Công nghiệp vũ trụ: Biên giới mới tiếp theo của Trung Quốc

Nguồn: Kathleen Curlee và Sam Bresnick, “China’s Next Frontier,” Foreign Affairs, 14/10/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Bắc Kinh đang thách thức Washington trong không gian vũ trụ như thế nào?

Sáng ngày 19/08 vừa qua, ngành công nghiệp vũ trụ Trung Quốc đã vượt qua một ngưỡng cửa quan trọng. Ngay sau khi công ty hàng không vũ trụ LandSpace của Trung Quốc phóng một tên lửa ở vùng tây bắc nước này, tầng đẩy của nó – phần cần thiết để đưa tên lửa vào quỹ đạo – đã tách rời thành công và hạ cánh trở lại Trái Đất. Đây là lần đầu tiên một công ty Trung Quốc thu hồi tên lửa trên đất liền, và sự kiện này diễn ra sáu tuần sau lần thu hồi tên lửa đầu tiên của quốc gia này, do nhà thầu không gian quốc doanh hàng đầu của Trung Quốc thực hiện trên Biển Đông. Những sự kiện này đánh dấu bình minh của kỷ nguyên phóng tên lửa tái sử dụng tại Trung Quốc – một năng lực sẽ giải phóng tiềm năng to lớn cho ngành công nghiệp vũ trụ đang bùng nổ của nước này.

Phản ứng của Washington trước những bước tiến này khá bình thản. Mỹ vẫn thực hiện số vụ phóng nhiều gấp đôi và sở hữu nhiều vệ tinh trên quỹ đạo hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Nhưng Trung Quốc đang dần bắt kịp. Từ năm 2020 đến 2025, số lượng tên lửa do các công ty Trung Quốc phóng hàng năm đã tăng hơn gấp đôi, từ 39 lên 92. Các thực thể Trung Quốc cũng nộp đơn xin cấp phép cho hàng trăm nghìn vệ tinh viễn thông, trong lúc các công ty vũ trụ của nước này mọc lên như nấm. Nhiều công ty trong số đó, chẳng hạn như LandSpace, tuy còn khá mới nhưng lại rất giàu khả năng sáng tạo.

Bước tiến này mang lại những hệ lụy cả về kinh tế lẫn quân sự. Các công ty Trung Quốc có thể sớm cạnh tranh với các công ty Mỹ trong việc cung cấp cho những khu vực rộng lớn trên toàn cầu các dịch vụ dựa trên không gian như Internet vệ tinh. Trong khi đó, Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) – vốn xem ưu thế không gian vũ trụ là cần thiết để giành chiến thắng trong các cuộc chiến tương lai – đang phát triển một loạt năng lực vũ trụ cũng như một bộ vũ khí có thể tấn công vệ tinh. Điều này đặt ra rủi ro nghiêm trọng đối với quân đội Mỹ, những người phụ thuộc vào không gian để liên lạc, nắm bắt tình hình, và điều hướng, cũng như để thực hiện các cuộc tấn công chính xác và nhận cảnh báo tên lửa.

Sự phát triển của Trung Quốc với tư cách là một cường quốc vũ trụ nên là hồi chuông cảnh tỉnh đối với Mỹ. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Washington đã bắt đầu tin rằng sự thống trị của mình trong không gian vũ trụ là điều hiển nhiên. Họ không còn có thể chủ quan như vậy nữa. Ngành công nghiệp vũ trụ của Bắc Kinh càng tiến bộ, lợi thế về chi phí của họ sẽ khiến các công ty Mỹ càng khó cạnh tranh hơn nhiều, và năng lực quân sự của Trung Quốc sẽ làm tăng rủi ro biến không gian thành chiến trường trong các cuộc xung đột tương lai. Kỷ nguyên quyền lực vũ trụ bất khả xâm phạm của Mỹ đang khép lại, và Washington không có lựa chọn nào khác ngoài việc thích nghi.

CẤT CÁNH!

