
Nguồn: Sergei Lavrov, 独家·瓦尔代现场|拉夫罗夫:俄罗斯如何回答“没有西方怎么办”, Guancha, 01/10/2026 (lược dịch).
Biên dịch: Lê Thị Thanh Loan
Ngày 29/9, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov đã tham dự Hội nghị thường niên lần thứ 23 của Câu lạc bộ Valdai. Ngay trước đó, ông vừa tham dự Tuần lễ Cấp cao của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ) khóa 81, với hơn 50 cuộc gặp trong vòng ba ngày. Ông mở đầu bằng lời tự giễu: “Đang trong thế ‘bị cô lập’ thì còn biết làm sao?”
Vấn đề Ukraine là một trọng tâm của buổi thảo luận. Khi được hỏi liệu “phần lãnh thổ còn lại của Donbass có đáng để nỗ lực hay không”, ông lần lượt đề cập từ Hiệp định Liên kết năm 2013, cuộc đảo chính năm 2014, Thỏa thuận Minsk, bản dự thảo hòa bình Istanbul cho đến các đồng thuận tại Anchorage, nhấn mạnh rằng vấn đề không nằm ở lãnh thổ mà nằm ở con người. Bên cạnh đó, ông đặt nghi vấn về tính chân thực của sự kiện Bucha, đồng thời chỉ trích xu hướng tái quân sự hóa của châu Âu, việc Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO, cũng như tình trạng căng thẳng gia tăng theo hướng Kaliningrad.
Toàn bộ sự kiện với lượng thông tin truyền tải cực kỳ phong phú đã thể hiện rõ phong thái cứng rắn, lão luyện và tư duy hiện thực chủ nghĩa của Lavrov trên cương vị một nhà ngoại giao kỳ cựu của Nga. Trang Guancha đã có mặt tại sự kiện, đồng thời tiến hành tường thuật, biên dịch và tổng hợp nội dung để gửi tới độc giả.
MC: Thưa ông, các đồng nghiệp của Câu lạc bộ Valdai đều đã có mặt. Ở đây có rất nhiều người mà ông quen biết, cũng có một số gương mặt mới. Hội nghị thường niên lần thứ 23 của Câu lạc bộ Valdai đang diễn ra, và tôi tin rằng tất cả chúng ta đều rất vui mừng được gặp ông. Trước khi bước vào phần hỏi – đáp, xin ông phát biểu đôi lời?
Lavrov: Xin cảm ơn rất nhiều. Cảm ơn vì lời mời. Thật vui khi được gặp lại nhiều gương mặt quen thuộc đến vậy. Tôi cũng rất vui vì trong một thời đại phức tạp, đầy biến động và thay đổi nhanh chóng như hiện nay, chúng ta có thể trao đổi với nhau và tiếp thu những điều hữu ích cho công việc của mình. Những nghiên cứu và bình luận của quý vị hầu như đều có thể được vận dụng vào công tác thực tiễn, giúp chúng tôi hiểu được những tiến trình đang diễn ra.
Đoàn đại biểu của chúng tôi vừa trở về từ New York sau khi tham dự lễ khai mạc Đại hội đồng LHQ khóa 81 và Tuần lễ Cấp cao. Đương nhiên là có phần mệt mỏi, vì chúng tôi đã tiến hành hơn 50 cuộc gặp trong ba ngày. Nhưng dù sao cũng phải gặp gỡ, đang trong thế ‘bị cô lập’ thì còn biết làm sao? Chuyến đi lần này để lại cho tôi rất nhiều cảm nhận, trong đó có những điều rút ra từ việc lắng nghe bài phát biểu của Tổng thống Mỹ, các nhà lãnh đạo châu Âu, cũng như từ những tiếp xúc với một số người trong số họ.
Tôi cũng muốn nhắc đến bài viết của ông Timofei Bordachev về kỳ họp Đại hội đồng lần này. Ông ấy nhận xét rằng, trong bối cảnh đa cực hóa, phương Tây vẫn bám chặt lấy các thể chế do chính họ thiết lập – những thể chế vốn có thành phần hội viên mang tính toàn cầu. Bởi trong thời đại đó, hầu như tất cả mọi người đều chấp nhận những quy tắc đã được xác lập. Thế nhưng ngày nay, phương Tây lại không chịu từ bỏ quyền kiểm soát đối với những thể chế này. Điều này liên quan đến cả các thể chế của hệ thống Bretton Woods, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng như LHQ. Tại Ban Thư ký LHQ, các nước NATO độc quyền tất cả những vị trí không chỉ quan trọng mà còn mang trọng lượng chính trị lớn.
Chẳng hạn, phía Nga có một Phó Tổng Thư ký LHQ phụ trách chống khủng bố; chẳng bao lâu nữa, Trung Quốc cũng sẽ có một Phó Tổng Thư ký phụ trách các vấn đề xã hội và kinh tế. Đây đều là những lĩnh vực hết sức quan trọng. Hội đồng Kinh tế và Xã hội là cơ quan chủ yếu phụ trách kinh tế thế giới, các vấn đề xã hội, hỗ trợ các nước Global South, xử lý các vấn đề kỹ thuật và triển khai các dự án. Lĩnh vực chống khủng bố cũng vậy. Đây là một hướng đi quan trọng, có nguồn kinh phí dồi dào, Phó Tổng Thư ký của chúng tôi cũng tham gia vào đó, nhưng ông ấy hầu như không có bất kỳ ảnh hưởng nào đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống.
Trong khi đó, các vị trí Tổng Thư ký, Phó Tổng Thư ký thường trực, cũng như lãnh đạo các cơ quan phụ trách các vấn đề chính trị, gìn giữ hòa bình và nhân đạo đều do người của phương Tây và các nước NATO nắm giữ. Cơ quan chịu trách nhiệm về an ninh của toàn bộ hệ thống LHQ cũng do người thuộc khối NATO đứng đầu. Mới đây, ngoài vị trí Phó Tổng Thư ký phụ trách các vấn đề nhân đạo, các đồng nghiệp Anh còn nhận thêm một vị trí khác từ ông Guterres. Vị trí được giao cho người Anh này sẽ phụ trách triển khai các phương án cải tổ. Quý vị hãy thử so sánh: Một bên là các vấn đề kinh tế và xã hội, một bên là cải tổ toàn bộ hệ thống.
