
Nguồn: Andrew Mertha, “China’s Purges Are Working as Designed,” Foreign Affairs, 17/09/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Một hệ thống kỷ luật độc đáo đã giúp đảng trụ vững.
Suốt hai thập kỷ qua, nhiều học giả tin rằng lý do chính khiến chính quyền cộng sản Trung Quốc tồn tại được sang thế kỷ 21 – trong khi mọi chế độ cộng sản ở châu Âu đều sụp đổ – là nhờ họ đã xây dựng được các thể chế vững chắc và lâu dài. Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã từ bỏ chế độ độc tài cá nhân khó lường thời Mao Trạch Đông và thiết lập nền móng cho một quốc gia hiện đại. Họ đặt ra giới hạn nhiệm kỳ cho các nhà lãnh đạo, áp dụng cơ chế lãnh đạo tập thể, và dần chuyển sang đề bạt quan chức dựa trên năng lực. Những bước đi này giúp đảng đủ sức bật dậy sau những cú sốc từ cả bên trong lẫn bên ngoài từng đánh gục các hệ thống xã hội chủ nghĩa khác.
Tuy nhiên, nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình lại dành một thập kỷ qua để phá bỏ gần như mọi thể chế được cho là đã giữ cho đảng vững mạnh. Ông bãi bỏ giới hạn nhiệm kỳ Chủ tịch nước vào năm 2018, làm suy yếu cơ chế lãnh đạo tập thể, và từ chối chỉ định người kế nhiệm. Ông cũng tùy ý thanh trừng các quan chức cấp cao, đặc biệt là trong lĩnh vực nhạy cảm nhất: quân đội. Tháng 1 năm nay, chỉ vài tháng sau khi các nhà lãnh đạo đảng trục xuất chín sĩ quan cấp cao, Bộ Quốc phòng Trung Quốc thông báo rằng Tướng Trương Hựu Hiệp và Tướng Lưu Chấn Lập – cho đến lúc đó lần lượt là sĩ quan quân đội cấp cao nhất và chỉ huy tác chiến hàng đầu của Quân Giải phóng Nhân dân – đã bị đưa vào diện điều tra. Kể từ năm 2022, theo dữ liệu do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tổng hợp, đảng đã chính thức thanh trừng 36 tướng và trung tướng, trong khi rất nhiều người khác đang vắng bóng một cách đáng ngờ.
Tại Washington, nhiều nhà quan sát xem những cuộc thanh trừng này là bằng chứng cho sự yếu kém của Trung Quốc. Họ nhìn thấy một nhà lãnh đạo đầy quyền lực đang bị sự đa nghi chi phối và ám ảnh với việc duy trì quyền lực của chính mình. Nếu sức mạnh của đảng thực sự dựa trên các thể chế độc lập mà Trung Quốc đã xây dựng trong thời kỳ hậu Mao Trạch Đông, thì các cuộc thanh trừng của Tập có lẽ là dấu hiệu cảnh báo về sự mong manh và thậm chí là nguy cơ sụp đổ. Nhưng đảng chưa cho thấy bất kỳ dấu hiệu tan rã nào. Trái lại, trong lúc các cuộc thanh trừng tiếp diễn, Tập và đảng dường như lại càng trở nên mạnh mẽ hơn.
Thay vì làm suy yếu quyền lực, cách ĐCSTQ làm sạch đội ngũ có thể phần nào giải thích lý do giúp họ tồn tại bền lâu. Thanh trừng không phải là một sự kiện mà là một quá trình – một quá trình mà đảng đã vận hành theo cách gần như không đổi xuyên suốt một thế kỷ qua. Quá trình này thường xuyên nhắm mục tiêu, đánh giá, và buộc cán bộ phải tìm kiếm sự khoan hồng để giữ vững vị trí của họ trong hệ thống. Mục tiêu là cải tạo thay vì loại bỏ họ hoàn toàn, theo đó giúp củng cố đảng bằng cách khuyến khích sự vâng lời và cống hiến cho sự nghiệp chung. Các nhà lãnh đạo ĐCSTQ cũng tin rằng cách làm này đang phát huy hiệu quả: Tập chủ trương áp dụng “tự cách mạng,” nghĩa là chỉnh huấn liên tục, như một phương pháp giúp Trung Quốc thoát khỏi số phận hẩm hiu của Liên Xô và các chế độ xã hội chủ nghĩa khác mà giờ đây đã lùi vào dĩ vãng. Vì lẽ đó, điều đe dọa sự trường tồn của đảng không phải là số lượng quan chức bị thanh trừng, mà là một vấn đề duy nhất mà chiến lược này không thể giải quyết và thậm chí có thể làm cho nó tồi tệ hơn: cách xử lý vấn đề kế nhiệm. Câu hỏi này mới là thứ quyết định sự thành bại của chế độ tự cách mạng, bất kể người ta cố gắng đến đâu để tránh mục nát từ bên trong.
