Tại sao chưa có nước nào có thể chấm dứt cuộc chiến tại Ukraine?

Nguồn: Stephen M. Walt, “Why Nobody Can End the War in Ukraine”, Foreign Policy, 29/09/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Đã hơn một năm kể từ lần cuối tôi viết một bài phân tích sâu về cuộc chiến tại Ukraine, và tôi thực sự lấy làm tiếc về sự gián đoạn này. Than ôi, những sự kiện khác đã thu hút sự chú ý của tôi, dù cuộc xung đột vẫn là một bi kịch dai dẳng và tiếp tục phủ bóng nặng nề lên tình hình địa chính trị toàn cầu. Bài tường thuật mới đây của người lãnh đạo dũng cảm của chúng ta, Ravi Agrawal, về chuyến đi của anh đã khiến tôi chú ý trở lại đến cuộc chiến này, thôi thúc tôi suy ngẫm về cục diện hiện nay và những gì có thể làm để khép lại một cuộc chiến đã kéo dài gần năm năm.

Bất kỳ ai tiếp cận chủ đề này đều nên giữ thái độ khiêm tốn, bởi chưa ai đưa ra được những nhận định hoàn toàn chính xác. Chẳng hạn, tôi từng không tin Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ phát động chiến dịch quân sự vào năm 2022, vì cho rằng bước đi đó là một sai lầm chiến lược và sẽ khiến Nga phải gánh chịu những hậu quả nặng nề trong dài hạn. Đến nay tôi vẫn tin đánh giá của mình về hậu quả là đúng, nhưng rõ ràng tôi đã phán đoán sai tính toán của ông Putin. Kể từ đó, hàng loạt nhà hoạch định chính sách và giới phân tích liên tục dự đoán sai hướng đi của thời cuộc, chao đảo dữ dội giữa sự lạc quan phi thực tế và thái độ bi quan tuyệt vọng. Những người nắm quyền cũng chẳng khá hơn: ông Putin đã tính sai khi cho rằng cuộc chiến sẽ kết thúc chỉ trong vài ngày, chính quyền Biden đánh giá quá cao hiệu quả của các lệnh trừng phạt, còn giới lãnh đạo Ukraine mắc sai lầm khi phát động cuộc phản công thảm họa vào mùa hè năm 2023. Tổng thống Mỹ Donald Trump từng thẳng thừng nói với Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky rằng ông không có “quân bài chiến thắng” nào và gây sức ép buộc ông phải chấp nhận một thỏa thuận bất lợi, để rồi chính ông Trump sau đó lại bất ngờ khi sự kết hợp giữa viện trợ của châu Âu với tinh thần đổi mới và sự anh dũng của Ukraine đã tạm thời đảo ngược thế cờ. Thế nhưng, như Ravi nhận định, vận may trên chiến trường dường như lại đang nghiêng về phía Nga khi mùa đông đến gần. Vì vậy, những độc giả tỉnh táo nên tiếp nhận mọi phân tích và lời khuyên với một mức độ hoài nghi nhất định — kể cả của chính tôi.

Ukraine và Nga vẫn đang mắc kẹt trong một “thế bế tắc tiêu hao”, nơi không bên nào đủ sức áp đặt ý chí lên đối phương và cả hai đều tiếp tục gánh chịu những tổn thất nặng nề. Điều này đặc biệt khắc nghiệt đối với Ukraine khi xét đến quy mô lãnh thổ, dân số và nền tảng công nghiệp – quốc phòng nhỏ hơn, nhưng nguồn hỗ trợ từ bên ngoài cùng quyết tâm mạnh mẽ trong việc bảo vệ quê hương đã giúp Kyiv trụ vững lâu hơn nhiều so với dự đoán của giới quan sát. Cuộc xung đột này cũng minh chứng cho một xu hướng điển hình của những cuộc chiến kéo dài: leo thang cả theo chiều ngang lẫn chiều dọc. Mỗi bên đều phát triển các loại vũ khí mới có sức tàn phá lớn hơn, mở rộng danh mục mục tiêu tấn công và kéo các bên thứ ba vào cuộc chiến theo cả cách trực tiếp, như việc binh sĩ Triều Tiên tham chiến cùng Nga, lẫn gián tiếp, như hỗ trợ tài chính và tình báo mà Mỹ cùng EU dành cho Ukraine. Các hoạt động tấn công vùng xám của Nga nhằm vào châu Âu, một nỗ lực công khai nhằm ép khu vực này chấm dứt viện trợ cho Ukraine, là một hình thức leo thang khác.