Chương trình vũ trụ của Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1950, khi nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông khởi xướng những nỗ lực hiện đại hóa PLA và thúc đẩy đổi mới công nghệ. Năm 1970, Trung Quốc phóng vệ tinh đầu tiên, và sang những năm 1980, nước này đã đưa nghiên cứu công nghệ vũ trụ trở thành ưu tiên quốc gia. Nhưng bước ngoặt đối với chương trình vũ trụ của Trung Quốc xảy ra trong Chiến tranh Vùng Vịnh 1990-1991, khi việc quân đội Mỹ khéo léo sử dụng các tài sản ngoài không gian giúp một liên quân tương đối nhỏ nhưng tiên tiến về công nghệ đánh bại quân đội Iraq chỉ trong vài ngày. Vệ tinh cho phép lực lượng Mỹ định vị trên địa hình sa mạc hiểm trở, cung cấp cho các chỉ huy thông tin về chiến trường với tốc độ và độ chính xác cao hơn, đồng thời giúp binh sĩ phối hợp nhịp nhàng giữa những khoảng cách xa. Bắc Kinh – trước đó còn chưa nhận ra mình đã tụt hậu đến mức nào – ngay lập tức hành động để bắt kịp.

Trong những năm sau đó, học thuyết của PLA nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng tăng của công nghệ tiên tiến, đặc biệt là vệ tinh, đối với tác chiến. Năm 2000, quân đội Trung Quốc bắt đầu phát triển dịch vụ định vị vệ tinh Bắc Đẩu của riêng mình để không phải phụ thuộc vào hệ thống GPS do Mỹ vận hành. Năm 2015, PLA thành lập Lực lượng Hỗ trợ Chiến lược, một tổ chức hiện đã giải thể, nhưng từng là nơi hợp nhất các nhiệm vụ tác chiến không gian, mạng, và điện tử của Trung Quốc, nhằm mục đích đẩy nhanh tiến bộ của các chương trình không gian. Cùng năm đó, một sách trắng của chính phủ Trung Quốc xác định không gian vũ trụ là lĩnh vực an ninh quốc gia then chốt. Kể từ đó, Trung Quốc đã chế tạo các tàu vũ trụ phục vụ viễn thông, điều hướng, và tình báo, giám sát cũng như trinh sát – những thành tựu mà các quan chức PLA từng quan sát chiến dịch Bão táp Sa mạc sẽ không thể nào tưởng tượng nổi.

Việc khuyến khích hoạt động thương mại trong không gian vũ trụ đã trở thành một trong những công cụ chính để Trung Quốc mở rộng chương trình không gian của mình. Năm 2014, Bắc Kinh mở cửa một phần lĩnh vực vũ trụ cho đầu tư tư nhân, và kể từ đó, hơn 400 công ty thương mại không gian của Trung Quốc đã xuất hiện. Bắc Kinh và chính quyền các tỉnh đã cung cấp tài chính cho các công ty này thông qua các quỹ đầu tư được nhà nước hậu thuẫn, trợ cấp cho việc nâng cấp nhà máy và phóng tên lửa, đồng thời cho phép các công ty tư nhân tiếp cận các cơ sở thử nghiệm và công nghệ của chính phủ. Năm 2025, các sứ mệnh không gian thương mại chiếm 54% tổng số của quốc gia, và vệ tinh thương mại chiếm 84% số tàu vũ trụ của Trung Quốc được đưa vào quỹ đạo. Hệ sinh thái công nghiệp vũ trụ rộng lớn của Trung Quốc – bao gồm các công ty thương mại, doanh nghiệp nhà nước, viện nghiên cứu, và trường đại học – đã cho phép nước này loại bỏ sự phụ thuộc vào GPS và mở đường cho sự phát triển của các công ty viễn thông vệ tinh và viễn thám nội địa mới.

Quay trở lại với công nghệ tên lửa tái sử dụng, công ty SpaceX của Mỹ đã tận hưởng một lợi thế lớn khi thực hiện tới năm trên tổng số sáu vụ phóng tại Mỹ. Nhưng hai vụ thu hồi có kiểm soát tầng đẩy tên lửa của Trung Quốc vào tháng 7 và tháng 8 cho thấy nước này đủ sức trở thành đối thủ cạnh tranh của Mỹ trong vòng một thập kỷ tới. Tên lửa tái sử dụng làm giảm chi phí và tăng tốc độ phóng tàu vũ trụ lên đáng kể; nếu Trung Quốc làm chủ được công nghệ này, họ có thể phát triển các chòm vệ tinh lớn một cách dễ dàng hơn nhiều.

