Đằng sau sự bành trướng quân sự của Trung Quốc tại Đông Nam Á

Nguồn: Lucas Myers, “China’s Military Expansion in Southeast Asia Masks a More Complicated Reality”, War on the Rocks, 15/10/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Thông báo của Bộ Quốc phòng Trung Quốc ngày 29/9 về việc thành lập một “trung tâm huấn luyện và hỗ trợ chung” tại sân bay Ban Keun ở Lào đã thu hút sự chú ý đến sự hiện diện quân sự ngày càng mở rộng của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) tại Đông Nam Á. Mặc dù Trung Quốc không gọi cơ sở này là một “căn cứ” và khẳng định nó “không nhằm vào bất kỳ bên thứ ba nào”, đây vẫn là cơ sở quân sự đầu tiên ở nước ngoài tập trung vào sức mạnh không quân mà Bắc Kinh công khai thừa nhận. Ban Keun, cùng với Djibouti và Căn cứ Hải quân Ream ở Campuchia, đang tạo thành những mắt xích trong mạng lưới cơ sở hạ tầng an ninh ngày càng mở rộng của Trung Quốc ở nước ngoài.

Những lo ngại về diễn biến này là điều dễ hiểu. Mặc dù có quy mô nhỏ hơn căn cứ của Trung Quốc tại Djibouti, hình ảnh vệ tinh cho thấy tám máy bay tấn công hạng nhẹ cùng các phương tiện hỗ trợ xuất hiện trên đường băng dài 2.000 m hiện vẫn đang được xây dựng. Dù chưa đủ khả năng hỗ trợ các máy bay ném bom tầm xa, cơ sở này nhiều khả năng sẽ giúp tăng cường năng lực hậu cần và tình báo của Trung Quốc, đa dạng hóa khả năng tiếp cận căn cứ tại Đông Nam Á thay vì chỉ dựa vào Campuchia, đồng thời đưa Lào tham gia sâu hơn vào mạng lưới mua bán vũ khí của Bắc Kinh. Về lâu dài, trung tâm hỗn hợp này có thể tăng cường khả năng triển khai sức mạnh quân sự của Không quân Trung Quốc trên khắp Đông Nam Á lục địa, qua đó có thể ảnh hưởng đến các lực lượng Mỹ hoạt động ở phía đông Ấn Độ Dương. Đối với Việt Nam, diễn biến này càng làm gia tăng cảm giác bị bao vây về mặt chiến lược.

Phản ứng gần như mang tính bản năng của nhiều nhà hoạch định chính sách tại Washington mỗi khi xuất hiện thông tin đồn đoán hoặc thông báo về một cơ sở quân sự mới của Trung Quốc ở nước ngoài là nhìn nhận sự việc qua lăng kính cạnh tranh Mỹ – Trung. Trong trường hợp Căn cứ Hải quân Ream tại Campuchia, Washington đã áp đặt các biện pháp trừng phạt để đáp trả. Tuy nhiên, cách phản ứng này cho thấy Mỹ chưa hiểu đúng những lợi ích đa dạng và phức tạp đang thúc đẩy các đối tác trong khu vực hợp tác với Trung Quốc, cũng như cách thức ứng phó hiệu quả với xu hướng đó.

Mặc dù cơ sở hàng không tại Lào cho thấy sự hiện diện an ninh ngày càng lớn của Bắc Kinh tại Đông Nam Á, động lực thúc đẩy các quốc gia xích lại gần Trung Quốc lại bắt nguồn từ những nhận thức khác nhau về các mối đe dọa, đặc biệt là an ninh chế độ và những lo ngại trong nội bộ ASEAN, thay vì từ sự đối đầu kiểu Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Trung Quốc. Các chính phủ trong khu vực vẫn tiếp tục theo đuổi chiến lược cân bằng quan hệ nhằm phòng ngừa rủi ro, qua đó để ngỏ cơ hội cho Mỹ cạnh tranh hiệu quả với Bắc Kinh.

