về các quan hệ đối tác truyền thống của Mỹ – bước chân vào Nhà Trắng sau cuộc bầu cử Mỹ năm 2028. Một tổng thống như vậy có thể sẽ nghi ngờ các lợi ích của Mỹ ở Đài Loan, hoặc không mặn mà với việc củng cố các liên minh và quan hệ đối tác mà Mỹ cần huy động để bảo vệ hòn đảo. Ngay cả khi một ứng viên theo hướng truyền thống hơn giành chiến thắng vào năm 2028, Trung Quốc có lẽ cũng đã học được rất nhiều điều từ cuộc chiến hiện tại ở Iran về những giới hạn trong sức mạnh của Mỹ, cũng như khả năng kiên trì của Washington về mặt vật chất lẫn chính trị. Các kho đạn dược quan trọng của Mỹ sẽ mất nhiều năm để xây dựng lại, và cuộc xung đột với Iran đã phơi bày sự dễ tổn thương của các căn cứ hải ngoại và hệ thống hậu cần hải quân Mỹ. Những vấn đề đó sẽ còn tồn tại dai dẳng cho đến chính quyền tiếp theo, hạn chế khả năng của Mỹ trong việc ứng phó với Trung Quốc khi xảy ra khủng hoảng, bất kể các nhà hoạch định chính sách Mỹ có muốn làm gì đi chăng nữa.
MỘT ĐỐI TÁC KIỂU MẪU
Trong thời gian chờ đợi, Mỹ và Đài Loan đang có cơ hội để củng cố sức mạnh cho hòn đảo khi Tập còn chờ xem cuộc bầu cử năm 2028 sẽ mang lại điều gì. Dưới thời DPP, Đài Loan đã chấm dứt những năm tháng tự mãn trước mối đe dọa từ đại lục. Hòn đảo này đã tăng cường đầu tư vào nền quốc phòng của chính mình và xoay trục nền kinh tế khỏi Trung Quốc nhiều hơn hầu hết bất kỳ quốc gia nào khác, kể cả Mỹ. Đài Loan cũng đã chứng minh ý chí, nguồn lực, và giờ đây là năng lực mới chớm nở để đối mặt với thách thức trước mắt.
Đáng chú ý nhất, sau nhiều năm mua sắm các hệ thống vũ khí Mỹ có thể trở nên vô dụng trong một cuộc xung đột với Trung Quốc, Đài Loan cuối cùng cũng thực sự nghiêm túc với cải cách quốc phòng. Vào tháng 5, hòn đảo này đã thông qua một dự luật phân bổ ngân sách 25 tỷ USD cho quân đội. Một trong những thách thức trọng tâm mà lực lượng quân đội này hiện đang phải đối mặt không chỉ là làm thế nào để có được những năng lực mới, mà còn là làm thế nào để tích hợp chúng vào lực lượng chiến đấu. Thật vậy, vấn đề chính trị gây tranh cãi nhất ở Đài Loan năm nay là cải cách quốc phòng, đặc biệt là các khoản ngân sách dành cho việc mở rộng ngành công nghiệp máy bay không người lái trong nước. KMT từng không chịu thông qua dự luật này, cho đến khi phải nhượng bộ trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ dự kiến diễn ra vào tháng 11. Thế nhưng, nội việc các đảng phái tranh cãi về vấn đề này cũng đã là một dấu hiệu đầy hứa hẹn cho thấy sự quan tâm của chính quyền đối với quốc phòng.
Chương trình tăng cường sức mạnh cho Đài Loan không chỉ gói gọn trong lĩnh vực quân sự. Chính quyền cũng rất nghiêm túc với nhiệm vụ khó khăn hơn là tăng cường “khả năng phục hồi trên toàn xã hội,” một hành động cân bằng khéo léo nhằm giúp công chúng làm quen với mối đe dọa từ đại lục – và khả năng một ngày nào đó đại lục có thể xâm lược hoặc phong tỏa hòn đảo – mà không gây ra hoảng loạn hay thái độ buông xuôi. Khu vực tư nhân của Đài Loan cũng đứng trước những cám dỗ tương tự như các doanh nghiệp trên khắp thế giới trong việc mua hàng hóa Trung Quốc với giá rẻ hơn, nhưng chính quyền vẫn quyết tâm loại bỏ các linh kiện “đỏ” (có nguồn gốc từ Trung Quốc) ra khỏi chuỗi cung ứng cho các hoạt động mua sắm công.