Vì vậy, bên cạnh việc công nhận các thể chế này cũng như tư cách thành viên của chính mình, chúng ta vẫn cần tiếp tục thúc đẩy cải tổ cơ chế, phân bổ các vị trí lãnh đạo một cách công bằng hơn. Điều này bao gồm cả các vị trí trong Ban Thư ký LHQ, cũng như tỷ lệ đóng góp và quyền hạn trong Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), để phần lớn các quốc gia trên thế giới có quyền bỏ phiếu thực sự phản ánh vị thế của họ trong nền kinh tế toàn cầu. Đồng thời, chúng ta cũng cần phát triển những cơ chế quản trị toàn cầu khác. BRICS, với tư cách là một cơ chế có tính đại diện rộng rãi, đã chứng minh được năng lực của mình. Cơ chế này không làm tổn hại đến thẩm quyền của các thể chế Bretton Woods hay WTO, đồng thời có khả năng tổ chức các dòng chảy thương mại.
Khi bàn về cục diện đa cực, chúng ta có những góc nhìn khác nhau về quá trình hình thành của nó. Có một cách nhìn lạc quan, thậm chí có phần hơi ngây thơ, cho rằng mọi người sẽ thừa nhận rằng cần phải chung sống hữu nghị, mọi vấn đề đều được cùng nhau giải quyết thông qua đồng thuận. Cũng có một cách nhìn thực tế hơn. Fyodor Lukyanov cho rằng đây sẽ là một cuộc đấu tranh gay gắt giữa các trung tâm quyền lực khác nhau. Hiện nay, tình hình đúng là đang phát triển theo hướng đó. Người Mỹ cũng đang tiếp xúc với các đối tác, đối tượng giao tiếp và đối thủ của mình từ lập trường như vậy. Đó là một thực tế. Họ chấp nhận đa cực và xem đó là một phương thức cùng tồn tại phù hợp hơn với mình, thay vì gia nhập một tổ chức nào đó rồi việc gì cũng phải bàn bạc với người khác. Theo quan điểm của họ, “đóng góp” của họ cho đa cực hóa chính là hành động theo cách mà họ cho là đúng đắn để đạt được một số kết quả nhất định. Chiến lược này hiệu quả đến đâu, chúng ta hãy cùng chờ xem.
Tuy nhiên, chúng tôi phải củng cố sức mạnh của chính mình về mọi mặt. Về điểm này, tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm mà Dmitri Trenin đưa ra trong bài viết của mình. Không có gì phải nghi ngờ về điều đó. Thế nhưng vẫn có một số đồng nghiệp của chúng tôi ngồi đó chờ đợi, vẫn nói rằng nếu không có phương Tây thì chúng tôi sẽ không thể tiến thêm một bước nào, rằng chúng tôi nên chủ động thúc đẩy làm ấm lại quan hệ với châu Âu. Họ còn cho rằng nên tranh thủ lúc Trump còn tại vị để nhanh chóng làm điều đó, bởi ông ấy có quan hệ khá tốt với Tổng thống Putin. Thế nhưng, điều này thực chất lại có nghĩa là quay trở lại bộ nguyên tắc và mô hình quan hệ trước đây – một mô hình đã khiến chúng tôi thất vọng không chỉ một lần, trong khi việc phương Tây thất tín cũng đã được chứng minh hết lần này đến lần khác.
Hiện nay, cách thức của phương Tây không hề thay đổi. Họ đang sử dụng “lá bài Nga”, liên tục dựng lên những “sự thật” mới, với mục đích làm suy yếu chúng tôi, lý tưởng nhất là chia rẽ chúng tôi. “Đất nước này quá lớn” – các đồng nghiệp phương Tây của chúng tôi nói như vậy. Nhưng tôi muốn nhắc lại rằng kết quả bầu cử ở Mỹ, cũng như cuộc gặp mà Tổng thống Putin tiến hành hôm qua trong khuôn khổ Câu lạc bộ Valdai, đều đã cho thấy điều này. Tổng thống nhấn mạnh rằng hiện nay chúng tôi phải duy trì sự tin tưởng này, tinh thần phấn chấn này, và sự tự tin của đất nước cũng như nhân dân chúng tôi.
Cuối cùng, tôi cũng muốn nói đôi điều về nước Mỹ. Rất nhiều điều đang xảy ra hiện nay, và nhiều hành động của Mỹ đang gây ra những ảnh hưởng trên toàn thế giới. Tôi nhớ khi Trump mới trở lại Nhà Trắng, chúng tôi đã gặp ông Marco Rubio ở Riyadh vào tháng Hai. Tôi đi cùng Yuri Ushakov, còn Rubio đi cùng Mike Waltz – người khi đó vừa được bổ nhiệm làm Cố vấn An ninh Quốc gia và hiện là Đại sứ Mỹ tại LHQ. Cuộc gặp này do phía Mỹ đề xuất. Rubio mở đầu rằng: “Tôi muốn các đồng nghiệp Nga hiểu rằng chính sách đối ngoại của chúng tôi hoàn toàn dựa trên lợi ích quốc gia của Mỹ, chứ không phải bất cứ điều gì khác. Đồng thời, tôi cũng muốn các vị biết rằng: Chúng tôi theo đuổi chính sách đối ngoại như vậy, và chúng tôi cũng thừa nhận các quốc gia khác có lợi ích quốc gia của riêng mình, đặc biệt là một quốc gia như Nga.”
Ý thứ ba, ông ấy nói: “Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng trong đại đa số trường hợp, lợi ích quốc gia của hai nước Mỹ – Nga sẽ không trùng khớp. Nhưng khi lợi ích trùng khớp, nếu không chuyển hóa nó thành các dự án cụ thể đôi bên cùng có lợi, thì đó sẽ là một sai lầm nghiêm trọng. Còn trong phần lớn các trường hợp lợi ích không trùng khớp, nếu để mặc cho bất đồng xấu đi và biến thành đối đầu, đặc biệt là xung đột quân sự, thì đó sẽ là một sai lầm còn nghiêm trọng hơn nữa.” Tôi hoàn toàn đồng ý với những lời này. Nhưng những quan niệm đó được thực hiện trên thực tế đến mức nào thì xin quý vị tự đánh giá. Chắc hẳn quý vị cũng đang theo dõi tình trạng của quan hệ Mỹ – Nga.