Việc phóng tàu tái sử dụng cũng cho phép Trung Quốc phát triển khả năng Internet dựa trên không gian để cạnh tranh với mạng lưới do Starlink của SpaceX thống trị, một hệ thống Internet vệ tinh rộng lớn có khả năng kết nối ngang ngửa với nhiều mạng lưới trên mặt đất và có ý nghĩa sống còn đối với Ukraine trong cuộc chiến phòng thủ trước Nga. Dù các công ty Trung Quốc vẫn đang trong giai đoạn đầu phát triển công nghệ này, nhưng họ đang mở rộng quy mô rất nhanh. Các thực thể vận hành các chòm vệ tinh Quốc Võng và Thiên Phàm, vốn dự định cạnh tranh với Starlink, đang lập kế hoạch phóng gần 30.000 vệ tinh viễn thông trong vòng khoảng một thập kỷ tới. Hiện tại, những hệ thống này nhỏ hơn nhiều so với Starlink – vốn có hơn 11.000 vệ tinh trên quỹ đạo – nhưng cuối cùng chúng có thể trở thành những giải pháp thay thế xứng tầm. Thiên Phàm hiện đã có các thỏa thuận thử nghiệm với Brazil, Kazakhstan, Malaysia, và Thổ Nhĩ Kỳ về việc sử dụng mạng lưới vệ tinh của mình.

KHOA HỌC TÊN LỬA

Quá trình phát triển hoạt động thương mại trong không gian vũ trụ của Trung Quốc luôn đi đôi với khả năng ngày càng lớn trong việc sử dụng không gian để hỗ trợ quá trình hiện đại hóa quân đội. Bắc Kinh đã dành nhiều thập kỷ nghiên cứu cách quân đội Mỹ sử dụng vệ tinh, và hiện đang tự phát triển các năng lực không gian liên quan đến an ninh quốc gia. Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc vận hành hơn 500 vệ tinh có thể thực hiện các nhiệm vụ tình báo, giám sát, và trinh sát, kết hợp cùng hệ thống định vị bằng vệ tinh, cho phép PLA xác định vị trí và theo dõi lực lượng của Mỹ cũng như đồng minh trên khắp thế giới. Các chiến lược gia của PLA xác định các tài sản không gian của Bộ Quốc phòng Mỹ là những mục tiêu có giá trị lớn, bởi vì quân đội Mỹ phụ thuộc vào chúng cho gần như mọi bước trong quy trình mà họ gọi là “chuỗi tiêu diệt”: tìm kiếm, ngắm bắn, tấn công mục tiêu, và sau đó đánh giá kết quả.

Để khai thác sự phụ thuộc của Mỹ vào vệ tinh, Bắc Kinh đang đầu tư vào một loạt các vũ khí chống vệ tinh. Kể từ năm 2007, khi thử nghiệm thành công tên lửa chống vệ tinh đầu tiên, Trung Quốc đã phát triển nhiều công cụ khác, bao gồm tác chiến điện tử và vũ khí năng lượng định hướng, có thể gây nhiễu tín hiệu vệ tinh hoặc làm hỏng các cảm biến mà không cần phá hủy vệ tinh về mặt vật lý. Các tàu vũ trụ của Trung Quốc cũng có thể thực hiện các thao tác ngày càng tinh vi: năm 2022, vệ tinh Thực tiễn-21 của Trung Quốc đã tự gắn vào một vệ tinh đã ngừng hoạt động của nước này và di chuyển nó sang một quỹ đạo khác. Một hành động kiểu này có thể mang tính chất vô hại – như dùng để sửa chữa và tiếp nhiên liệu cho vệ tinh hoặc dọn rác vũ trụ – nhưng cũng có thể cho phép các nền tảng của Trung Quốc thao túng các tàu vũ trụ khác, bao gồm cả vệ tinh quân sự của Mỹ. Khả năng Bắc Kinh đánh hạ vệ tinh Mỹ theo đó đặt ra một thách thức đặc biệt nghiêm trọng đối với quân đội Mỹ ở Đông Á, nơi mà trong trường hợp xảy ra xung đột, Trung Quốc sẽ ít phụ thuộc vào các tài sản ngoài không gian hơn nhiều so với Mỹ.

