Trục nổi dậy Iran – Triều Tiên – Nga – Trung Quốc bước vào cuộc chiến

Nguồn: Andrea Kendall-Taylor và Richard Fontaine, “The Axis of Upheaval Goes to War”, Foreign Affairs, 16/10/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Ngày 17/7, một tên lửa của Iran đã đánh trúng Căn cứ Không quân Muwaffaq Salti tại Jordan, khiến ba binh sĩ Mỹ thiệt mạng và bốn người khác bị thương. Cuộc tấn công có độ chính xác khác thường. Trong những tuần sau đó, giới chức Mỹ phát hiện rằng trước cuộc tấn công, Tehran đã nhận được những hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao về căn cứ này, có thể giúp xác định mục tiêu chính xác hơn. Sau cuộc tấn công, Iran tiếp tục nhận được những hình ảnh khác, có khả năng hỗ trợ nước này đánh giá thiệt hại và điều chỉnh các đòn tấn công trong tương lai. Những hình ảnh đó đến từ các thực thể Trung Quốc.

Trung Quốc không phải quốc gia duy nhất hỗ trợ Iran. Nga cũng đã giúp Tehran xác định và tấn công các mục tiêu của Mỹ và đồng minh. Hai ngày trước cuộc tấn công ngày 27/3 nhằm vào Căn cứ Không quân Prince Sultan tại Ả Rập Saudi, 14 vệ tinh do thám của Nga đã bay qua khu vực này, khiến 12 quân nhân Mỹ bị thương. Sau đó, giới chức Mỹ kết luận rằng Moscow đã cung cấp cho Iran thông tin tình báo vệ tinh, hỗ trợ các cuộc tấn công chính xác của Tehran. Moscow còn cung cấp cho Iran vũ khí và chuyên môn quân sự, bao gồm những phiên bản nâng cấp của drone Iran được cải tiến qua kinh nghiệm thực chiến tại Ukraine. Các kỹ sư Nga cũng đang giúp Iran phát triển tên lửa hành trình siêu thanh có khả năng vượt qua hệ thống phòng không của Mỹ và Israel.

Cả Nga lẫn Trung Quốc đều chưa trực tiếp tham chiến cùng Iran trong cuộc chiến chống Mỹ. Họ cũng không cần phải làm vậy. Bằng cách cung cấp thông tin tình báo về các mục tiêu Mỹ, công nghệ và linh kiện quân sự, cùng sự hỗ trợ kinh tế và ngoại giao, hai nước có thể đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của Iran mà không phải trực tiếp tham gia cuộc chiến.

Mỹ bước vào cuộc xung đột với những lợi thế mà các đối thủ không có được: một mạng lưới rộng lớn gồm các đồng minh chính thức, căn cứ quân sự, cơ chế chia sẻ tình báo, quan hệ đối tác quốc phòng và các lực lượng có khả năng phối hợp tác chiến trên khắp châu Âu, Trung Đông và châu Á. Tuy nhiên, nhiều đối tác truyền thống của Washington lại ngần ngại để mình bị gắn với chiến dịch quân sự này, thậm chí một số nước còn từ chối cho Mỹ tiếp cận các cơ sở hoặc sử dụng một số hình thức hỗ trợ quân sự nhất định, ít nhất trong một khoảng thời gian. Những đối tác khác công khai phản đối lời kêu gọi của Mỹ về việc hỗ trợ bảo đảm an ninh tại eo biển Hormuz.

