
Nguồn: Emile Chabal, “Why Is France Perpetually Rioting?”, Foreign Policy, 19/10/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Khi tôi bắt đầu nghiên cứu về nước Pháp đương đại với tư cách một nghiên cứu sinh vào năm 2006, đất nước này vẫn chưa hết bàng hoàng sau làn sóng bạo lực đô thị bùng phát từ cái chết của hai thiếu niên trong một trạm biến áp khi đang chạy trốn cảnh sát. Trong nhiều tuần cuối năm 2005, nước Pháp chìm trong biển lửa khi những người trẻ phẫn nộ xuống đường phản đối bạo lực cảnh sát, nạn phân biệt chủng tộc, bất bình đẳng xã hội và những lời hứa không được thực hiện trong khế ước xã hội của nước Pháp.
Hai mươi năm trôi qua, những hình ảnh về nước Pháp được truyền đi khắp thế giới vẫn không có gì thay đổi. Khởi đầu từ một cuộc biểu tình của học sinh trung học, phong trào đã leo thang thành làn sóng phẫn nộ trên toàn quốc, đi kèm với các vụ cướp bóc, cảnh đốt phá những tòa nhà công quyền như một nghi thức phản kháng quen thuộc và hàng loạt hành vi bạo lực từ lực lượng cảnh sát chống bạo động được trang bị lựu đạn khói và hơi cay.
Cũng dễ đoán không kém là sự xuất hiện ồ ạt của những bình luận nóng vội từ giới bình luận, chính trị gia, những người dẫn chương trình phát thanh chuyên đưa ra các phát ngôn gây sốc và các nhà hoạt động, tất cả đều tìm cách tận dụng hình ảnh người Pháp xuống đường biểu tình. Phần lớn những bình luận này chỉ lặp đi lặp lại những nhận định sáo rỗng về người Pháp, rằng họ có bản tính đặc biệt thích làm cách mạng hoặc có xu hướng nổi loạn đến mức bất thường, tùy theo quan điểm của người nhận xét. Thậm chí, một số người còn công khai lan truyền những thông tin sai sự thật về một cuộc xâm nhập được cho là của người nhập cư, đang hủy hoại nền văn minh Pháp và phương Tây.
Đối với những người đã dành phần lớn sự nghiệp nghiên cứu nước Pháp đương đại như chúng tôi, làn sóng vội vàng đưa ra bình luận ấy thực sự gây mệt mỏi. Tuy nhiên, ít nhất nó cũng làm nổi bật một trong những câu hỏi đặc trưng của lĩnh vực nghiên cứu này: Vì sao nước Pháp hiện đại dường như là một đất nước của những cuộc biểu tình? Và không kém phần quan trọng, tại sao thế giới vẫn quan tâm đến những gì diễn ra ở một quốc gia châu Âu có quy mô trung bình, từ lâu đã không còn là một cường quốc toàn cầu?
Câu hỏi thứ nhất, về sự hiện diện gần như thường trực của các cuộc biểu tình, không có lời giải đáp đơn giản, nhưng những dữ kiện thực tế là điều không thể phủ nhận. Theo Dự án Dữ liệu về Địa điểm và Sự kiện Xung đột Vũ trang (ACLED), tổ chức theo dõi bạo lực chính trị và biểu tình trên toàn thế giới, trong những năm gần đây, mỗi ngày nước Pháp ghi nhận khoảng 20 cuộc biểu tình. Phần lớn có quy mô nhỏ và chỉ diễn ra tại địa phương, nhưng đôi khi chúng lan rộng trên toàn quốc, thu hút hàng trăm nghìn người tham gia.
Điều quan trọng là biểu tình tại Pháp không phải hoạt động dành riêng cho bất kỳ nhóm xã hội nào. Quan niệm cho rằng chỉ những nhà hoạt động trẻ tuổi thuộc cánh tả mới xuống đường tuần hành là hoàn toàn sai lệch. Một số phong trào biểu tình lớn nhất trong 50 năm qua thực tế do phe cánh hữu dẫn dắt, nổi bật nhất là các cuộc biểu tình quy mô lớn phản đối cải cách giáo dục tư thục năm 1984 và hôn nhân đồng giới năm 2013.
Để một nền văn hóa biểu tình có thể phát triển rộng khắp các khuynh hướng chính trị như vậy, cần có hai yếu tố nền tảng: sự chính trị hóa cuộc đấu tranh chống bất công và niềm tin vào sức mạnh của các cuộc xuống đường. Cả hai yếu tố này đều đã hiện diện từ lâu trong xã hội Pháp.