Song song với đó, sự trỗi dậy trong không gian vũ trụ của Trung Quốc đã và đang định hình các động lực an ninh quốc tế rộng lớn hơn. Trong cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine năm 2022, các công ty Trung Quốc đã cung cấp hình ảnh vệ tinh về chiến trường giúp lực lượng Nga tiến hành các chiến dịch quân sự. Xuyên suốt cuộc chiến ở Iran, các tổ chức Trung Quốc đã cung cấp cho Tehran những hình ảnh vệ tinh, bao gồm hình ảnh về một căn cứ ở Jordan mà Iran đã tấn công vào tháng 7 và khiến ba quân nhân Mỹ thiệt mạng. Khi lĩnh vực thương mại không gian của Trung Quốc mở rộng, những quan hệ này cũng có thể phát triển theo, giúp nhiều quốc gia và các chủ thể phi quốc gia vốn không có chương trình vũ trụ tiên tiến có thể tiếp cận được những lợi ích đó. Khả năng tiếp cận rộng rãi này có thể được dùng để cứu người trong các thảm họa thiên nhiên hoặc các trường hợp khẩn cấp khác. Nhưng mặt khác, nó cũng có thể trao cho các đối thủ khả năng nhắm mục tiêu hiệu quả hơn vào lực lượng của Mỹ và đồng minh trên toàn cầu.

NHIỆM VỤ SỐNG CÒN

Chứng kiến sức mạnh vũ trụ của Trung Quốc ngày càng lớn mạnh, Washington đã bắt đầu các động thái bảo vệ một số mạng lưới vệ tinh của mình. Lực lượng Không gian Mỹ đã đa dạng hóa vị trí của một số tài sản nhạy cảm nhất và tăng cường mua sắm các vệ tinh mới. Những khoản đầu tư này tuy hữu ích nhưng chưa đủ để giải quyết các lỗ hổng của Mỹ. Xét đến những năng lực mà Trung Quốc đã có hoặc sẽ sớm phát triển, hiện có nhiều kịch bản có thể xảy ra trong đó quân đội Mỹ sẽ phải hoạt động trong tình trạng liên lạc vệ tinh bị ngăn chặn hoặc suy giảm, tín hiệu GPS bị nhiễu, và thông tin tình báo từ quỹ đạo không gian bị hạn chế.

Vì thế, quân đội Mỹ nên đầu tư vào các công nghệ non trẻ, chẳng hạn như hệ thống dẫn đường quán tính và cảm biến lượng tử, những thứ có thể một ngày nào đó giúp binh sĩ di chuyển chính xác mà không cần GPS. Họ cũng nên đầu tư vào các giải pháp thay thế vệ tinh đang nổi lên, như trạm chuyển tiếp ở độ cao lớn, bao gồm máy bay không người lái hoặc khinh khí cầu hoạt động gần Trái Đất hơn và có thể liên kết các mạng viễn thông; liên lạc bằng laser, sử dụng ánh sáng để truyền thông tin và rất khó bị gián đoạn; cùng với mạng lưới dạng lưới (mesh networks), tự động định tuyến lại tín hiệu vòng qua các điểm nút đã bị phá hủy, giúp đường dây liên lạc bền bỉ hơn. Các cơ chế ủy quyền ra quyết định thậm chí sẽ còn quan trọng hơn so với trước đây, bởi nguy cơ mất kết nối ngày càng gia tăng.

Washington cũng nên tăng cường các nỗ lực thúc đẩy một ngành công nghiệp phóng nội địa có tính cạnh tranh hơn. Mỹ đang dẫn đầu thế giới về phóng tàu vũ trụ phần lớn là nhờ vào SpaceX. Dù công ty này là một tài sản khổng lồ, vị thế gần như độc quyền của họ lại là một rủi ro. Nếu trục trặc kỹ thuật hoặc thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng phóng làm gián đoạn các hoạt động của SpaceX, thì khả năng phóng vệ tinh của Mỹ sẽ bị thu hẹp nghiêm trọng. Năm nay, SpaceX đã công bố kế hoạch cho Falcon 9, tên lửa tái sử dụng chủ lực của hãng, “nghỉ hưu.” Falcon 9 cuối cùng sẽ được thay thế bởi Starship, một tên lửa tải trọng cao mới, có thể mang nhiều vệ tinh hơn vào quỹ đạo trong mỗi lần phóng. Nhưng việc khởi động của quá trình loại bỏ này tạo ra tình trạng thiếu hụt năng lực phóng, đe dọa đến sự phát triển liên tục của nền kinh tế không gian vũ trụ Mỹ. Để giảm thiểu rủi ro này, Washington nên tiếp tục trao các hợp đồng chính phủ cho nhiều công ty hơn nữa.