Tuy nhiên, đến thời điểm này, việc chấm dứt chiến tranh đã trở thành lợi ích chung của phần lớn các bên. Chiến sự càng kéo dài, Ukraine càng chịu tổn thất nghiêm trọng và triển vọng dài hạn của nước này, bao gồm cả hy vọng giành lại những vùng lãnh thổ đã mất, sẽ càng trở nên mờ mịt. Nga cũng đang bị bào mòn và sẽ bước ra khỏi cuộc chiến trong tình trạng suy yếu hơn, đồng thời phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc. Chi phí viện trợ cho Ukraine đang đè nặng lên các nền kinh tế châu Âu đúng vào lúc họ khó có thể gánh thêm, đồng thời tiếp thêm cho các đảng cực hữu như Đảng Lựa chọn vì nước Đức (AfD) lý do để công kích chính quyền đương nhiệm. Và như những yêu cầu của ông Trump nhằm ép Ukraine ngừng tấn công năng lực lọc dầu của Nga cho thấy, cuộc chiến cũng đang làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt nhiên liệu toàn cầu, gây ra những tổn thất kinh tế và chính trị cho chính nước Mỹ. Những bên duy nhất mà tôi có thể thấy đang hưởng lợi từ việc cuộc chiến kéo dài là Trung Quốc, vì chiến sự khiến châu Âu và Mỹ bị phân tâm và tiếp tục đối đầu với Nga, cùng những nhà dân túy cực hữu, những người sẽ mất đi một lý do để công kích nếu xung đột kết thúc.

Thế nhưng cuộc chiến vẫn tiếp tục diễn ra khốc liệt, và chưa ai có thể xây dựng được một tiến trình hiệu quả nhằm dung hòa những lợi ích xung đột vốn dẫn đến chiến tranh, dàn xếp các điều khoản mà cả hai bên có thể chấp nhận, hay kết hợp khéo léo giữa “củ cà rốt và cây gậy” để thúc đẩy họ đi đến một thỏa thuận. Vì vậy, hai câu hỏi then chốt lúc này là: 1) Ai có đủ khả năng làm trung gian hòa giải hiệu quả? và 2) Một giải pháp như thế nào là khả thi ở thời điểm hiện tại?

Xét về lý thuyết, Mỹ là cường quốc sở hữu đòn bẩy và năng lực lớn nhất để làm trung gian cho tiến trình này. Washington có thể đưa ra nhiều “củ cà rốt” kinh tế khác nhau, chẳng hạn viện trợ tái thiết cho Ukraine và dỡ bỏ trừng phạt đối với Nga, đồng thời có thể tăng hoặc giảm viện trợ quân sự cho Ukraine tùy theo yêu cầu của một thỏa thuận. Đáng tiếc là Washington đã liên tục thất bại trong việc tận dụng những lợi thế này. Thay vì hành xử như một bên thứ ba có trách nhiệm nhằm thúc đẩy cả hai phía chấm dứt xung đột, Mỹ lúc thì thiên vị bên này, khi lại ngả sang bên kia, và chưa bao giờ gây sức ép đồng thời lên cả hai để đạt được thỏa thuận. Nói ngắn gọn, Mỹ chưa bao giờ hành xử như một cường quốc nghiêm túc, hiểu rõ lợi ích cốt lõi của mình là gì — đó là chấm dứt chiến tranh.