Sự hiện diện an ninh ngày càng mở rộng của Trung Quốc tại Đông Nam Á

So với mức độ can dự an ninh của Mỹ trong khu vực, sự hiện diện của Trung Quốc vẫn còn hạn chế hơn, nhưng đang ngày càng mở rộng. Trung Quốc tiếp tục quân sự hóa các thực thể địa lý tại Biển Đông. Ở Đông Nam Á lục địa, sân bay quân sự tại Lào bổ sung vào mạng lưới hiện diện quân sự của Bắc Kinh bên cạnh Căn cứ Hải quân Ream ở Campuchia, cơ sở được đưa vào hoạt động năm 2025, chính thức thuộc quyền kiểm soát của Campuchia và là nơi các lực lượng hải quân luân phiên triển khai. Campuchia, Lào và Thái Lan nổi bật nhờ mức độ gắn kết sâu rộng trong quan hệ quân sự với Bắc Kinh, trong khi Indonesia, Malaysia và Thái Lan gần đây đã thiết lập các cơ chế đối thoại 2+2 với Trung Quốc, có sự tham gia của bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng hai bên. Xuất khẩu vũ khí cũng là một lĩnh vực đang phát triển mạnh của Bắc Kinh. Indonesia dự kiến tiếp nhận các máy bay chiến đấu J-10, trong khi Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành nhà cung cấp vũ khí chính cho Bangkok.

Tuy nhiên, lợi thế so sánh lớn nhất của Trung Quốc so với Mỹ nằm ở khả năng hỗ trợ bảo đảm an ninh chế độ. Sáng kiến An ninh Toàn cầu, một trong bốn khuôn khổ hợp tác đối ngoại do Bắc Kinh thúc đẩy, cam kết cung cấp hỗ trợ về an ninh nội bộ cho các đối tác theo chế độ chuyên chế, qua đó tăng cường năng lực nhà nước và đồng thời thúc đẩy những chuẩn mực quản trị mà Trung Quốc ủng hộ. Campuchia, Lào, chính quyền quân sự Myanmar và Việt Nam đều đã chính thức tham gia sáng kiến này. Mặc dù Bangkok vẫn đứng ngoài khuôn khổ đó, hoạt động hợp tác về an ninh nội bộ và cảnh sát, đặc biệt nhằm vào các trung tâm lừa đảo tại Myanmar, vẫn phản ánh mối quan hệ quân sự nồng ấm giữa Thái Lan và PLA.

Do Đảng Cộng sản Trung Quốc theo đuổi quan niệm an ninh toàn diện, trong đó sự lãnh đạo của đảng được đồng nhất với an ninh quốc gia, các thỏa thuận về an ninh nội bộ thường mở rộng sang hợp tác quân sự bên ngoài. Đáng chú ý, năm 2026, Bắc Kinh đã nâng cấp cơ chế đối thoại an ninh 2+2 với Campuchia, Lào và Việt Nam lên thành 3+3 bằng cách bổ sung các cơ quan phụ trách an ninh nội bộ. Đối với mỗi chính quyền này, sự hỗ trợ về an ninh nội bộ từ Trung Quốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi Bắc Kinh có thể chuyển giao những kinh nghiệm và năng lực đáng kể trong lĩnh vực giám sát công nghệ cao và hoạt động thực thi pháp luật mang tính bán quân sự. Trường hợp Việt Nam cho thấy hợp tác an ninh nội bộ giúp lý giải phần nào nghịch lý trong cách tiếp cận Trung Quốc: dù Bắc Kinh đe dọa các yêu sách của Việt Nam tại Biển Đông, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ không tìm cách lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam, trong khi một cuộc cách mạng lại có thể dẫn đến điều đó.

Tăng cường quan hệ an ninh không đồng nghĩa với liên kết chiến lược

Nếu nhìn qua lăng kính cạnh tranh Mỹ – Trung, người ta có thể cho rằng sự hiện diện an ninh ngày càng mở rộng của Trung Quốc tại Đông Nam Á đồng nghĩa với việc Washington bị suy giảm ảnh hưởng. Mỹ đang bị phân tán sự chú ý và chưa đầu tư tương xứng vào Đông Nam Á, trong khi quan hệ an ninh ngày càng sâu sắc của Trung Quốc tiếp tục củng cố vị thế thống trị kinh tế gần như không thể thách thức của nước này. Cuộc khảo sát thường niên năm 2026 của Viện ISEAS tại Singapore đối với giới tinh hoa ASEAN cho thấy đa số người được hỏi sẽ đứng về phía Bắc Kinh nếu buộc phải lựa chọn một bên để liên kết.