Bên cạnh việc đầu tư vào năng lực phóng, Mỹ nên cung cấp hỗ trợ cho các công ty đang phát triển các công nghệ không gian mới nổi có tính ứng dụng quan trọng đối với an ninh quốc gia, nhưng lại chật vật trong việc thu hút đủ nhu cầu thương mại trong những năm đầu – một cách tiếp cận mà họ từng áp dụng với SpaceX kể từ thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này. Các cơ quan liên bang có thể đóng vai trò là “khách hàng mỏ neo” cho những công nghệ được Washington xác định là then chốt cho các mục đích an ninh quốc gia, qua đó cung cấp cho các công ty sản xuất nguồn doanh thu ổn định và tính chính danh để giúp họ phát triển.

Việc xác định các công nghệ mới nổi quan trọng và tài trợ một cách nhất quán cho chúng là điều thiết yếu để duy trì vị thế dẫn đầu trong không gian vũ trụ. Đáng tiếc là, các ưu tiên của Mỹ trong lĩnh vực này thường dễ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi qua các đời tổng thống và tại Quốc hội. Khi Liên Xô sụp đổ, mức độ sẵn sàng đầu tư mạnh tay vào không gian của Washington cũng sụp đổ theo. Tất nhiên, Mỹ đã không hoàn toàn từ bỏ không gian, minh chứng là các dự án như chương trình tàu con thoi, các sứ mệnh Mặt Trăng Artemis, và việc thành lập Lực lượng Không gian Mỹ. Nhưng sự quan tâm của chính phủ đối với lĩnh vực này lại lúc thăng lúc trầm. Ngược lại, Bắc Kinh đã kiên định theo đuổi các mục tiêu không gian của mình kể từ đầu những năm 1990, liên tục điều chỉnh các chương trình khi công nghệ phát triển mà không bao giờ đánh mất mục tiêu cuối cùng. Nếu Washington muốn tiếp tục cạnh tranh với Trung Quốc, họ cũng cần phải duy trì các cam kết của mình.

Cuối cùng, Mỹ sẽ được hưởng lợi từ việc hợp tác với các đồng minh. NATO hiện đang thử nghiệm các cách thức chia sẻ chuyên môn về không gian của các thành viên và tích hợp chúng vào các hoạt động của đồng minh. Vào tháng 7, tám nước đồng minh của Mỹ đã khởi xướng sáng kiến HALO, nhằm kết nối các vệ tinh quân sự có chủ quyền thành một mạng lưới giúp tối ưu hóa hệ thống liên lạc, tình báo, và theo dõi tên lửa. Dự án STARLIFT của NATO – được thành lập năm 2024 – đang khám phá xem làm thế nào các bãi phóng trải rộng trên toàn lãnh thổ đồng minh có thể đẩy nhanh tốc độ tiếp cận quỹ đạo trong một cuộc khủng hoảng. Sau khi giảm bớt ưu tiên cho các hoạt động hợp tác an ninh quốc tế trong những năm gần đây, Mỹ nên quay trở lại và cam kết mạnh mẽ hơn đối với an ninh vũ trụ của khối đồng minh. Khả năng tiếp cận tài nguyên không gian của đồng minh sẽ là điều vô cùng thiết yếu trong các cuộc xung đột tương lai trải rộng trên khoảng cách lớn, đặc biệt là nếu chính các tài sản ngoài không gian của Mỹ đã bị triệt hạ.

Tuy nhiên, ngay cả những biện pháp hiện đại hóa và tăng cường khả năng phục hồi hiệu quả nhất cũng không đủ để bảo vệ tài sản của Mỹ trong không gian trước những đối thủ quyết tâm. Suốt hàng thập kỷ, Mỹ đã luôn có thể dựa vào sự thống trị trong không gian khi tham chiến. Giờ đây, việc quá phụ thuộc vào vệ tinh và vào SpaceX đang trở thành những điểm yếu lớn. Washington phải tự bảo vệ mình trong một thế giới nơi họ không còn là cường quốc vũ trụ duy nhất. Việc duy trì vị trí dẫn đầu trong cuộc đua không gian mới sẽ đòi hỏi cả sự đầu tư vào kiến trúc không gian, lẫn việc thiết lập các kế hoạch dự phòng nhằm bù đắp cho những mối nguy của kỷ nguyên không gian đa cực đang hình thành.

Kathleen Curlee là chuyên gia phân tích nghiên cứu cấp cao tại Trung tâm An ninh và Công nghệ Mới nổi thuộc Đại học Georgetown.

Sam Bresnick là nghiên cứu viên và học giả tại Trung tâm An ninh và Công nghệ Mới nổi thuộc Đại học Georgetown.