Lợi ích quốc gia của Mỹ mà chúng ta đang nhìn thấy hiện nay chính là việc thâu tóm thị trường năng lượng toàn cầu trong tay. Ban đầu, họ tuyên bố Nicolas Maduro là “trùm ma túy số một” và khẳng định cần phải xóa sổ hoạt động kinh doanh đang từ từ đầu độc những người Mỹ nghiện ma túy. Nhưng cuối cùng, điều đó lại biến thành việc giờ đây đã nắm trọn ngành công nghiệp dầu mỏ của Venezuela trong tay. Đối với Iran, họ cáo buộc ban lãnh đạo Iran suốt 47 năm qua liên tục thúc đẩy chủ nghĩa khủng bố trên toàn thế giới. Nhưng sau đó người ta lại phát hiện ra rằng, hóa ra Mỹ và Iran vẫn có thể đàm phán, miễn là dầu vẫn chảy và eo biển không bị phong tỏa. Tuy nhiên, lựa chọn này hiện đang bị phủ bóng bởi rất nhiều dấu hỏi. Một tháng rưỡi sau cuộc gặp tại Alaska, những gì được đưa ra không còn là các biện pháp trừng phạt của Biden nữa, mà là các biện pháp trừng phạt của Trump. Do đó, có thể rút ra kết luận rằng: Đó chính là cái mà nước Mỹ gọi là lợi ích quốc gia.
Cùng lúc đó, Tổng thống Trump lại nói: “Đây không phải là cuộc chiến của tôi, đây là cuộc chiến của Biden. Nếu lúc đó tôi là Tổng thống thì tất cả những chuyện này đã hoàn toàn không xảy ra.” Thế nhưng tất cả các lệnh trừng phạt dưới thời Biden đều được giữ nguyên, không một ngoại lệ. Ngoài ra, hiện nay còn có thêm các biện pháp trừng phạt của chính quyền Trump nhằm vào những tập đoàn dầu mỏ lớn của chúng tôi. Tóm lại, đây là một thời đại rất thú vị. Câu nói “Tin tưởng, nhưng phải kiểm chứng” mà Reagan để lại đã thuộc về một thời đại xa xôi. Bây giờ e rằng chỉ còn lại “kiểm chứng”: Phải xác nhận xem những điều đối phương nói có thực sự là chính sách thực tế của quốc gia đó hay không. “Trông cậy vào Thượng đế, nhưng bản thân cũng không được lơ là.” Đây cũng là một câu tục ngữ của chúng tôi. Bản thân chúng tôi không được phép lơ là.
Cụ thể phải làm thế nào, chúng ta hãy cùng thảo luận nhé.
MC: Xin cảm ơn ông. Cho phép tôi hỏi tiếp một câu. Ông vừa đề cập đến Tuần lễ Cấp cao của Đại hội đồng LHQ. Nếu tôi hiểu đúng, ấn tượng tổng thể của ông về Tuần lễ Cấp cao lần này là tương đối lạc quan, tích cực?
Lavrov: Điều đó còn tùy vào cách hiểu. Trong công việc của chúng tôi, không nên lấy cảm xúc lạc quan làm cơ sở, mà phải kiên trì với chủ nghĩa hiện thực, tập trung vào việc đạt được những kết quả phù hợp với lợi ích quốc gia của mình. Những lợi ích đó dựa trên các mối quan tâm chính đáng và những yêu cầu hợp lý. Theo nghĩa này, trong hơn 50 cuộc gặp, 99% đối tượng mà chúng tôi tiếp xúc là các nước Global South, tức Global Majority (Đa số Thế giới). Ngoài ra còn có các hoạt động trong khuôn khổ “Nhóm Những người bạn bảo vệ Hiến chương Liên Hợp Quốc”, các nhóm khởi xướng nhiều sáng kiến khác nhau của LHQ, cũng như việc khởi động tiến trình xây dựng một cấu trúc an ninh Á – Âu. Tất cả những điều này tất nhiên cho thấy rằng, trong số các quốc gia thuộc Đa số Thế giới, có không ít nước sẵn sàng đi đầu cất lên tiếng nói, hành động theo cách mang tính xây dựng, không đối đầu, và những hành động đó không hoàn toàn phù hợp với cách hiểu của phương Tây về trật tự thế giới.
Họ chỉ trích IMF. Nói chính xác hơn, họ không chỉ chỉ trích thể chế này mà còn chỉ trích chính sách của Mỹ, cũng như cách Mỹ hành xử tại WTO. Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO đã bị cản trở trong nhiều năm. Trung Quốc đã tích lũy rất nhiều khiếu nại nhằm vào chính sách thương mại của Mỹ, bởi những chính sách đó vi phạm các nguyên tắc của WTO. Thế nhưng cơ quan này đã bị làm tê liệt, họ không cho phép bổ nhiệm các thành viên mới. Vì vậy, nếu có điều gì gần với cảm giác “lạc quan”, thì đó chính là thế giới vẫn tràn đầy sức sống và đang hình thành những điều mới.
Nói về đa cực hóa, nhiều người cho rằng sẽ không hình thành một cấu trúc đa cực thực sự, mà sẽ là một hệ thống đầy xung đột, liên tục xảy ra tranh chấp và đấu đá. Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế cũng sẽ vô cùng gay gắt. Hiện nay, sẽ có cạnh tranh trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và những lĩnh vực khác quyết định tương lai của nền kinh tế thế giới. Nhưng theo tôi, đây sẽ không phải là một cuộc cạnh tranh công bằng. Trong vài thập kỷ qua, ý tưởng toàn cầu hóa vốn là nền tảng cho quan hệ giữa các quốc gia, thể hiện chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế và thương mại. Những nguyên tắc mà phương Tây từng quảng bá và từng tích cực yêu cầu chúng ta áp dụng như lực lượng thị trường tự do, cạnh tranh bình đẳng, quyền sở hữu bất khả xâm phạm và nhiều nguyên tắc khác, giờ đây đều bị phá vỡ chỉ sau một đêm. Và trên thực tế, điều này đã bắt đầu từ rất lâu trước cuộc khủng hoảng Ukraine, bởi họ muốn kiềm chế các đối thủ cạnh tranh của mình.
Tôi nhớ hiện nay chủ đề này lại được nhắc đến: Cái gọi là “dư thừa công suất”, tức cáo buộc Trung Quốc có tình trạng dư thừa công suất. Ngay từ trước sự kiện Ukraine, bà von der Leyen đã từng cáo buộc những người bạn Trung Quốc bán phá giá ô tô điện tại thị trường châu Âu. Điều này cho thấy điều gì? Chỉ từ ví dụ mà tôi vừa nêu cũng có thể thấy phương Tây muốn gì trong nền kinh tế toàn cầu: Họ muốn chuyển gánh nặng của vấn đề thiếu năng lực cạnh tranh của chính mình sang chính người dân của họ. Những ví dụ như vậy còn rất nhiều. Tóm lại, thế giới đang thay đổi. Thực ra, thế giới chưa bao giờ ngừng thay đổi, nhưng cường độ biến chuyển ngày nay thực sự rất lớn.