Tuy nhiên, cục diện địa chính trị Đông Nam Á vẫn liên tục biến động. Các mối quan hệ liên kết trong khu vực mang nhiều chiều cạnh và cuối cùng chỉ có tính tạm thời, do mạng lưới nhận thức về mối đe dọa rất phức tạp, bao gồm cả những lo ngại đối với chính Trung Quốc. Trên thực tế, khảo sát năm 2025 của ISEAS cho thấy đa số người được hỏi sẽ lựa chọn đứng về phía Mỹ, có thể do căng thẳng tại Biển Đông gia tăng trở lại. Năm 2024, Trung Quốc dẫn trước với tỷ lệ 50,5%, sau những năm Mỹ chiếm ưu thế, nhiều khả năng do sự ủng hộ của Washington dành cho Israel. Thay vì phản ánh những chuyển dịch bền vững trong xu hướng liên kết chiến lược của khu vực, kết quả khảo sát chủ yếu cho thấy phản ứng tức thời trước những sự kiện cụ thể. Thực tế, khi đi sâu vào những nội dung khác của khảo sát, chẳng hạn các sự kiện địa chính trị được chính phủ các nước ASEAN xem là mối quan ngại hàng đầu, có thể thấy rất ít sự đồng thuận về những mối đe dọa được cho là chi phối lựa chọn liên kết của họ.

Chính nhận thức đa dạng và liên tục thay đổi về các mối đe dọa trong khu vực, chứ không phải cạnh tranh giữa các cường quốc, mới là yếu tố lý giải rõ hơn động lực thúc đẩy các nước tăng cường quan hệ an ninh với Trung Quốc. Mặc dù ASEAN tự nhận đã đóng vai trò giảm thiểu xung đột giữa các quốc gia kể từ thời Chiến tranh Lạnh, một số nước thành viên lại lo ngại lẫn nhau nhiều hơn cả Trung Quốc hoặc Mỹ. Đồng thời, họ có thể coi Bắc Kinh là đối tác trong một số lĩnh vực, như an ninh nội bộ, nhưng lại là đối thủ trong những lĩnh vực khác, chẳng hạn tranh chấp trên biển. Các chính phủ Đông Nam Á không đánh giá Trung Quốc và Mỹ chỉ thông qua lăng kính cạnh tranh cường quốc. Thay vào đó, hành vi của họ phản ánh những tính toán luôn thay đổi về các mối đe dọa từ bên ngoài, an ninh của chế độ cầm quyền và sự cạnh tranh giữa các nước trong khu vực.

Lào, một quốc gia không giáp biển và cũng theo chế độ cộng sản, dường như là đối tác tự nhiên của Trung Quốc bởi nước này không coi Bắc Kinh là mối đe dọa an ninh trực tiếp. Hoạt động huấn luyện và hỗ trợ không quân giúp nâng cao năng lực của chính Lào, đồng thời bảo đảm nước này tiếp tục nhận được hỗ trợ kinh tế từ Trung Quốc, bất chấp những rủi ro phụ thuộc rõ ràng. Nếu có thể trở thành đối tác được Bắc Kinh ưu tiên nhất, Lào sẽ có cơ hội hưởng lợi.

Mặc dù thường bị Washington xem thường và gọi là một “quốc gia bù nhìn của Trung Quốc”, môi trường an ninh khu vực mà Campuchia phải đối mặt nguy hiểm hơn nhiều so với Lào. Ngoài những cân nhắc về an ninh chế độ, một phần tính toán chiến lược thúc đẩy Phnom Penh xích lại gần Bắc Kinh là nhằm phòng ngừa những mối đe dọa an ninh tiềm tàng từ hai nước láng giềng Việt Nam và Thái Lan. Năm 2025, tranh chấp lãnh thổ dọc biên giới đã châm ngòi cho một cuộc xung đột vũ trang ngắn nhưng dữ dội giữa Campuchia và Thái Lan, kết thúc bằng một thỏa thuận ngừng bắn mong manh. Những căng thẳng vẫn âm ỉ giữa hai nước cho thấy nguy cơ chiến tranh tái diễn, khiến Phnom Penh hy vọng quan hệ an ninh với Trung Quốc có thể bù đắp phần nào thế yếu tương đối trước các đối thủ truyền thống, hoặc ít nhất duy trì sự tham gia của Bắc Kinh với tư cách một bên trung gian hòa giải thân thiện.