Sự tương phản này cho thấy một chuyển biến đáng chú ý kể từ khi chúng tôi lần đầu mô tả Nga, Trung Quốc, Iran và Triều Tiên là một “trục nổi dậy” trên tạp chí Foreign Affairs hai năm trước. Khi cuộc chiến bắt đầu, các đối thủ của Mỹ sở hữu mạng lưới hợp tác yếu hơn, trong khi Washington có một mạng lưới vượt trội. Nhưng sau vài năm hỗ trợ Nga tiến hành cuộc chiến tại Ukraine, các thành viên trong trục hiện đang tìm ra cách vận hành mạng lưới của mình tại một chiến trường mới. Họ đang tinh chỉnh phương thức hợp tác nhằm giúp các đối tác tăng cường khả năng chống chịu và trở nên nguy hiểm hơn đối với Mỹ, đồng thời hạn chế chi phí và rủi ro. Trong khi đó, Washington lại tạo ra những bất đồng trong nhiều quan hệ đối tác của mình thay vì củng cố chúng, có nguy cơ phung phí lợi thế về mạng lưới đúng vào lúc các đối thủ đang học cách khai thác hiệu quả hơn mạng lưới của họ.

NHỮNG NGUỒN CƠN GÂY BIẾN ĐỘNG

Rất nhiều điều đã thay đổi kể từ năm 2024. Rõ ràng nhất là chính nước Mỹ đã trở thành một nguồn gây biến động trong hệ thống quốc tế. Chính quyền Trump đã thách thức các thể chế quốc tế, gây căng thẳng trong những liên minh truyền thống và áp dụng một cách tiếp cận mang tính giao dịch rõ nét hơn trong chính sách đối ngoại. Chính quyền này đã đảo lộn các thỏa thuận thương mại, đe dọa chủ quyền của những đồng minh như Canada và Đan Mạch, đồng thời lựa chọn sự khó lường trong hành động. Washington cũng tìm cách cải thiện quan hệ với Trung Quốc, Triều Tiên và Nga, trong khi nỗ lực làm suy yếu Iran. Tuy nhiên, không động thái nào trong số đó khiến mối liên kết giữa các đối thủ của Mỹ trở nên lỏng lẻo hơn.

Trong giai đoạn đầu nhiệm kỳ của chính quyền Trump, giới chức Mỹ từng bày tỏ hy vọng rằng việc bình thường hóa quan hệ với Moscow có thể lôi kéo Nga rời khỏi nhóm này. Tuy nhiên, thái độ thân thiện mà Tổng thống Donald Trump thường xuyên thể hiện đối với Điện Kremlin vẫn không tạo ra bất kỳ rạn nứt nào trong quan hệ giữa Nga và ba quốc gia còn lại. Từ góc nhìn của Moscow, chính quyền Trump đã không thể đạt được một thỏa thuận về Ukraine, và bất kỳ sự xích lại gần nhau nào với Washington do Trump thúc đẩy cũng khó có thể kéo dài. Quốc hội Mỹ vẫn tiếp tục gây sức ép lên Nga, trong khi một chính quyền tương lai hoàn toàn có thể áp dụng đường lối cứng rắn hơn.

Quan trọng hơn, những nỗ lực làm suy yếu trục này cho thấy Washington chưa hiểu đúng yếu tố thực sự gắn kết các thành viên của nó. Các quốc gia trong nhóm phản đối một trật tự quốc tế mà họ cho rằng đang củng cố sự thống trị của phương Tây bằng cách gây bất lợi cho mình. Nhưng cụ thể hơn, điều họ chống lại là quyền lực vượt trội của Mỹ trong việc kiềm chế, cô lập và trừng phạt họ, thậm chí có khả năng đe dọa sự tồn tại của các chế độ cầm quyền. Những hành động gần đây của Mỹ chỉ làm sống lại những lo ngại ấy. Việc Mỹ bắt giữ nhà lãnh đạo Venezuela Nicolás Maduro và sát hại Lãnh tụ Tối cao Iran Ali Khamenei càng củng cố những nỗi lo đã tồn tại từ lâu tại Bắc Kinh, Moscow, Bình Nhưỡng và Tehran về sự can thiệp của Mỹ và an ninh chế độ.