Giống như những người tiền nhiệm, cựu Tổng thống Joe Biden đã không nhận ra rằng việc mở rộng NATO không giới hạn sớm muộn cũng sẽ dẫn tới một cuộc đối đầu nguy hiểm với Nga. Ngay cả sau phong trào Maidan, việc Nga sáp nhập Crimea và cuộc chiến kéo dài ở Donbas, ông vẫn tiếp tục chạm vào điều mà cựu Đại sứ Mỹ tại Nga Bill Burns từng gọi là “lằn ranh đỏ nguy hiểm nhất đối với giới tinh hoa Nga, chứ không chỉ riêng ông Putin”. Lằn ranh đỏ đó chính là tư cách thành viên NATO của Ukraine. Bằng cách đẩy nhanh những nỗ lực đưa Ukraine vào quỹ đạo an ninh của phương Tây, dù việc gia nhập NATO trên danh nghĩa vẫn còn phải mất nhiều năm, ông Biden và Ngoại trưởng Antony Blinken đã vô tình góp phần tạo ra những điều kiện dẫn tới quyết định phát động cuộc xâm lược phi pháp của ông Putin. Người ta có thể lập luận rằng Nga không có quyền phủ quyết quyết định của các quốc gia có chủ quyền và bất kỳ nước nào cũng có quyền liên minh với bất cứ ai họ muốn, nhưng việc thực thi quyền tự do đó không phải lúc nào cũng là một lựa chọn khôn ngoan.

Một khi Nga đã phát động cuộc chiến phòng ngừa, chính quyền Biden đã đúng khi sử dụng sức mạnh của Mỹ — dưới hình thức các biện pháp trừng phạt và viện trợ quân sự quy mô lớn — để giúp Ukraine tự vệ, đồng thời nỗ lực ngăn nguy cơ leo thang ngoài tầm kiểm soát. Tuy nhiên, họ lại không ủng hộ các nỗ lực hòa giải của bên thứ ba, không bao giờ loại bỏ viễn cảnh Ukraine gia nhập NATO khỏi bàn đàm phán, và công khai hậu thuẫn các mục tiêu chiến tranh tối đa của Ukraine, chẳng hạn giành lại toàn bộ lãnh thổ đã mất, bao gồm cả Crimea, một nguyện vọng chính đáng của Kyiv nhưng gần như chắc chắn không thể đạt được. Một lần nữa, vấn đề ở đây không phải là đúng hay sai — xét về lẽ phải, Ukraine rõ ràng có chính nghĩa — mà là liệu những mục tiêu đó có thể đạt được với cái giá và mức rủi ro chấp nhận được hay không.

Kể từ khi trở lại Nhà Trắng vào năm 2025, ông Trump lại mắc sai lầm theo hướng ngược lại: gia tăng sức ép buộc Kyiv phải nhượng bộ trong khi phần lớn nương tay với Nga. Sai lầm đó càng trở nên nghiêm trọng bởi sự yếu kém về ngoại giao của những đặc phái viên thiếu kinh nghiệm như Steve Witkoff và Jared Kushner, những người dường như nghĩ rằng chỉ cần đưa ra vài thương vụ kinh doanh hấp dẫn trước mặt ông Putin là đủ để buộc ông chấm dứt chiến tranh. Bằng cách tạo cho Nga mọi lý do để tin rằng lợi thế vượt trội về quy mô cuối cùng sẽ mang lại chiến thắng, cách tiếp cận của ông Trump ngay từ đầu đã không có cơ hội đáng kể nào để đem lại hòa bình, chứ chưa nói đến việc kết thúc chiến tranh trong vòng “24 giờ” như ông từng hùng hồn tuyên bố trong chiến dịch tranh cử năm 2024.