Động lực này, cùng với sự thiếu tin tưởng vào việc phụ thuộc hoàn toàn vào Bắc Kinh, đã thúc đẩy Phnom Penh khôi phục quan hệ với Mỹ dưới thời chính quyền Trump, vốn ít chú trọng đến vấn đề nhân quyền hơn các chính quyền Mỹ trước đây. Sau mười năm gián đoạn, Washington và Phnom Penh dự kiến nối lại các cuộc tập trận quân sự chung vào năm 2027. Campuchia cũng đón một chuyến thăm của Hải quân Mỹ tới Căn cứ Hải quân Ream hồi đầu năm nay, qua đó thể hiện rằng căn cứ này thuộc quyền kiểm soát của Campuchia chứ không phải Trung Quốc. Đồng thời, Campuchia vẫn tiếp tục mở rộng quan hệ an ninh với các cường quốc khác, đặc biệt là Nhật Bản.

Mặc dù giới tinh hoa Thái Lan coi Trung Quốc là đối tác được ưu tiên, Bangkok cũng đang ở trong một tình thế phức tạp tương tự. Việc vũ khí Trung Quốc trong tay quân đội Campuchia được triển khai trên chiến trường đã trở thành một vấn đề gây bất bình. Trong một số trường hợp, hành động của Trung Quốc còn làm dấy lên lo ngại về ảnh hưởng chính trị của nước này. Trong chiến dịch chung trấn áp các trung tâm lừa đảo năm 2025, một quan chức cấp cao Trung Quốc đã trực tiếp giám sát việc đưa những công dân Trung Quốc bị bắt giữ tại Myanmar hồi hương qua lãnh thổ Thái Lan. Sự việc làm dấy lên tranh luận về mức độ can dự của Trung Quốc vào các vấn đề an ninh và thực thi pháp luật nhạy cảm trên lãnh thổ Thái Lan dọc biên giới Myanmar. Sau đó, vị quan chức này đã xin lỗi vì “sự hiểu lầm” phát sinh từ những hành động quá nhanh của Trung Quốc, khiến người ta có cảm giác Bắc Kinh không tôn trọng chủ quyền Thái Lan. Điều quan trọng là Thái Lan vẫn chưa từ bỏ quan hệ quốc phòng với Mỹ, dù liên minh giữa hai nước đã suy yếu so với các thập kỷ trước. Cuộc tập trận quân sự Cobra Gold giữa Mỹ và Thái Lan vẫn là cuộc tập trận lớn nhất Đông Nam Á, và hai bên đã bày tỏ ý định ký một tuyên bố tầm nhìn chung mới trước cuối năm 2026.

Trong khi đó, Việt Nam cho thấy những phân tích chỉ dựa trên an ninh đối ngoại đã bỏ sót một yếu tố then chốt: an ninh chế độ. Là đối tác gần gũi nhất của Lào, Việt Nam khó có thể yên tâm trước thông báo về sự hiện diện của Không quân Trung Quốc ở phía tây lãnh thổ mình. Bị kẹp giữa hoạt động xây dựng đảo của Trung Quốc tại Biển Đông và mối quan hệ chặt chẽ giữa Bắc Kinh với Campuchia, Hà Nội có những lo ngại sâu sắc, nhất là khi từng trải qua chiến tranh với nước láng giềng phía bắc vào năm 1979 và nhiều cuộc đụng độ trên biển sau đó. Chính những bất an về an ninh này đã thúc đẩy quá trình xích lại gần nhau giữa Mỹ và Việt Nam trong những thập kỷ gần đây, đồng thời khiến Việt Nam duy trì quan hệ gần gũi với Nga.

Tuy nhiên, một lần nữa cho thấy rất ít quan hệ song phương trong ASEAN chỉ mang một chiều cạnh, quan hệ Việt Nam – Lào dường như hầu như không chịu tổn hại bởi cơ sở không quân nói trên. Trong khi đó, quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc lại ngày càng sâu sắc trong những năm gần đây. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm về cơ bản theo đuổi cách tiếp cận thực dụng trong chiến lược nước đôi. Trên phương diện an ninh đối ngoại, nơi Trung Quốc đặt ra những thách thức, điều này được thể hiện qua việc tăng cường quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, xét từ góc độ an ninh chế độ, nơi sự chú trọng đôi lúc của Washington vào nhân quyền và dân chủ có thể tự nó trở thành một mối đe dọa, Việt Nam nhìn thấy lợi ích trong việc hợp tác chặt chẽ với Trung Quốc về an ninh nội bộ. Tương tự Campuchia, năm 2026, Việt Nam cũng nâng cấp cơ chế đối thoại 2+2 với Trung Quốc lên khuôn khổ 3+3, có sự tham gia của các cơ quan phụ trách an ninh nội bộ.