TRỊ BỆNH CỨU NGƯỜI
Lịch sử thanh trừng ở Trung Quốc thật ra đã có từ trước khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào năm 1949. Trong một số trường hợp, giống như các chế độ tương tự, ĐCSTQ phát động những cuộc thanh trừng bạo lực để loại bỏ cán bộ khỏi hàng ngũ. Kiểu thanh trừng này giống như những gì Joseph Stalin từng làm ở Liên Xô nhằm loại trừ ai đó khỏi đảng, thông qua việc bỏ tù, lưu đày, hoặc tử hình. Nạn nhân của một cuộc thanh trừng như vậy sẽ không bao giờ có đường quay về. Mao Trạch Đông đã áp dụng chiến thuật này từ năm 1930, khi ông xử tử hơn 700 sĩ quan quân đội để cho thấy khả năng kiểm soát tuyệt đối.
Nhưng điều mà ĐCSTQ cũng làm – và là điểm độc đáo cho sự thống trị không ngừng của họ – lại không phải là một cuộc thanh trừng theo nghĩa truyền thống. Các nhà lãnh đạo ĐCSTQ thường tìm đến một phương pháp kỷ luật khác: chỉnh huấn. Chỉnh huấn sẽ giữ một người ở lại trong đảng, dù đôi khi họ sẽ bị giảm sút địa vị nghiêm trọng. Trong khi khái niệm thanh trừng truyền thống tìm cách loại bỏ kẻ thù trong hàng ngũ (thuật ngữ tiếng Trung là “thanh đảng”/ có nghĩa là “làm sạch đảng”), thì chỉnh huấn nhằm giữ lại và uốn nắn các cán bộ trong khi vẫn đặt họ trong quỹ đạo của đảng.
Xuyên suốt lịch sử, ĐCSTQ đã tìm cách chỉnh huấn cán bộ thường xuyên hơn nhiều so với tìm cách loại bỏ họ. Tháng 12/1929, tại làng Cổ Điền thuộc tỉnh Phúc Kiến, Mao đề ra nghị quyết mang tên “Về việc sửa chữa những tư tưởng sai lầm trong đảng,” khẳng định sự kiểm soát của đảng đối với quân đội. Nghị quyết cũng cho thấy cách đảng hiểu về kỷ luật nội bộ: nó mô tả các mục tiêu không phải là kẻ thù, mà là những người có sai lệch trong tư tưởng. Các cán bộ này có thể có “quan điểm thuần túy quân sự” (một góc nhìn tách rời chính trị), thúc đẩy dân chủ cực đoan (một hệ thống chính trị thiếu quyền lực của đảng), và ủng hộ chủ nghĩa cá nhân. Nghị quyết của Mao xem mỗi trường hợp trong số này là một căn bệnh, đôi khi có thể được chữa khỏi thông qua quá trình phê bình và tự phê bình trước mặt các đồng chí khác. Và nó đi kèm với một lời hứa: nếu đảng viên chấp thuận quá trình này, ĐCSTQ sẽ giữ họ lại thay vì tiêu diệt họ.