Hỏi đáp với khán giả
Anatol Lieven, Viện Quincy về Quản trị Nhà nước có trách nhiệm: Xin cảm ơn ông đã đến giao lưu với chúng tôi. Theo các thông tin được đưa ra, Jared Kushner nói rằng vấn đề thực sự khó vượt qua duy nhất trong tiến trình hòa bình Ukraine là yêu cầu của phía Nga muốn quân đội Ukraine rút khỏi toàn bộ Donbass, bao gồm cả những khu vực còn lại hiện vẫn do phía Ukraine kiểm soát. Ít nhất theo quan điểm của ông ấy, tất cả những vấn đề khác đều có khả năng đạt được thỏa hiệp.
Tôi có hai câu hỏi. Thứ nhất, nhận định này đúng đến mức nào? Đây có phải là trở ngại lớn nhất hiện nay hay không? Thứ hai, nhìn từ tiến trình cuộc chiến cho đến nay, vẫn còn khoảng 1.500 dặm vuông lãnh thổ và ba thị trấn đã bị tàn phá chưa chiếm được, cư dân ở đó đã hoặc đang rời đi. Để lấy được những khu vực còn lại này, cái giá phải trả sẽ là hàng vạn người Nga ngã xuống. Điều đó liệu có thực sự đáng giá không? Cảm ơn ông.
Lavrov: Đây rõ ràng là một cách mô tả tình hình theo hướng đơn giản hóa. Vì ông đã đặt câu hỏi này, tôi buộc phải điểm lại lịch sử một cách ngắn gọn.
Mọi chuyện bắt đầu từ năm 2013, khi Tổng thống Ukraine lúc đó là Yanukovych chuẩn bị gia nhập Liên minh châu Âu (EU) – chính xác hơn là ký Hiệp định Liên kết với EU. Nhưng sau đó ông ấy nhận ra rằng, điều này sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế Ukraine, bởi trong khuôn khổ Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (SNG), Ukraine có quan hệ thương mại tự do với Nga, hàng hóa Ukraine có thể qua biên giới mà không phải chịu thuế. Nếu Ukraine đồng thời mở biên giới thương mại tự do với EU, điều đó sẽ gây ra vấn đề đối với chúng tôi. Chúng tôi đã mất 17 năm đàm phán để gia nhập WTO và đã giành được những cơ chế bảo hộ quan trọng trong nhiều lĩnh vực. Vì vậy, để không bị thiệt hại, một khi Hiệp định Liên kết đó được ký kết, chúng tôi sẽ buộc phải siết chặt các quy định thương mại biên giới, nhằm ngăn hàng hóa châu Âu tràn vào và phá vỡ những biện pháp bảo hộ mà chúng tôi đã giành được trong WTO.
Về phía EU, đại diện là ông José Manuel Barroso, đã gần như nổi giận lôi đình – tôi không tìm được từ nào khác để mô tả. Bản thân Yanukovych cũng hiểu điều đó là không ổn. Chúng tôi đã đề xuất ba bên gồm Nga, Ukraine và Ủy ban châu Âu cùng ngồi lại thảo luận xem nên giải quyết vấn đề này thế nào. Nhưng Barroso lại nói: “Tại sao chứ? Chúng tôi đâu có can thiệp vào thương mại giữa Nga và Canada, cho nên việc này không liên quan đến các ông.” Và Yanukovych chỉ vì từ chối ký – thậm chí không thể nói là từ chối, ông ấy chỉ trì hoãn việc ký đến mùa xuân để có thêm thời gian làm rõ cách giải quyết vấn đề – mà đã dẫn đến phong trào Maidan. Khi đó, có những người trực tiếp hô hào tại quảng trường trung tâm Kyiv, và các nhà lãnh đạo châu Âu cũng tuyên bố từ thủ đô của họ rằng: Người Ukraine phải đưa ra lựa chọn: Hoặc ở bên Nga, hoặc ở cùng châu Âu.
Đến tháng 2/2014, chính châu Âu – phía Đức là Frank-Walter Steinmeier, hiện là Tổng thống Đức; phía Pháp là Ngoại trưởng khi đó Laurent Fabius; phía Ba Lan là Radosław Sikorski, người hiện vẫn là Ngoại trưởng Ba Lan – đã đứng ra bảo đảm cho thỏa thuận giữa Yanukovych và phe đối lập. Theo thỏa thuận này, Yanukovych chấp nhận từ bỏ phần lớn quyền lực và đồng ý tổ chức bầu cử tổng thống sớm trong vài tháng sau đó. Phía châu Âu và các nhà đàm phán của chúng tôi đều tuyên bố đã đạt được thành công. Thế nhưng sáng hôm sau, họ phớt lờ những chữ ký của Steinmeier, Fabius và Sikorski, còn phe đối lập thì cướp chính quyền. Họ tuyên bố: “Chúng tôi thành lập chính phủ của những người chiến thắng.” Trong khi thỏa thuận ban đầu là thành lập một chính phủ đoàn kết dân tộc. Mọi chuyện đã bắt đầu như thế đấy.
Và khi người dân ở một số nơi nói “không muốn có bất kỳ mối liên hệ nào với các người, các người là bất hợp pháp”, thì họ liền gọi những người dân đó là những kẻ ly khai. Chính quyền phái tới những lực lượng vũ trang công khai mang tư tưởng phát xít, thực hành các nghi thức kiểu phát xít, đồng thời sử dụng nhiều lực lượng vũ trang cấp tiểu đoàn. Mọi chuyện bắt đầu như vậy đấy. Người dân không muốn sống dưới chế độ đó.
Một năm sau, Thỏa thuận Minsk được ký kết, Đức và Pháp cũng đã ký tên, nhưng rồi những chữ ký đó lại tiếp tục bị chà đạp. Tuy Thỏa thuận Minsk sau đó đã được Hội đồng Bảo an LHQ phê chuẩn, bà Merkel và ông Hollande vẫn phớt lờ chữ ký của chính mình, phớt lờ cả nghị quyết của Hội đồng Bảo an xác nhận kết quả đó. Trong khi Hiến chương Liên Hợp Quốc yêu cầu các nghị quyết của Hội đồng Bảo an phải được thực thi. Họ nói: “Chúng tôi vốn chưa từng có ý định thực thi, cái chúng tôi cần là thời gian. Chúng tôi đã nói dối để Poroshenko, và sau này là Zelensky, dễ dàng có được vũ khí, có thời gian nghỉ ngơi để chuẩn bị cho cuộc chiến sau này.” Chính họ đã công khai thừa nhận điều này.