Mỹ có thể làm gì để một lần nữa trở thành đối tác an ninh đáng tin cậy?

Mỹ và Trung Quốc đang cạnh tranh ảnh hưởng tại Đông Nam Á, nhưng điều đó không dẫn đến sự hình thành những khối liên kết cứng nhắc như trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Thay vào đó, các mối quan hệ an ninh và nhận thức về mối đe dọa giữa những quốc gia như Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam vừa có nhiều tầng nấc vừa liên tục thay đổi, tạo nên một cục diện pha trộn, trong đó không có cường quốc nào chiếm ưu thế tuyệt đối. Các thủ đô ASEAN đang chủ động đa dạng hóa quan hệ với châu Âu, Nhật Bản, Trung Đông, Nga và Hàn Quốc nhằm tạo ra những lựa chọn thay thế cho Trung Quốc và Mỹ. Vì vậy, bài học mà các nhà hoạch định chính sách Washington cần rút ra từ việc PLA mở rộng hiện diện sang Lào là phải tăng cường hơn nữa can dự vào khu vực, thay vì quay lưng với Viêng Chăn và các đối tác thân cận khác của Bắc Kinh.

Tuy nhiên, Washington đang đối mặt với hai thách thức chính sách tại Đông Nam Á: việc thúc đẩy dân chủ và nhân quyền khiến các chính phủ trong khu vực xa lánh Mỹ, trong khi cách nhìn nhận mọi vấn đề qua lăng kính cạnh tranh cường quốc lại làm lu mờ sự khác biệt trong nhận thức về các mối đe dọa giữa từng quốc gia.

Lợi thế của Trung Quốc trong lĩnh vực bảo đảm an ninh chế độ khó có thể bị Mỹ hóa giải, bởi các giá trị đóng vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Washington. Cách chính quyền Biden định hình thế giới thành cuộc đối đầu giữa “các nền dân chủ và các chế độ chuyên chế” đã khiến nhiều quốc gia Đông Nam Á cảm thấy bị xa lánh. Việc Tổng thống Trump tương đối giảm nhấn mạnh các giá trị này sau đó đã tạo điều kiện khôi phục quan hệ với Campuchia và Thái Lan. Tuy nhiên, chính quyền của ông cũng từng bước tiếp xúc với chính quyền quân sự Myanmar mà không mang lại lợi ích rõ ràng nào cho lợi ích quốc gia của Mỹ, xét đến sự thiếu tin cậy của Naypyidaw và việc chính quyền này không có khả năng thực hiện những cam kết.

Trong thời gian tới, khó có thể hình dung Washington sẽ từ bỏ các giá trị mà mình theo đuổi, và không phải chính quyền nào cũng đáng để Mỹ thiết lập quan hệ hợp tác. Việc cạnh tranh với gói hỗ trợ giám sát an ninh của Trung Quốc không phải lựa chọn thực tế đối với một nền dân chủ. Hơn nữa, sự tồn tại của một xã hội dân sự độc lập, vốn bị những chính quyền như Hà Nội nhìn nhận qua lăng kính nguy cơ “cách mạng màu”, cũng góp phần định hình nhận thức về mối đe dọa của họ. Ngoài ra, có những chính quyền, đặc biệt là chính quyền quân sự Myanmar, mà quy mô bạo lực và đàn áp đã quá lớn để có thể biện minh cho việc hợp tác, nhất là khi một phong trào kháng cự vẫn còn đủ sức mạnh và có lập trường phù hợp hơn với lợi ích quốc gia cũng như các giá trị của Mỹ đang tiếp tục ngăn cản chính quyền quân sự củng cố quyền lực. Ngay cả khi có thể giảm bớt một số yếu tố gây lo ngại, chẳng hạn bằng cách hạn chế sử dụng luận điệu đối đầu giữa “các nền dân chủ và các chế độ chuyên chế”, Washington vẫn phải chấp nhận rằng mình không thể cạnh tranh ngang bằng với Trung Quốc trong lĩnh vực bảo đảm an ninh chế độ.