Tại khu vực Diên An phía bắc Trung Quốc, nơi Mao và những người theo ông thiết lập căn cứ địa thời chiến từ giữa những năm 1930, các nhà lãnh đạo đã biến chỉnh huấn thành học thuyết. Số lượng đảng viên bùng nổ từ khoảng 40.000 người vào năm 1937 lên 800.000 người vào năm 1940, đồng nghĩa với việc hầu hết mọi người trong tổ chức đều là người mới và chưa đủ độ tin cậy trong mắt ban lãnh đạo. Phong trào Chỉnh phong 1942–1945 chính là giải pháp. Mỗi cán bộ phải viết tự truyện, đối chiếu cuộc đời mình với các bản đề cương tự kiểm điểm in sẵn, thú nhận lỗi lầm trước chi bộ hoặc đơn vị công tác, rồi được ban tổ chức nhân sự của đảng kiểm tra, chấm điểm, phân loại. Vào tháng 02/1942, Mao đã tóm tắt phương pháp này bằng câu nói nổi tiếng: “Trị bệnh cứu người.”
Nhưng chuyện không hề nhẹ nhàng như vậy. Chiến dịch Diên An diễn ra rất tàn khốc: nhiều người bị tra tấn, hàng ngàn người thậm chí mất mạng. Các chiến dịch sau đó còn khắc nghiệt hơn. Tuy nhiên, cách tiếp cận của Mao đã tạo ra sự khác biệt giữa chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc và những biến thể gần gũi nhất với nó. Stalin nhanh chóng hành quyết những cán bộ không đáng tin cậy, còn Pol Pot đẩy họ xuống những ngôi mộ tập thể. Tại Trung Quốc, chiến lược phổ biến là giữ lại cán bộ, cố gắng uốn nắn họ, đồng thời xây dựng các hồ sơ vĩnh viễn ghi chép chi tiết mọi sai lầm họ từng mắc phải. Quy trình cơ bản ngày nay vẫn gần như giống hệt. Một người bị chỉ đích danh vì sai lệch theo cách nào đó và bị buộc phải viết bản tường trình về những thiếu sót của bản thân. Bản tường trình này được đối chiếu với những gì đồng nghiệp nói về họ và những gì hồ sơ của tổ chức (trong lý lịch cá nhân của người đó) đã lưu giữ. Cán bộ này sau đó bị xếp vào một thang các mức hình phạt có thể có, từ không xử lý cho đến khai trừ khỏi đảng. (Hầu hết các lệnh trừng phạt đều rơi vào khoảng giữa, bao gồm cảnh cáo nghiêm khắc hoặc đình chỉ công tác để thử thách). Khi phán quyết về cách xử lý một cán bộ được ban hành, người đó – nếu được xem là đã thành khẩn nhận tội – sẽ được giữ lại đảng, nhưng là theo những điều khoản có thể bị thu hồi và hoàn toàn phụ thuộc vào chiều gió chính trị. Và mọi mảnh giấy được tạo ra trong quá trình này sẽ nằm lại vĩnh viễn trong hồ sơ chính thức của cán bộ đó.
Đó là quy trình từng được sử dụng vào năm 1952 để xử lý một thủ kho ở làng có hành vi biển thủ ngũ cốc. Nó cũng là quy trình đang được áp dụng hiện nay cho Bộ Chính trị Trung Quốc, nơi các thành viên – những người đàn ông quyền lực nhất đất nước – đọc to bản tự phê bình cho nhau nghe mỗi năm một lần. Bản thú tội của họ sẽ được ghi lại và đính kèm vĩnh viễn vào hồ sơ theo đúng khuôn mẫu từng dùng ở Diên An. Ngay cả khi Tập đã mở rộng phạm vi đối tượng có thể bị nhắm tới, cỗ máy này vẫn không hề thay đổi.
Vụ thanh trừng các sĩ quan quân đội đang diễn ra dưới thời Tập nhiều khả năng cũng đi theo mô hình này. Trương và Lưu đã bị đưa vào diện điều tra chứ không bị xử bắn, và có thể họ vẫn được giữ lại trong danh sách của đảng, ngay cả khi phải gánh thêm một tập hồ sơ cá nhân đen tối hơn, được giao một chức vụ vô thưởng vô phạt hoặc hoàn toàn bị gạt ra khỏi đời sống công cộng. Chẳng hạn, vào năm 2023, nhà ngoại giao Tần Cương đã bị cách chức Ngoại trưởng; các bản tin điều tra cho biết ông vẫn giữ được tư cách đảng viên nhưng bị chuyển sang một công việc bàn giấy cấp thấp tại nhà xuất bản của bộ. Và ngay cả khi Trương và Lưu bị khai trừ khỏi đảng, thì thanh trừng vẫn là trường hợp ngoại lệ chứ không phải thông lệ, đúng như thực tiễn lâu nay của đảng. Trong số 101 tướng và trung tướng mà Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế xác định là đã bị thanh trừng hoặc có khả năng bị thanh trừng, chỉ có 14 người chính thức bị loại khỏi đảng tính đến tháng 2 vừa qua.