Các quốc gia trong trục có thể giảm bớt những lời lẽ chống Mỹ khi điều đó mang lại lợi ích chiến thuật, nhưng động lực giảm thiểu khả năng bị tổn thương trước sức mạnh của Washington vẫn không thay đổi. Bản thân thái độ hoài nghi của chính quyền Trump đối với trật tự quốc tế cũng không thể xoa dịu những lo ngại tại thủ đô các nước này. Trái lại, nỗ lực của Trump nhằm tạo dựng một thế giới vận hành dựa nhiều hơn vào các giao dịch có điều kiện và sức ép cưỡng chế có thể khiến quan hệ đối tác giữa họ trở nên giá trị hơn. Khi các quy tắc và thể chế ngày càng ít khả năng tạo ra ràng buộc, còn sức mạnh áp đặt trực tiếp trở nên quan trọng hơn, các quốc gia sẽ tìm kiếm đối tác để cùng giảm thiểu tác động của lệnh trừng phạt, tiếp cận những công nghệ thiết yếu, bù đắp các điểm yếu quân sự, mở rộng không gian hành động và chống lại sự cô lập. Quan hệ hợp tác trong trục này đang phát triển để thích ứng với hoàn cảnh mới.

CHIẾN TRƯỜNG MỚI, THÁCH THỨC MỚI

Khi Nga phát động cuộc xâm lược toàn diện Ukraine năm 2022, quan hệ hợp tác giữa bốn quốc gia vẫn tương đối dễ nhận diện. Iran cung cấp drone cho Nga, còn Triều Tiên chuyển giao đạn dược, tên lửa đạn đạo và sau đó là cả binh sĩ. Trung Quốc trở thành nguồn hỗ trợ sống còn quan trọng nhất của Moscow thông qua việc mua dầu của Nga và cung cấp máy công cụ, linh kiện vi điện tử cùng những thành phần khác mà Nga cần để duy trì, rồi mở rộng năng lực sản xuất quân sự. Đổi lại, Nga chuyển giao cho các đối tác những công nghệ quân sự ngày càng tinh vi.

Những hoạt động trao đổi này có tác động đáng kể, nhưng về cơ bản vẫn có thể được hiểu là một chuỗi giao dịch song phương tập trung phục vụ cuộc chiến của Nga. Giờ đây, cách nhìn nhận ấy ngày càng không còn đầy đủ. Quan hệ hợp tác đang mang tính mạng lưới hơn và ngày càng hướng tới việc giải quyết những thách thức mới tại các khu vực mới.

Chương trình drone của Nga cho thấy rõ sự thay đổi này. Ban đầu, Iran bán cho Nga drone Shahed, sau đó giúp Moscow thiết lập dây chuyền sản xuất trong nước. Nhưng Nga không đơn thuần sao chép những công nghệ được chuyển giao. Nước này tích hợp các linh kiện Trung Quốc, đồng thời liên tục điều chỉnh hệ thống dẫn đường, thông tin liên lạc, tải trọng, động cơ và chiến thuật sử dụng drone để thích ứng với hệ thống phòng thủ của Ukraine. Các đơn vị quân sự mới chuyển những cải tiến đã chứng minh hiệu quả trên chiến trường trở lại dây chuyền sản xuất, tạo thành một chu trình thích nghi với thực chiến nhanh bất thường. Lực lượng Hệ thống Không người lái Nga, một quân chủng chuyên về drone và robot thuộc quân đội Nga, được thành lập năm ngoái nhằm thể chế hóa chu trình này. Sự kết hợp giữa năng lực cải tiến trong nước và quan hệ đối tác trong trục đã chứng tỏ hiệu quả. Chẳng hạn, những drone Geran thế hệ mới sử dụng động cơ phản lực của Nga có tốc độ cao hơn, mang được tải trọng lớn hơn và khó bị lực lượng Ukraine đánh chặn hơn đáng kể so với các phiên bản trước.