Sau đó, Zelensky lên nắm quyền, và tại Pháp cũng có ông Macron. Tháng 12/2019, Macron triệu tập cuộc gặp “Bộ tứ Normandy”, với sự tham dự của Putin, Merkel, Zelensky và chính Macron. Họ đã thông qua một văn kiện, trong đó nêu rõ rằng Thỏa thuận Minsk vẫn phải được thực thi, đồng thời sửa đổi Hiến pháp Ukraine để ghi nhận quy chế đặc biệt của Donbass trong hiến pháp. Giờ nhìn lại, quy chế này thực ra khá hạn chế: Nói cho cùng, quy chế này thực ra cũng rất hạn chế: được sử dụng tiếng Nga, thực hiện quyền tự quản cơ bản ở địa phương, trong đó có quyền có lực lượng cảnh sát địa phương. Chỉ vậy thôi. Nhưng Zelensky không muốn thực hiện. Tiếp đến tháng 4/2022, khi chiến dịch quân sự đặc biệt đã bắt đầu, chính phía Ukraine đề xuất: “Chúng ta hãy đạt được một thỏa thuận.” Chính họ đưa ra những nguyên tắc làm cơ sở để đi đến thỏa thuận. Chúng tôi đồng ý, và hai bên đã ký tắt những nguyên tắc này. Sau đó xảy ra chuyện gì thì quý vị cũng biết rồi.
Lại nói về Poroshenko, ông ta lên nắm quyền thông qua bầu cử sau cuộc đảo chính bất hợp pháp – cuộc bầu cử mà phương Tây giờ đây đã hợp pháp hóa. Ông ta là đại diện của một chính quyền theo đuổi hệ tư tưởng và phương thức của chủ nghĩa phát xít. Ông ta từng nói về những người dân ở lại Donbass – những người không công nhận cuộc đảo chính, tự thành lập cộng hòa của riêng mình, những người trân trọng tiếng Nga, trân trọng văn hóa Nga, trân trọng lịch sử và tất cả di sản mà tổ tiên để lại cho họ. Ông ta đã nói gì? Ông ta nói: “Chúng ta sẽ lấy lại toàn bộ lãnh thổ, khôi phục đường biên giới năm 1991, và sẽ rất nhanh thôi, bởi vì con em chúng ta sẽ được đến những trường mầm non và trường học khang trang, sạch đẹp, còn con em của người dân Donbass sẽ phải mục ruỗng trong tầng hầm.” Vậy lãnh thổ của chúng tôi có thể rơi vào tay những kẻ như vậy sao? Họ nghĩ đến lãnh thổ, trong đầu các đồng nghiệp phương Tây của chúng tôi chỉ có lãnh thổ, còn chúng tôi nghĩ đến con người.
Tương tự, ngay trước khi chiến dịch quân sự đặc biệt bắt đầu, vào tháng 9/2021, Zelensky trả lời phỏng vấn. Một nhà báo phương Tây hỏi Zelensky nhìn nhận thế nào về những người ở phía bên kia đường tiếp xúc tại Donbass. Ông ta nói: “Một số là con người, còn một số là ‘sinh vật’.” Ông ta cũng từng đưa ra lời khuyên như thế này: “Tôi khuyên những người đang sống ở Ukraine nhưng cho rằng mình thuộc về văn hóa Nga, vì tương lai của con cái, vì tương lai của cháu mình, hãy cút sang Nga đi. Hãy để lãnh thổ lại cho chúng tôi, chúng tôi chỉ cần lãnh thổ.” Sự khác biệt căn bản chính là ở chỗ đó.
Khi phương Tây và châu Âu nói: “Không thể để Putin lấy đi dù chỉ một tấc đất, ngay cả nếu hiện tại ngừng bắn dọc đường tiếp xúc, chúng tôi cũng tuyệt đối không công nhận bất cứ điều gì Nga đã làm, chỉ công nhận biên giới năm 1991”, thì con người ở đó phải làm thế nào? Còn những đạo luật cấm tiếng Nga được thông qua từ trước khi chiến dịch quân sự đặc biệt bắt đầu thì sao?
Nếu ai vẫn còn hoài nghi, thì ngay mới đây thôi, Zelensky đã cố tình thông qua một đạo luật, tuyên bố Ukraine với tư cách là bên tham gia công ước quốc tế liên quan – Hiến chương châu Âu về Ngôn ngữ Khu vực hoặc Ngôn ngữ Dân tộc Thiểu số – chính thức từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo vệ tiếng Nga. Hiến chương này do Hội đồng châu Âu soạn thảo. Hội đồng châu Âu có lên tiếng gì về việc này không? Không, không một từ nào. EU cũng ngồi đó và nói rằng Ukraine đang bảo vệ các giá trị châu Âu. Điều đó có nghĩa là họ đồng ý coi người Nga là “sinh vật” chứ không phải con người? Có nghĩa là việc cấm đoán toàn diện tiếng Nga, thậm chí đe dọa phạt tù người sử dụng, cũng đã trở thành giá trị châu Âu sao?
Zelensky quỳ gối trước tượng đài của những kẻ như Bandera – những kẻ từng sát hại người Nga, người Do Thái, người Belarus và cả người Ukraine. Ông ta cúi mình trước hài cốt của những kẻ đó, thậm chí còn tuyên bố sẽ xây dựng một “Điện tưởng niệm các anh hùng Ukraine” dành cho chúng tại khu vực Tu viện Hang động Kyiv – một thánh địa Chính thống giáo. Trước kia, chính châu Âu còn không chịu tiếp nhận những kẻ này, vậy mà sau này lại vui vẻ giao cho Zelensky để tái an táng? Chúng tôi còn có thể diễn giải điều này theo cách nào khác được sao?
Nếu quý vị cho rằng vấn đề chỉ nằm ở lãnh thổ, thì bản thân tranh chấp lãnh thổ cũng cho thấy chính quyền Kyiv có đáng tin cậy hay không, có giữ cam kết hay không. Khi bắt đầu xây dựng những khu vực phòng thủ kiên cố này, chính quyền Kyiv đã xây công sự xuống tận 10 tầng dưới lòng đất, tạo ra những hệ thống phòng thủ đồ sộ, nhiều lớp. Ngay sau khi Thỏa thuận Minsk được ký vào năm 2015, họ đã bắt đầu xây dựng rồi. Ngay từ thời điểm đó, họ đã không muốn giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình, không muốn đạt được một giải pháp hòa bình. Tôi nghĩ trong thâm tâm họ cũng tự hiểu rằng Donbass sẽ không bao giờ trở lại tay họ nữa. Nhưng ngày nay, trong sự cuồng loạn và mất trí, châu Âu khăng khăng rằng Ukraine phải khôi phục lại đường biên giới ban đầu, và thế là họ hùa theo.