Tuy nhiên, những giá trị mà Mỹ theo đuổi cũng có thể mang lại lợi thế, đặc biệt là tính minh bạch và sự tin cậy. Mặt khác, điều này cũng giúp lý giải vì sao những nền dân chủ trong khu vực như Philippines không tin tưởng Trung Quốc, tương tự tâm lý của người dân và giới tinh hoa tại nhiều quốc gia có quan hệ gần gũi với Bắc Kinh. Chẳng hạn, ISEAS ghi nhận 90,6% người được hỏi tại Thái Lan bày tỏ lo ngại về ảnh hưởng của Trung Quốc. Mỹ vẫn có thể vượt Trung Quốc trong lĩnh vực an ninh đối ngoại, đồng thời nỗ lực nhiều hơn để thấu hiểu nhận thức về các mối đe dọa trong khu vực, bao gồm cả những mối đe dọa liên quan đến an ninh nội bộ.

Để xử lý hiệu quả hơn nhận thức về các mối đe dọa, Washington nên điều chỉnh chính sách phù hợp với lợi ích của từng quốc gia, đồng thời dựa trên đánh giá chiến lược thận trọng về những mục tiêu muốn đạt được so với nguy cơ khiến các đối tác xa lánh. Chẳng hạn, những biện pháp trừng phạt nhằm vào Campuchia đã làm gia tăng lo ngại về an ninh chế độ và thúc đẩy Phnom Penh xích lại gần Trung Quốc, nhưng lại không giúp ích đáng kể cho lực lượng đối lập Campuchia trên thực địa hoặc làm thay đổi chính sách của Phnom Penh. Ngược lại, việc chính quyền Trump nới lỏng trừng phạt nhiều khả năng sẽ giúp Campuchia quay trở lại lập trường cân bằng hơn so với những biện pháp trừng phạt có mục tiêu nhưng thiếu hiệu quả trước đây. Việc thấu hiểu môi trường an ninh đối ngoại cũng có thể tạo ra hiệu quả cộng hưởng đáng kể. Xét đến những lo ngại của Phnom Penh đối với Việt Nam và Thái Lan, Washington nên xây dựng hình ảnh một bên trung gian hòa giải đáng tin cậy và phản ứng kịp thời hơn so với vai trò mà chính quyền Trump và Trung Quốc từng thể hiện trong cuộc chiến biên giới Thái Lan – Campuchia năm 2025, khi những nỗ lực hòa giải khi đó mang tính biểu tượng nhiều hơn là thực chất.

Đối với Lào, thách thức lớn nhất vẫn là năng lực quản lý nhà nước còn hạn chế và trình độ phát triển kinh tế thấp, đặc biệt là gánh nặng nợ khổng lồ đối với Bắc Kinh. Tại đây, việc mở rộng quy mô viện trợ phát triển truyền thống có thể giúp Mỹ tạo dựng thiện cảm và từng bước làm suy giảm vị thế thống trị của Trung Quốc. Mặc dù không phải đối mặt với những mối đe dọa an ninh trực tiếp từ bên ngoài, Viêng Chăn vẫn coi trọng các chương trình nâng cao năng lực và đào tạo, đặc biệt trong lĩnh vực thực thi pháp luật, nhằm đối phó hiệu quả hơn với các tổ chức tội phạm hoạt động trên lãnh thổ nước này. Mục tiêu ở đây không phải khiến Lào liên kết với Mỹ, mà đơn giản là cung cấp thêm những lựa chọn an ninh ngoài các hỗ trợ do Trung Quốc đưa ra.