TẬP HỒ SƠ DUY NHẤT
Chỉnh huấn hiếm khi, nếu không muốn nói là không bao giờ, làm thay đổi được niềm tin thực sự của các cán bộ. Tám mươi năm bằng chứng, trong đó phần lớn đến từ chính nội bộ đảng, cho thấy cán bộ chỉ học vẹt các kịch bản được giao, tỏ ra ăn năn như yêu cầu, rồi sau đó quay lại với hành vi cũ ngay khi chiến dịch kết thúc. Đây là một quá trình mang tính nghi thức đến mức những người tham gia học được cách nói chính xác những gì người đánh giá muốn nghe.
Tuy nhiên, mục tiêu chính của quá trình này không phải là cải tạo niềm tin mà là để tạo ra tài liệu lưu vào hồ sơ. Một tập hồ sơ như vậy chứa đựng dữ liệu khách quan về nhân sự, cũng như những đánh giá có thể quan sát được về những thiếu sót chính trị của cán bộ. Chính những giấy tờ này cho phép chế độ duy trì tính kỷ luật ngay cả khi không cán bộ nào thay đổi cách họ hành động hay suy nghĩ.
Đối với các cán bộ và những người bị chỉnh huấn, quá trình này giúp phân loại ai vẫn đang được lòng và ai đã đánh mất sự ủng hộ của lãnh đạo. Trong lúc các cán bộ liên tục ganh đua giành vị thế, một cuộc thanh trừng là điều bất thường và mang tính tàn phá. Đối với hầu hết đảng viên, sống sót qua chỉnh huấn với hình phạt tối thiểu là một lý do để thở phào (thường đi kèm với mong muốn tiếp tục cống hiến cho một chế độ khoan dung), đan xen chút lo sợ rằng chiến dịch tiếp theo vẫn đang chực chờ phía trước. Khi mở rộng ra 100 triệu đảng viên, quá trình này tạo ra tính kỷ luật ăn sâu vào tiềm thức mỗi người, qua đó củng cố vòng kìm kẹp quyền lực của tổ chức. Mỗi cán bộ thức dậy mỗi ngày đều biết tập hồ sơ ấy vẫn tồn tại và có thể được dùng để chống lại họ bất cứ lúc nào.
Bản ghi chép vĩnh viễn, được chuẩn hóa, và có thể mở lại để xem xét lịch sử xuất thân, các quan hệ và những điểm yếu của mỗi đảng viên cũng là một hệ thống thông tin mang lại cho các nhà lãnh đạo đảng quyền lực rất lớn. Các nhà cai trị chuyên chế cần thông tin để ngăn chặn mối đe dọa đối với quyền lực của họ; hệ thống hồ sơ nhân sự của đảng, tràn ngập thông tin về cán bộ đảng, là một kênh thông tin không thể thay thế đối với giới cầm quyền. Hầu hết các cán bộ đều sẵn sàng nghe theo ý muốn của đảng, nhưng với một thiểu số nhỏ không thể hiện thái độ đúng mực trước một chiến dịch kỷ luật, đảng có thể khai trừ hoặc tống họ vào tù, dập tắt ngay mọi mầm mống nổi loạn từ bên trong. Các vụ đào tẩu và bất đồng chính kiến cấp cao thỉnh thoảng vẫn xảy ra, nhưng nếu có thì chúng cũng hiếm khi được tổ chức chặt chẽ và thường nhanh chóng tàn lụi.