Trong khi đó, nền kinh tế Đài Loan đang tăng trưởng với tốc độ chóng mặt, đồng nghĩa với việc hòn đảo sẽ có dư địa tài khóa để tài trợ cho quá trình hiện đại hóa quân sự trong những năm tới. Nền kinh tế này cũng trở nên bớt phụ thuộc vào Trung Quốc hơn rất nhiều. Nếu như vào năm 2010, hơn 80% vốn đầu tư ra nước ngoài của Đài Loan đổ vào Trung Quốc, thì ngày nay, con số này chưa tới 10%. Thay vào đó, tăng trưởng của Đài Loan được thúc đẩy bởi ngành công nghiệp bán dẫn đẳng cấp thế giới, vốn đã tận dụng triệt để sự bùng nổ của AI. Với dân số chỉ vỏn vẹn 23 triệu người, Đài Loan đã nhảy vọt để trở thành đối tác thương mại lớn thứ tư của Mỹ. Và họ không chỉ bán hàng cho người Mỹ: các công ty hàng đầu của hòn đảo này đã cam kết đầu tư hàng trăm tỷ đô la vào nền kinh tế Mỹ. Vào tháng 2, Đài Loan đã trở thành một trong những quốc gia đầu tiên hoàn tất một thỏa thuận thương mại với chính quyền Trump. Không giống hầu hết các đối tác thương mại khác của Mỹ, Đài Bắc dường như thực sự hài lòng với kết quả đạt được, vì nó thu hẹp khoảng cách giữa mức thuế áp dụng đối với hàng hóa của họ và mức thuế áp dụng đối với hàng hóa từ các đối thủ cạnh tranh trong khu vực như Nhật Bản và Hàn Quốc.
KHÔNG CÓ LÚC NÀO TỐT HƠN HIỆN TẠI
Đáng tiếc là, thay vì tận dụng những quan hệ kinh tế ngày càng sâu sắc này, cũng như cách tiếp cận nghiêm túc của Đài Bắc đối với vấn đề quốc phòng, Washington lại đang làm suy yếu chúng. Các động lực cấu trúc đều ủng hộ một quan hệ gần gũi hơn, nhưng ngoại giao – lẽ ra phải là phần dễ làm đúng nhất – lại trở thành trụ cột yếu nhất. Chuyến thăm Bắc Kinh của Trump hồi tháng 5 đã thổi bùng những quan ngại ở Đài Bắc rằng ông sẽ bán đứng lợi ích của hòn đảo bằng một động thái phô trương nào đó. Tổng thống Mỹ đã cố gắng bám sát thông điệp trong hầu hết chuyến đi, chỉ để rồi lỡ lời trong một cuộc phỏng vấn thoải mái với Fox News. Trump mô tả việc bán vũ khí như một con bài mặc cả mà ông có thể sử dụng với Bắc Kinh, gây xáo trộn hàng thập kỷ tiền lệ mà theo đó các tổng thống Mỹ luôn từ chối tham khảo ý kiến của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về chủ đề này. Trong những ngày và tuần sau đó, các quan chức cấp cao của Mỹ đã nhấn mạnh rằng chính sách đối với Đài Loan vẫn không thay đổi, nhưng thiệt hại thì đã rõ.
Những nhà quan sát dày dạn kinh nghiệm về chính sách Đài Loan của Mỹ ít bị lung lay bởi lời lẽ của tổng thống hơn là bởi những hành động của ông, đặc biệt là sự do dự của ông trong việc xúc tiến gói vũ khí 14 tỷ USD. Xét trên thực tế, những yếu kém của cơ sở công nghiệp quốc phòng và quy trình mua sắm của Mỹ đồng nghĩa với việc các năng lực quân sự trong gói vũ khí đó sẽ không thể đến Đài Loan trước khi nhiệm kỳ của Trump kết thúc, điều này giải thích cho việc ông thiếu mặn mà với nó. Và ngay cả khi các trang thiết bị cập bến, thì Đài Loan sẽ cần thời gian để tích hợp những khí tài này vào lực lượng của mình nhằm sử dụng chúng một cách hiệu quả.
Thế nhưng, khoảng thời gian chờ đợi dài đằng đẵng đó càng nhấn mạnh sự cần thiết để chính quyền Mỹ gấp rút hành động ngay lúc này, khi họ đang có một đối tác sẵn lòng ở Đài Loan với dư địa tài khóa dồi dào để thực hiện thương vụ mua bán, và khi Tập vẫn chỉ đứng yên chờ xem năm 2028 sẽ mang lại điều gì. Chính quyền Mỹ tiếp theo có thể không có được một cơ hội tốt như vậy để nâng cao khả năng tự vệ của Đài Loan, và Đài Loan sẽ cần tất cả năng lực mà họ có thể tập hợp để đối phó với một Tập ngày càng lớn tuổi và có khả năng sẽ trở nên nóng nảy hơn.
Nếu KMT giành chiến thắng vào năm 2028, họ cũng có thể không nhiệt tình với việc tăng cường hợp tác quốc phòng với Washington như DPP. Trong khi đó, Tập đang tiến hành một cuộc cải tổ đau đớn đối với bộ chỉ huy cấp cao của quân đội Trung Quốc, nhưng khi quá trình này hoàn tất, nó có thể làm thay đổi các toan tính theo cách riêng của mình. Do đó, thỏa thuận mong manh giữa Trump và Tập có thể tạo ra không gian ngoại giao để tận dụng cơ hội vàng này mà không châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng.
Jonathan A. Czin là Giám đốc Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại tại Trung tâm Trung Quốc của Viện Brookings và là người đồng dẫn chương trình podcast The Beijing Brief. Ông từng là Giám đốc Phụ trách Vấn đề Trung Quốc tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ từ năm 2021 đến năm 2023 và trước đó từng là thành viên của Cơ quan Phân tích Cấp cao thuộc Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ. Những quan điểm được trình bày ở đây là của riêng ông.