Đối với Bangkok, giới tinh hoa quân sự và bảo hoàng Thái Lan coi Bắc Kinh là đối tác được ưu tiên trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và duy trì ổn định. Vì vậy, liên minh Mỹ – Thái khó có thể trở lại mức độ gần gũi như những thập kỷ trước. Tuy nhiên, Washington vẫn nên tiếp tục vun đắp quan hệ quốc phòng, đồng thời đẩy nhanh việc mở rộng những hình thức hợp tác thay thế, đặc biệt trong lĩnh vực chống tội phạm xuyên quốc gia. Xã hội Thái Lan ngày càng lo ngại về tác động của các trung tâm lừa đảo và tình trạng ô nhiễm từ Myanmar. Chiến dịch trấn áp của Trung Quốc từng làm dấy lên tranh luận về chủ quyền Thái Lan năm 2025 cũng là lời nhắc nhở về cách hành xử đôi khi mang tính áp đặt của Bắc Kinh. Đáng chú ý, gần đây Mỹ đã cam kết dành nguồn lực cho hoạt động hợp tác thực thi pháp luật trong khu vực với Thái Lan. Việc mở rộng các chương trình hỗ trợ này, đồng thời nhấn mạnh sự tin cậy và trách nhiệm giải trình mà một quốc gia dân chủ có thể mang lại khi hợp tác với một nền dân chủ khác, sẽ tạo ra phương án thay thế cho những hỗ trợ về an ninh nội bộ của Trung Quốc.

Cuối cùng, đối với Việt Nam, quan hệ với Mỹ vẫn tiếp tục được tăng cường, dù những thách thức như chính sách thương mại vẫn tồn tại. Washington cũng khó có thể cạnh tranh với Trung Quốc về an ninh nội bộ, xét đến mối quan hệ giữa hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Về căn bản hơn, vẫn còn những nghi ngờ về mức độ cam kết của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cùng một số sự thiếu tin tưởng bắt nguồn từ thái độ không hài lòng của Washington đối với việc Việt Nam mua vũ khí Nga.

Tuy nhiên, do vị thế tương đối dễ bị tổn thương của Việt Nam trên phương diện an ninh đối ngoại, Mỹ có cơ hội thực hiện thêm những biện pháp nhằm củng cố lòng tin của Hà Nội. Hai đối tác cung cấp hỗ trợ an ninh đối ngoại quan trọng nhất của Việt Nam là Mỹ và Nga đều đang bị phân tán sự chú ý, đồng thời đối đầu với nhau, khiến Hà Nội phần nào bất an. Việc Moscow sa lầy trong cuộc chiến tại Ukraine đang làm suy yếu vị thế của Nga trên thị trường vũ khí Đông Nam Á, trong khi quan hệ ngày càng gần gũi giữa Nga và Trung Quốc đặt ra nghi vấn về mức độ đáng tin cậy của Moscow nếu xảy ra xung đột tại Biển Đông. Vì vậy, ưu tiên của Washington nên là đẩy nhanh quá trình phê duyệt các thương vụ bán vũ khí cho Việt Nam, đồng thời thấu hiểu những mối đe dọa an ninh nghiêm trọng mà Hà Nội đang đối mặt và tránh đe dọa trừng phạt Việt Nam vì quan hệ với Moscow. Tại Biển Đông, mặc dù Việt Nam theo đuổi cách tiếp cận kín đáo hơn Philippines, những hành động thể hiện quyết tâm của Mỹ trong việc hỗ trợ Manila vẫn có tác dụng đáng kể, đồng thời cho thấy những giới hạn trong sự hậu thuẫn của Moscow. Về lâu dài, những động thái này có thể giúp Washington trở thành đối tác được Việt Nam tin tưởng hơn.

Nhìn chung, các quốc gia Đông Nam Á có thể không hoàn toàn tin tưởng Mỹ, nhưng không chính phủ nào trong khu vực muốn Washington rút lui. Mặc dù cần có những đánh giá thực tế về mức độ mà các quốc gia đang theo đuổi chiến lược cân bằng có thể rời xa Trung Quốc và xích lại gần Mỹ, Washington vẫn cần dành nhiều nguồn lực và sự quan tâm hơn ở cấp độ thể chế cho bức tranh an ninh cùng những nhận thức phức tạp về các mối đe dọa tại Đông Nam Á. Một cách tiếp cận áp dụng chung cho mọi quốc gia có nguy cơ khiến Mỹ tự đánh mất thế chủ động vào tay Trung Quốc, trong khi chính sách được điều chỉnh phù hợp với từng đối tác sẽ giúp Washington đối trọng với Bắc Kinh hiệu quả hơn.

Lucas Myers là Trợ lý Giám đốc Chương trình Trung Quốc và Mỹ tại Trường Chính sách Công thuộc Đại học Maryland, đồng thời là học giả thỉnh giảng không thường trú tại Trung tâm Nghiên cứu châu Á Sigur thuộc Đại học George Washington.