Việc lưu trữ hồ sơ có thể bị cho là sẽ tạo ra làn sóng phẫn nộ trong số các cán bộ, nhưng quá trình này được thiết kế để phân tán trách nhiệm, qua đó bảo vệ Bắc Kinh khỏi các phản ứng ngược. Không có bất kỳ cá nhân hay tổ chức đơn lẻ nào đưa ra phán quyết chỉnh huấn. Thay vào đó, các đội đặc nhiệm của đảng (thường gọi là tổ công tác) được huy động để soạn thảo phán quyết, các đồng nghiệp tại nơi làm việc sẽ tán thành, và sau đó một ủy ban ở cấp quản lý cao hơn sẽ phê duyệt. Phán quyết được chuyền qua tay đủ nhiều người trong quá trình để quyền tác giả được gộp lại và san sẻ, khiến không một cá nhân lãnh đạo hay thực thể nào bị xem là phải chịu trách nhiệm hoàn toàn. Thậm chí bản thân người cán bộ, thông qua tự phê bình, cũng là một đồng tác giả của bản phán quyết đó.
Kỷ luật cán bộ bằng chỉnh huấn cũng là một công cụ để điều phối. Hệ thống đảng-nhà nước của Trung Quốc là một mạng lưới khổng lồ bao gồm các cơ quan hành chính, cơ sở quyền lực khu vực và văn phòng, những nơi có lợi ích riêng và thường xuyên phải mặc cả với nhau. Một chiến dịch chỉnh huấn là một trong số ít công cụ có thể vượt qua những rạn nứt này. Giống như các chiến dịch quy mô lớn khác của đảng, chẳng hạn như chính sách một con, các cán bộ hiểu rằng việc tuân thủ chỉnh huấn là bắt buộc và là ưu tiên hàng đầu của lãnh đạo. Các chiến dịch kỷ luật đưa ra những củ cà rốt và cây gậy rõ ràng, bao gồm sự khoan hồng cho những người có thái độ đúng đắn, hoặc một sự nghiệp bị đày đọa, thậm chí là lưu đày, cho những kẻ làm ngược lại. Nhiều cán bộ hay hưởng lợi từ việc lợi dụng sự phân tán trong hệ thống chính trị Trung Quốc đều biết cách gác lại mọi thứ khác để hòa vào các chiến dịch kỷ luật, cung cấp cho Bắc Kinh một cách thức rõ nét để áp đặt các ưu tiên thống nhất và tăng cường sự kiểm soát của đảng.
NHỮNG GÌ KỶ LUẬT KHÔNG THỂ GIẢI QUYẾT
Lịch sử Trung Quốc đầy rẫy những ví dụ về các triều đại hùng mạnh dần suy yếu và cuối cùng sụp đổ. Để tránh kết cục này, giải pháp của Mao là huy động quần chúng: ông tin rằng chỉ khi chịu sự giám sát của nhân dân, chính phủ mới không trì trệ. Câu trả lời của Tập – được đưa ra vào năm 2021 và được nâng cấp kể từ đó – là tiến trình tự cách mạng của đảng. Trong khuôn khổ này, phương thuốc chữa trị những căn bệnh của đảng chỉ có thể đến từ bên trong, chứ không phải từ thế lực bên ngoài nào. Các chiến dịch chỉnh đốn đang diễn ra yêu cầu mọi quan chức phải tự kỷ luật, và việc thanh trừng triệt để đối với một số cán bộ là bằng chứng không thể chối cãi cho thấy việc không tuân thủ sẽ gánh hậu quả. Đây là lần đầu tiên đảng công khai đặt cơ chế sinh tồn của chính mình vào trong nội bộ.
Khâu dàn xếp cũng diễn ra rõ ràng không kém. Vào mùa thu năm 2014, trong lúc các cuộc điều tra đang diễn ra nhằm hạ bệ hai nhà lãnh đạo quân đội, Tập đã triệu tập khoảng 400 sĩ quan cấp cao đến cùng một hội trường ở làng Cổ Điền, nơi Mao ban hành “Về việc sửa chữa những tư tưởng sai lầm trong đảng.” Truyền thông nhà nước gọi đó là “hội nghị Cổ Điền mới.” Sang năm 2024, Tập đã triệu tập quân đội để thảo luận về công tác chính trị (nói cách khác là lòng trung thành tư tưởng) tại Diên An – một lời nhắc nhở rõ ràng rằng đảng nhìn thấy đường dây liên kết trực tiếp từ các chiến dịch chỉnh phong trong quá khứ đến sức mạnh hiện tại của mình.