Hãy xem những gì Zelensky đang nói hiện nay. Ông ta yêu cầu ngừng bắn. Bây giờ họ nói Putin không muốn dừng lại, nhất định phải ngừng bắn. Nhưng đã từng có một lệnh ngừng bắn, và chúng ta cũng biết kết quả cuối cùng là gì. Họ còn nói: “Putin không muốn đàm phán.” Quý vị đã nghe câu đó rồi đúng không?
Hãy xem lập trường của Zelensky về vấn đề này đã thay đổi như thế nào. Tháng 4/2022, phía Ukraine đưa ra một phương án giải quyết xung đột. Chúng tôi đồng ý và ký tắt văn kiện. Nhưng phương Tây đã ngăn họ thực hiện. Không chỉ Boris Johnson công khai nói như vậy, mà đằng sau đó còn có sự chỉ đạo từ Berlin, Paris và các nước châu Âu khác. Chỉ hai tuần sau khi Ukraine bác bỏ chính phương án mà mình đưa ra, đến tháng 9/2022, Zelensky tuyên bố: Xã hội Ukraine không muốn tiếp tục đàm phán với Nga. Tháng 10/2022, Ukraine nói sẵn sàng đàm phán với Nga, nhưng phải thay một Tổng thống Nga khác; còn đối với chúng tôi, kết quả đàm phán chỉ có một: Xét xử những tội phạm chiến tranh của Nga, bao gồm cả giới lãnh đạo cấp cao nhất.
Sang năm 2023-2024, họ lại bảo nếu Nga rút quân thì có thể bắt đầu đàm phán. Tháng 10/2024, sau cuộc hội đàm với Macron, Zelensky công khai tuyên bố tại Paris rằng Ukraine không cân nhắc khả năng ngừng bắn, không muốn bất kỳ thỏa thuận đình chiến nào. Tháng 5/2025, họ nói rằng thứ họ cần là binh sĩ châu Âu có khả năng chiến đấu, không cần lực lượng gìn giữ hòa bình, mà cần quân đội – quân đội trên biển, trên bộ và trên không. Giờ đây, họ lại muốn một dạng bảo đảm an ninh nào đó… Còn phương Tây nói: Phải duy trì sự cô lập đối với Nga; tài sản phải bị tịch thu. Họ còn nói rằng sự nhượng bộ lớn nhất mà thế giới đã thực hiện là Putin và những người bạn của ông ấy vẫn chưa phải ngồi tù.
Quý vị cho rằng có nên để những kẻ này tiếp tục cai trị trên những vùng đất lịch sử của người Nga không? Nơi người Nga đã sinh sống qua bao thế hệ ở Donbas, ở Novorossiya. Tổ tiên của họ đã khai phá những vùng đất này, xây dựng nên Odessa, Mykolaiv, xây dựng các nhà máy, đường sá… Tôi hiểu rằng đa số người phương Tây quen với việc nhìn nhận mọi thứ từ góc độ vật chất. Họ sẽ nói: “Còn lại bao nhiêu lãnh thổ nữa đâu? Chẳng phải chỉ là một mảnh đất nhỏ thôi sao? Cho qua đi.” Nhưng vấn đề không nằm ở lãnh thổ, mà nằm ở con người. Họ không được coi là người, bị liên tục gọi là “sinh vật” chứ không phải con người.
Vì vậy, tại Alaska, phía Mỹ đã đưa ra một phương án. Tổng thống của chúng tôi cũng đã từng nói về việc này. Trong đó có những nội dung cần phải thỏa hiệp, nhưng cuối cùng ông ấy tuyên bố chúng tôi sẵn sàng chấp nhận sự thỏa hiệp đó. Trước đó, mọi người từng bàn luận xem “tinh thần Anchorage” còn tồn tại hay đã tan biến. Ông ấy nói phía Mỹ mời chúng tôi đến Anchorage để thảo luận về những nguyên tắc mà họ đưa ra. Chúng tôi đã cân nhắc một thời gian và không lập tức đồng ý. Nhưng khi đến Anchorage, chúng tôi đã bày tỏ sự đồng ý. Chỉ cần đọc đánh giá của Trump về Đồng thuận Anchorage là đủ hiểu. Chính ông ấy nói hai bên đã đạt được đồng thuận. Bởi vì khi bạn nhận được một phương án và chấp nhận nó, nói một cách thẳng thắn, điều đó đã cấu thành một cam kết. Tất nhiên vẫn cần lập thành văn bản, nhưng các vấn đề nguyên tắc đã được nhất trí.
Theo hiểu biết cá nhân của tôi thì như vậy. Vì ở đây không có truyền thông, tôi xin chia sẻ lời phát biểu mở đầu của Trump tại cuộc gặp ở Anchorage. Ông ấy nói: “Vladimir, chúng ta chỉ cần đạt được thỏa thuận ở đây là được. Zelensky sẽ làm theo những gì tôi nói.” Sau đó, chúng tôi thảo luận về phương án mà Steve Witkoff đã mang đến Moscow một tuần trước cuộc gặp. Chúng tôi đã ghi lại toàn bộ nội dung. Tại Anchorage, sau khi Trump nói “Zelensky sẽ làm theo”, Putin đáp: “Steve đã mang đến những đề xuất này.” Steve lúc đó ngồi ngay bên cạnh Trump. Putin đọc từng điều khoản cho họ nghe. “Điều thứ nhất, đúng không?” Steve gật đầu. “Điều thứ hai cũng vậy.” Ông ấy gật đầu với từng điều khoản. Putin nói: “Ở đây có những điểm cần thỏa hiệp, nhưng tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm giải thích với nhân dân nước mình.” Những chuyện xảy ra sau đó thì quý vị đều đã biết.