Liệu có một con đường thứ ba hay không? Có, ít nhất về lý thuyết. Thay vì lúc thì đứng về phía này, khi lại chiều theo phía kia, Mỹ có thể hành xử như một bên trung gian hòa giải thực sự, tận dụng vị thế và đòn bẩy của mình để gây sức ép buộc cả hai bên đi đến thỏa thuận. Để tạo áp lực lên Nga, Washington nên khôi phục viện trợ quân sự cho Ukraine và giúp nước này chống đỡ những cuộc tấn công tên lửa ngày càng gây thiệt hại nặng nề của Nga. Nhưng Mỹ cũng cần thúc đẩy Ukraine hạ thấp kỳ vọng, và điều đó có nghĩa là việc nối lại viện trợ phải đi kèm điều kiện Kyiv giảm bớt các yêu sách của mình.

Về những điều khoản khái quát, tôi vẫn tin rằng Ukraine sẽ không thể giành lại Crimea hay phần lớn Donbas, dù trên chiến trường hay bàn đàm phán, và khả năng Ukraine gia nhập NATO trong tương lai phải được loại bỏ vĩnh viễn khỏi chương trình nghị sự. Tư cách thành viên EU vẫn có thể được chấp nhận, và Ukraine phải được phép duy trì một lực lượng quân sự đủ mạnh để răn đe mọi nỗ lực của Nga nhằm thay đổi hiện trạng trong tương lai. Đường biên giới mới cụ thể vẫn cần được thương lượng, và Nga sẽ phải chấp nhận quyền của Ukraine được giao thương với các nước khác, thu hút đầu tư nước ngoài từ bất kỳ nguồn nào và mua sắm vũ khí từ các cường quốc bên ngoài nếu muốn, miễn là những biện pháp đó không biến Ukraine trên thực tế thành đồng minh của một quốc gia hay liên minh quân sự khác.

Xin lưu ý rằng tôi hoàn toàn không vui vẻ gì với kịch bản này, và cũng không quá lạc quan rằng nó có thể đạt được. Đoạn văn trên chỉ là một phác thảo sơ bộ cho khuôn khổ của một thỏa thuận khả dĩ, và còn rất nhiều chi tiết cần được dàn xếp để nó có thể thành công. Để tìm hiểu một phân tích sâu sắc và giàu thông tin về cách tổ chức cũng như vận hành một nỗ lực như vậy, tôi đề xuất bài viết gần đây trên tạp chí Foreign Affairs của Matt Waldman và Samuel Charap.

Đáng tiếc là tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy có ai trong chính quyền Trump đủ năng lực xử lý một cuộc đàm phán hòa bình nghiêm túc, và các “thỏa thuận hòa bình” mang tính hình thức đạt được ở Gaza, với Iran hay trong một số cuộc xung đột khác không tạo ra chút niềm tin nào. Đòn bẩy của Mỹ đã suy giảm do cuộc chiến ở Iran, tình trạng thiếu hụt tên lửa đánh chặn cùng các loại vũ khí then chốt khác, và thâm hụt ngân sách liên bang ngày càng gia tăng. Ngay cả nếu ông Trump thực sự muốn làm trung gian hòa bình và giao nhiệm vụ cho những người có năng lực, cũng không rõ liệu ông còn đủ “quân bài” trong tay hay không.

Nếu đúng như vậy, kết luận đầy lo ngại của Ravi có lẽ là chính xác. Cuộc chiến sẽ tiếp diễn, người dân Ukraine sẽ tiếp tục gánh chịu đau thương, không ai đứng ra thúc đẩy một tiến trình hòa bình thực sự, và cuối cùng cả hai quốc gia đều sẽ phải chịu một kết cục tồi tệ hơn trong dài hạn. Giống như phần lớn các cuộc chiến khác, cả hai bên giờ đây sẽ ở trong tình trạng tốt hơn rất nhiều nếu cuộc chiến này chưa từng xảy ra.

Stephen M. Walt là cây bút bình luận của Foreign Policy và Giáo sư Quan hệ Quốc tế tại Đại học Harvard.