Ẩn dưới những biểu tượng này là nỗi sợ của Tập, rằng Trung Quốc sẽ có kết cục giống Liên Xô, nơi Đảng Cộng sản đã để các cơ chế kỷ luật nội bộ thui chột và tự tay tạo nên sự sụp đổ của chính mình. Bắc Kinh tin rằng các cuộc thanh trừng và chỉnh huấn phải diễn ra liên tục dài lâu nếu đảng muốn duy trì quyền lực. Bất kể phân tích về sự sụp đổ của Liên Xô có chính xác hay không, sức mạnh liên tục của ĐCSTQ cho thấy phương pháp kỷ luật cán bộ của đảng thực sự có thể giải thích cho sự tồn tại lâu bền của họ. Các cuộc thanh trừng của Tập không nên được đo lường bằng việc họ đã giăng bẫy bao nhiêu cán bộ, mà là bằng việc chúng có tiếp tục tạo ra hồ sơ, phán quyết, và khả năng duy trì nội bộ giúp đảng nắm quyền kiểm soát vững chắc hay không.
Tuy nhiên, những gì củng cố đảng cũng đồng thời làm suy yếu một số công cụ quyền lực của Trung Quốc. Các vị trí chỉ huy quân sự cấp cao bị bỏ trống hoặc được giao cho những sĩ quan thiếu kinh nghiệm hơn, trong khi các sĩ quan tương lai học được rằng bản lý lịch an toàn nhất là một bản lý lịch mỏng. Khi buộc phải lựa chọn, kiểm soát chính trị luôn quan trọng với đảng hơn là hiệu quả tác chiến. Đây là sự đánh đổi mà đảng đã sẵn sàng thực hiện trong suốt một thế kỷ qua và sẽ tiếp tục làm như vậy.
Thêm vào đó, phương pháp thanh trừng của Trung Quốc không thể giải quyết được mối nguy hiểm trong việc kế nhiệm. Chỉnh huấn không tạo ra cơ chế nào để chọn nhà lãnh đạo tiếp theo – nếu có thì, bằng cách đảm bảo không cấp dưới nào có thể xây dựng vị thế độc lập, nó làm cho sự xuất hiện của một người kế nhiệm đủ uy tín lại càng trở nên khó khăn hơn. Kế nhiệm, chứ không phải kỷ luật, mới là điểm yếu của hệ thống. Thế hệ lãnh đạo ĐCSTQ đi trước, bao gồm Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, đã vượt qua thách thức kế nhiệm bằng cách dựa vào quyền uy không thể lay chuyển của họ với tư cách là những nhà cách mạng từng chiến đấu cho sự sống còn của đảng, trong khi các nhà lãnh đạo sau này dựa vào các thể chế – giới hạn nhiệm kỳ, lãnh đạo tập thể, và các quy tắc kế nhiệm đã được chuẩn hóa – những thứ mà Tập đã dứt khoát xóa bỏ. Nhà lãnh đạo đương nhiệm không có cả hai; điều này làm cho vấn đề kế nhiệm trở nên đặc biệt cấp bách. Thời điểm đáng lo ngại cho sự ổn định của Trung Quốc không phải là lúc các vị tướng biến mất giữa một cuộc điều tra, mà là khi người đọc hồ sơ của họ bắt đầu già đi, phải rời khỏi vị trí mà không có câu trả lời về việc ai sẽ là người tiếp nối.
ĐCSTQ sẽ không sụp đổ: hệ thống hồ sơ tồn tại chính xác là để ngăn chặn sự rạn nứt của giới tinh hoa, và nó đã phát huy tác dụng. Thay vào đó, điều có thể xuất hiện là một quốc gia yếu hơn về quân sự nhưng lại mạnh hơn về chính trị so với hầu hết các đánh giá hiện tại. Nguồn gốc lớn nhất của sự bất ổn lúc này là quá trình kế nhiệm Tập cuối cùng sẽ ra sao. Các nhà lý luận của Bắc Kinh cũng đang dõi theo điều này, bởi họ biết rằng ngay cả một hệ thống chỉnh huấn hoàn chỉnh đã giúp đảng vững mạnh suốt một thế kỷ qua cũng không có lời giải cho cuộc đấu tranh quyền lực trong giới tinh hoa về việc ai sẽ là người lên nắm quyền tiếp theo.
Andrew Mertha là Giáo sư ngành Nghiên cứu Trung Quốc tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Cấp cao Johns Hopkins.