Tôi đã nói hơi nhiều về vấn đề này rồi. Xin quay trở lại quan hệ Nga – Mỹ. Sau khi trở lại Nhà Trắng, Trump lập tức nói: “Nếu lúc đó tôi đắc cử thì chiến tranh đã không xảy ra. Đây là cuộc chiến của người khác.” Trong các cuộc trò chuyện, phía Mỹ cũng giải thích với chúng tôi rằng họ không tán thành cuộc chiến này. Nhưng bốn năm Biden cầm quyền đã đẩy vấn đề Ukraine lên tuyến đầu của chính trị thế giới. Mọi người đều biết, có những thứ không thể dễ dàng chìm xuống. Họ nói, bây giờ cũng không còn cách nào khác, vì ai ai cũng đang bàn về chuyện này. Do đó, phải giải quyết xong vấn đề Ukraine trước đã. Một khi làm được như vậy, triển vọng giữa hai nước sẽ rất rộng mở. Trên toàn thế giới có rất nhiều dự án mà hai bên có thể cùng triển khai, bao gồm Bắc Mỹ, Bắc Cực, miền Bắc Siberia và Alaska, cũng như nhiều nơi khác. Họ nói rằng có thể biến quan hệ hai nước thành một “thiên đường nơi trần thế”.
Khi Witkoff và Kushner đến thăm, họ cũng từng nói những điều tương tự. Họ còn cho chúng tôi xem một số dự án kinh tế và những nội dung khác. Nhưng chúng tôi xử lý vấn đề Ukraine không phải để phát triển quan hệ kinh tế giữa hai nước. Mục tiêu của chúng tôi là đạt được một giải pháp lâu dài và bền vững. Tổng thống Trump không chỉ là nhà lãnh đạo đầu tiên của nước Mỹ, mà còn là nhà lãnh đạo đầu tiên trong toàn bộ thế giới phương Tây công khai nói rõ: “Tôi muốn làm rõ nguyên nhân gốc rễ của vấn đề.”
Ông ấy thậm chí còn nói trước khi nhậm chức rằng Ukraine không thể gia nhập NATO. Ngay từ trước năm 2022, người ta lẽ ra đã phải hiểu điều này. Người Nga đã giải thích rõ lý do rồi. Giờ ai còn nói điều đó nữa? Ngày nay, hoàn toàn ngược lại, “những người em” của ông ấy, từ Macron đến Rutte và các nước Baltic, tất cả đều nói rằng Ukraine có quyền gia nhập NATO. Họ đơn giản là không coi trọng lời nói của Trump. Đây là thực trạng hiện tại của thế giới phương Tây. Chúng tôi chính là xuất phát từ thực tế này. Và chỉ có ông ấy (Trump) nhận ra điều này và đã nói rõ với chúng tôi: Việc này rất khó, nhưng bắt buộc phải giải quyết tận gốc rễ.
Trước hết, dựa trên sự đồng thuận do chúng tôi đề xuất và đã được chấp nhận tại Anchorage, hãy giải quyết vấn đề Ukraine, rồi sau đó mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Vào thời điểm đó, chúng tôi tin rằng vấn đề đã được giải quyết tại Anchorage. Huống hồ ông ấy còn nói rằng Zelensky sẽ làm như đã hứa. Hơn nữa, chúng tôi đã đưa ra những thỏa hiệp, và là những thỏa hiệp khá lớn. Điều đó không giải quyết được tất cả các vấn đề, nhưng nó đã đưa các vấn đề còn lại vào con đường giải quyết chính trị, để đi đến thỏa thuận cuối cùng về vấn đề hai tỉnh Kherson và Zaporizhzhia.
Thế nhưng, chỉ hơn một tháng sau cuộc gặp ở Anchorage, lại xuất hiện các lệnh trừng phạt nhằm vào Lukoil và Rosneft. Như tôi vừa nói, Trump còn gia hạn toàn bộ các lệnh trừng phạt từ thời Biden. Trong đó không chỉ bao gồm việc bán vũ khí cho châu Âu để châu Âu chuyển giao miễn phí cho Ukraine, mà còn có cả nguồn tài chính do Mỹ cung cấp trực tiếp, bao gồm viện trợ không hoàn lại, khoản vay, cũng như sự hỗ trợ qua các kênh của Lầu Năm Góc. Vì vậy, ở đây rõ ràng đang tồn tại vấn đề.
Hiện nay, họ đang đẩy dầu mỏ của chúng tôi ra khỏi thị trường năng lượng thế giới. Nói rộng hơn một chút, Venezuela cũng đang ở trong tình trạng tương tự. Đây là quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, đồng thời là một đối tác rất quan trọng của chúng tôi và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Giờ đây, bộ phận này của thị trường năng lượng thế giới cũng đang dần rơi vào sự kiểm soát của Mỹ. Còn về eo biển Hormuz, tôi nghi ngờ liệu họ có thể làm được điều đó hay không. Tuy nhiên, còn có một chuyện khá thú vị, không biết có ai ở đây từng nghe qua chưa. Phía Mỹ từng nghiêm túc thảo luận về việc mua lại phần đường ống Nord Stream (Dòng chảy phương Bắc) thuộc sở hữu của châu Âu từ người châu Âu. Mặc dù trước đó ông Merz và các nhân vật tinh hoa khác ở châu Âu từng tuyên bố rằng Nord Stream sẽ không bao giờ được khôi phục, người Mỹ lại nói: “Các ông đã tốn bao nhiêu? 5 tỷ sao? Trả các ông 500 triệu, hãy bán nó cho chúng tôi. Sau đó, chúng tôi sẽ mua theo mức giá đã thỏa thuận, rồi bán lại cho các ông với giá cao hơn.” Tôi không loại trừ khả năng họ có kế hoạch như vậy, cũng như không loại trừ khả năng những kế hoạch này đã và đang được triển khai.
Tại sao tôi lại nói tất cả những điều này? Cho dù vấn đề Ukraine được giải quyết vào thời điểm nào đi nữa, đến lúc đó họ có thể sẽ nói: “Được rồi, vấn đề Ukraine đã được giải quyết, bây giờ hãy bàn chuyện kinh tế, bàn về những dự án cùng có lợi.” Mọi người ngồi vào bàn, mở mọi thứ ra xem xét: “Các anh xem này, những khu vực này đều đã có người chiếm giữ rồi. Nhưng lãnh thổ của chính các anh vẫn còn, vậy chúng ta cùng chia chác một chút đi.” Điều này cũng sẽ được gọi là lợi ích quốc gia của Mỹ, giống như những gì họ từng nói với chúng tôi trước đây. Tôi không có ý nói rằng chúng tôi phải vì chuyện này mà kêu trời trách đất. Chỉ là chúng tôi phải tỉnh táo nhìn nhận những gì đang diễn ra, luôn duy trì cảnh giác và đừng đặt hy vọng vào người khác.
Lieven: Tôi xin hỏi thêm một câu: Ông vừa đề cập đến sự tiến triển trong chính sách với Ukraine, vậy còn vụ việc ở Bucha thì sao?