Quan niệm cho rằng việc phản đối bất kỳ điều gì bị xem là bất công đều phải được chính trị hóa, và quá trình chính trị hóa ấy có thể diễn ra dưới hình thức bạo lực nổi dậy, có một truyền thống lâu đời và vị thế đặc biệt trong lịch sử nước Pháp. Xét cho cùng, chính người Pháp là những người đầu tiên cho thế giới thấy một cuộc khởi nghĩa cách mạng được thúc đẩy bởi hệ tư tưởng diễn ra như thế nào. Nước Pháp cũng để lại cho thế giới cách phân biệt mang tính trường tồn giữa “cánh hữu” và “cánh tả”, sự phân chia sau này trở thành hệ tọa độ cơ bản của hoạt động chính trị cả trong lẫn ngoài nghị trường trên toàn cầu. Hết lần này đến lần khác, kể từ năm 1789, người Pháp đã biến các cuộc biểu tình thành điều gì đó lớn lao hơn tổng hòa những yêu sách và hành động riêng lẻ của chúng.
Tuy nhiên, việc chính trị hóa sự bất mãn ấy không chuyển hóa thành những thể chế ổn định. Kể từ Cách mạng Pháp, đất nước này đã trải qua nhiều nền cộng hòa và chế độ độc tài. So với các quốc gia phương Tây khác, Pháp có các thiết chế trung gian tương đối yếu. Đây không phải là đất nước có những chính đảng vững mạnh hay các công đoàn đầy quyền lực. Trên thực tế, tỷ lệ người lao động tham gia công đoàn tại Pháp từ lâu thấp hơn đáng kể so với nhiều nơi khác ở châu Âu. Trái với quan niệm phổ biến rằng người Pháp lúc nào cũng “đình công”, tốc độ bùng phát nhanh chóng của các phong trào phản kháng quần chúng thực chất phản ánh sự yếu kém của những thể chế vốn có thể đóng vai trò tập hợp và dẫn dắt sự bất mãn trong xã hội.
Sự tồn tại của một nhà nước tập quyền mạnh mẽ và mang tính chuyên quyền cũng không giúp cải thiện tình hình. Trong ít nhất một thế kỷ, thậm chí lâu hơn, bộ máy nhà nước Pháp đã mang tính tập trung quyền lực cao và đề cao vai trò của giới kỹ trị. Chẳng hạn, những kế hoạch tái thiết đầy tham vọng sau Chiến tranh thế giới thứ hai được chính quyền trung ương xây dựng mà hầu như không có sự tham vấn thực chất với người dân. Nền tảng của trật tự hiến định hiện nay, tức nền Đệ Ngũ Cộng hòa, ngay từ khi được thiết lập năm 1958 đã mang những đặc điểm phản dân chủ rõ rệt, thể hiện ở việc đề cao quyền lực tổng thống và đặt Quốc hội Pháp vào vị thế phụ thuộc.
Tất cả những điều đó khiến biểu tình trở thành một trong số ít phương thức để người dân Pháp có thể cất lên tiếng nói ngoài lá phiếu bầu cử. Ký ức về những cuộc đấu tranh trước đây được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trong đó những nhà hoạt động lớn tuổi kể cho đồng đội trẻ về lần đầu xuống đường của mình, cha mẹ tham gia ủng hộ con cái và giáo viên đứng về phía học sinh. Như bất kỳ người biểu tình Pháp dày dạn kinh nghiệm nào cũng hiểu, những biểu tượng, ngôn ngữ và sức mạnh của biểu tình vẫn có khả năng tạo tiếng vang xuyên suốt nhiều thập kỷ, thậm chí nhiều thế kỷ.
Và đôi khi, phương thức ấy thực sự phát huy hiệu quả: những người biểu tình đạt được yêu sách và các chương trình cải cách bị đảo ngược. Mọi chính phủ Pháp đều hiểu, đồng thời e ngại, sự phán xét từ đường phố, bởi tiếng nói ấy có thể hết sức gay gắt và không khoan nhượng.
Đây là một trong những lý do khiến các chính phủ Pháp thường xuyên chủ động ngăn chặn biểu tình bằng những biện pháp trấn áp bạo lực, đôi khi gây chết người. Từ cuộc đàn áp đẫm máu Công xã Paris năm 1871 đến tình trạng bạo lực của cảnh sát ngày nay, nhà chức trách Pháp thường có xu hướng sử dụng vũ lực trước rồi mới xem xét sự việc sau. Dù đã bước sang thế kỷ 21, họ vẫn tỏ ra đặc biệt khó tiếp nhận những chiến lược giảm leo thang căng thẳng. Thay vào đó, họ tiếp tục hành động dựa trên những quan niệm từ thế kỷ 19 về đám đông phi lý trí, coi tất cả mọi người, từ học sinh đến cổ động viên bóng đá, đều có thể trở thành mối đe dọa tiềm tàng.