Lavrov: Vụ việc ở Bucha là một nỗi ô nhục. Họ chẳng tiến hành bất kỳ cuộc điều tra nào, trong khi chúng tôi vẫn liên tục chờ đợi câu trả lời. Điều này đương nhiên là một nỗi ô nhục đối với người đang được gọi là Tổng thư ký LHQ. Trong kỳ họp Đại hội đồng LHQ vừa qua, chúng tôi đã phát tài liệu liên quan của Maxim Grigoriev thuộc Hội đồng Xã hội Nga. Tài liệu này đã liệt kê đầy đủ các sự thật. Lúc đó đã xảy ra chuyện gì? Nhân tiện, điều này cũng liên quan đến vấn đề ngừng bắn và cái gọi là “cử chỉ thiện chí”.
Khi đó, chúng tôi và phía Ukraine đều đã ký tắt văn kiện ấy; xin nhớ rằng, đó lại chính là văn kiện do phía Ukraine đề xuất. Macron còn gọi điện cho Putin và nói: “Vladimir, làm ơn, chúng tôi rất vui vì các ông đã đạt được tiến triển. Để củng cố hy vọng và thể hiện thiện chí, hãy rút quân khỏi khu vực xung quanh Kyiv.” Bucha là một vùng ngoại ô của Kyiv. Chúng tôi đã rút quân. Ngay trong ngày hôm đó, Thị trưởng Bucha đã trở về thành phố. Cả thế giới đều thấy phát biểu của ông ấy. Ông ấy nói: “Bucha đã trở lại dưới sự kiểm soát của Ukraine, Bucha lại được giải phóng.”
Hai ngày sau khi những tuyên bố đầy phấn khởi đó được đưa ra, BBC đột nhiên tới đó, ngay trên chính con phố nơi ông thị trưởng tuyên bố Bucha đã trở lại dưới chủ quyền của Ukraine, để truyền hình trực tiếp, cho thấy hàng chục thi thể được xếp ngay ngắn dọc hai bên con phố chính. Khi đó là tháng Tư, đường sá lầy lội, nhưng những thi thể này lại rất sạch sẽ. Những băng tay màu trắng trên người họ cũng sạch sẽ. Tất nhiên là họ mặc thường phục. Ngay sau đó, mọi tiếp xúc bị cắt đứt và một loạt biện pháp trừng phạt mới được ban hành.
Từ năm 2022, mỗi lần gặp António Guterres, tôi đều hỏi ông ấy: “Có thể cho chúng tôi danh sách ghi tên những người thiệt mạng đã xuất hiện trong khung hình của BBC không?” Ông ấy nói: “Chuyện này rất nhạy cảm, liên quan đến thân nhân các nạn nhân, và họ không muốn công khai.” Theo những gì tôi được biết, trong phần lớn các vụ việc liên quan đến giết hại dân thường trên quy mô lớn, thân nhân các nạn nhân đều thành lập các ủy ban. Chẳng hạn, ủy ban của thân nhân những người thiệt mạng trên chuyến bay MH17 của Malaysia Airlines đến nay vẫn còn tồn tại. Chiếc máy bay đó bị bắn hạ trong những hoàn cảnh hết sức đáng ngờ, và các vấn đề liên quan vẫn chưa được xác nhận. Chắc hẳn mọi người vẫn còn nhớ, đó là mùa hè năm 2014.
Lấy ví dụ sau: Tòa án Hà Lan đã đưa ra 11 nhân chứng, trong đó 10 người là nhân chứng ẩn danh. Trong suốt những năm qua, chúng tôi cũng liên tục yêu cầu được cung cấp tên của những người thiệt mạng ở Bucha.
Chúng tôi đã hỏi Guterres và Cao ủy Nhân quyền LHQ. Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ cũng đã thành lập một cơ chế chuyên trách để xử lý các vấn đề nhân quyền trong cuộc xung đột Ukraine, nhưng không ai cung cấp cho chúng tôi những cái tên đó. Trong khi đó, mọi người vẫn liên tục đến khu tưởng niệm ấy. Ở đó có dựng một bia tưởng niệm, trên đó có khắc tên, và danh sách này vẫn tiếp tục dài thêm. Sau này chúng tôi có được một số thông tin, biết được những người nào được ghi trên các bia tưởng niệm. Phần lớn trong số họ là những người theo tư tưởng phát xít, tân phát xít thuộc các đơn vị như “Tiểu đoàn Azov” và những lực lượng tương tự.
Đây lại là một ví dụ khác. Như Timofei Bordachev đã đề cập, ngày nay cần phải xây dựng lại chủ nghĩa đa phương và tính đa cực từ đầu, trên những nền tảng khác, thay vì chỉ trông chờ vào những thể chế hiện nay đã nằm dưới sự kiểm soát của phương Tây. Tôi thường nghe thấy một lập luận rằng: Tình hình Ukraine phải được giải quyết dựa trên luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc, các nghị quyết của Đại hội đồng và nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine. Thế rồi đột nhiên, Trump nói: “Chúng tôi rất cần Greenland.” Có người liền hỏi người phát ngôn của Tổng Thư ký LHQ: “Vậy vấn đề Greenland nên được giải quyết như thế nào?” Câu trả lời là: “Rất đơn giản, phải dựa trên luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc, nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ của Đan Mạch, cũng như quyền tự quyết của người dân Greenland.”
Sao chúng tôi có thể bỏ lỡ một cơ hội như vậy chứ? Chúng tôi liền hỏi ông Dujarric – người phát ngôn: “Có thể áp dụng luận điệu của các ông về Greenland cho vấn đề Ukraine được không?” Ông ấy đáp: “Không, đó là một chuyện khác.” Vậy là tôi đã đích thân gửi thư cho Guterres. Nếu có dịp, tôi có thể thông qua các đồng nghiệp để cung cấp cho mọi người đoạn trích dẫn cho thấy quan điểm của họ về việc Greenland và Ukraine khác nhau ở điểm nào. Hóa ra nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ thì rất rõ ràng, còn nguyên tắc tự quyết lại có một số điều kiện tiên quyết. Rốt cuộc điều đó có nghĩa là gì thì trong thư lại chẳng giải thích rõ ràng. Hễ đụng đến Ukraine là họ chỉ chăm chăm nói về nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ.
Giờ thì tôi đang chờ xem các nhà báo sẽ yêu cầu Ban Thư ký LHQ bình luận như thế nào về những nguyện vọng liên quan của Wales, Scotland và Bắc Ireland.