Tuy nhiên, điều đó chỉ càng khiến những người biểu tình thêm quyết tâm. Một số chuyển sang sử dụng bạo lực công khai, tham gia cùng những kẻ phạm tội vặt phá hoại tài sản công và tư. Những người khác lại quay video TikTok ngay trước mặt cảnh sát chống bạo động, chế giễu một nhà nước luôn coi chính công dân của mình là những kẻ thường xuyên gây phiền toái.
Dĩ nhiên, nhiều phong trào biểu tình đương đại cũng trải qua một chu kỳ tương tự. Cùng thời điểm những cuộc biểu tình tại Pháp diễn ra, hàng trăm nghìn thanh niên Ấn Độ cũng phát động phong trào riêng nhằm phản đối một nhà nước mang tính chuyên quyền khác, và họ phải đối mặt với phản ứng trấn áp quyết liệt không kém.
Vậy tại sao những cuộc biểu tình ở Pháp vẫn tiếp tục thu hút sự chú ý và trí tưởng tượng của công chúng trên toàn thế giới?
Một phần nguyên nhân chắc chắn liên quan đến xu hướng, đặc biệt phổ biến trong thế giới nói tiếng Anh, hình dung nước Pháp như một xã hội bất ổn mang dáng dấp của một viễn cảnh phản địa đàng. Phần lớn đời sống chính trị Anh thế kỷ 19 được xây dựng trên một huyền thoại về sự ổn định của nước Anh, được đặt trong thế đối lập tích cực với những biến động cách mạng tại Pháp. Cách mô tả nước Pháp như vậy vẫn tồn tại mạnh mẽ đến ngày nay. Gần đây hơn, nhà tư tưởng bảo thủ nổi tiếng Roger Scruton thậm chí còn cho rằng gần như toàn bộ thế giới quan chính trị của ông được định hình từ những trải nghiệm tại Paris trong tháng 5/1968.
Tuy nhiên, đằng sau hiện tượng này còn có điều gì đó sâu xa hơn những định kiến và khuôn mẫu dân tộc đơn thuần. Mặc dù vị thế toàn cầu đã suy giảm đáng kể, Pháp vẫn duy trì được vai trò tiên phong trong các phong trào chính trị cấp tiến tại châu Âu, ở cả hai phía của phổ chính trị. Những người biểu tình tại Paris, chẳng hạn như thiếu niên Elwan, người có bài phát biểu hùng hồn ca ngợi chính trị cánh tả nhanh chóng lan truyền trên mạng, dường như có khả năng diễn đạt quan điểm mạch lạc và thuyết phục hơn những người cùng thế hệ ở các quốc gia khác. Cường độ biểu đạt mạnh mẽ của những biểu tượng cách mạng mà họ sử dụng cũng tạo nên sức hấp dẫn trên phạm vi toàn cầu.
Chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà phần lớn hệ thống hình ảnh và biểu tượng biểu tình của phong trào cực tả đương đại có nguồn gốc từ Pháp. Tương tự, một trong những khẩu hiệu và luận thuyết nổi bật nhất của phe cực hữu toàn cầu, thuyết “Đại Thay thế”, cũng xuất phát từ nước Pháp. Thuyết này cho rằng một nhóm tinh hoa tự do bí mật đang tìm cách thay thế cư dân bản địa bằng người nhập cư.
Mặc dù người Pháp hoàn toàn không độc quyền hoạt động biểu tình, thậm chí còn rất xa mới có thể nói như vậy, họ đã dành nhiều thời gian hơn bất kỳ quốc gia nào khác để định hình và truyền tải biểu tình thành những hình thức dễ được công chúng tiếp nhận. Những tư tưởng của họ vì thế tiếp tục ảnh hưởng đến các phong trào chính trị trên khắp thế giới. Chỉ riêng điều đó cũng đủ khiến những gì diễn ra trên đường phố Paris, Lyon và Marseille trở thành những hiện tượng đáng được quan sát và nghiên cứu kỹ lưỡng.
Emile Chabal là Giáo sư Lịch sử Đương đại tại Đại học Edinburgh.