Những cải tiến của Nga cũng không chỉ được giữ lại tại nước này mà còn lan truyền trong toàn bộ mạng lưới hợp tác của trục. Đối với Iran, công nghệ từng được chuyển giao từ Tehran sang Nga giờ đây đang quay trở lại, kèm theo những tư vấn chiến thuật được đúc kết từ kinh nghiệm thực chiến của Moscow tại Ukraine. Nếu các drone sử dụng động cơ phản lực của Nga cũng xuất hiện tại Trung Đông, điều nhiều khả năng sẽ xảy ra, các cuộc tấn công của Iran nhằm vào lực lượng Mỹ và cơ sở hạ tầng năng lượng trong khu vực sẽ trở nên khó ngăn chặn hơn và đòi hỏi chi phí phòng thủ cao hơn.

Triều Tiên và Trung Quốc cũng đang hưởng lợi. Theo các báo cáo từ Ukraine, Nga đã đạt được một thỏa thuận giúp Triều Tiên mở rộng sản xuất drone kiểu Shahed. Các kỹ sư Triều Tiên đã tích lũy kinh nghiệm trong thời gian làm việc tại nhà máy sản xuất drone Yelabuga quy mô lớn của Nga, trong khi các lực lượng Triều Tiên chiến đấu cùng quân đội Nga cũng có được trải nghiệm trực tiếp về cách tích hợp drone vào tác chiến hiện đại. Quân nhân Trung Quốc đã được lực lượng Nga huấn luyện về chiến tranh bằng drone, còn các nhà cung cấp Trung Quốc thu thập được những thông tin quý giá về hiệu quả hoạt động của công nghệ do họ sản xuất trong điều kiện chiến đấu thực tế. Như vậy, Bắc Kinh đang hưởng lợi từ quá trình phát triển chiến tranh bằng drone, vốn bắt đầu từ công nghệ của Iran và được hoàn thiện thông qua cuộc chiến của Nga tại Ukraine.

MÔ HÌNH CÓ THỂ ĐƯỢC NHÂN RỘNG

Hai năm trước, vẫn chưa rõ liệu quan hệ đối tác giữa bốn thành viên của trục có thể tồn tại lâu hơn cuộc chiến đã thúc đẩy sự hình thành của nó hay không. Nếu chiến tranh Ukraine kết thúc và Nga không còn cần đến drone của Iran, đạn dược của Triều Tiên hay sự hỗ trợ kinh tế và công nghệ từ Trung Quốc, các mối quan hệ này có thể sẽ mất đi động lực phát triển.

Tuy nhiên, cuộc chiến không chỉ tạo ra nhu cầu hợp tác trước mắt. Nó còn chứng minh hiệu quả thực tế của những gì các mối quan hệ đối tác này có thể đạt được, vượt xa khả năng của từng quốc gia nếu hành động đơn độc. Hệ thống phòng thủ của Ukraine, các lệnh trừng phạt của phương Tây, nguồn viện trợ quân sự của Mỹ và những nỗ lực cô lập ngoại giao đều tỏ ra kém hiệu quả hơn so với trường hợp Nga phải tự mình đối phó. Bằng cách giúp nhau chống chịu sức ép, các quốc gia trong trục khiến Mỹ và đồng minh khó có thể buộc họ thay đổi đường lối.

Iran hiện đang chứng minh rằng mô hình này có thể được áp dụng ở những chiến trường khác. Sự hỗ trợ của Nga dành cho Tehran mang lại hiệu quả thực chất về mặt tác chiến, nhưng được giới hạn một cách thận trọng. Ngay cả khi đang tiến hành cuộc chiến riêng tại Ukraine, Moscow vẫn tìm được cách giúp Iran tấn công các mục tiêu của Mỹ và duy trì khả năng chiến đấu thông qua sự che chắn về ngoại giao và hỗ trợ vật chất, đồng thời tránh những hành động có thể kéo Nga vào một cuộc xung đột trực tiếp với Mỹ. Trung Quốc thậm chí còn thận trọng hơn, nhưng việc nước này cung cấp các thiết bị điện tử lưỡng dụng và mua dầu Iran cũng góp phần nâng cao khả năng chống chịu của Tehran trước sức ép từ Washington.

Sự kiềm chế ấy không phải là dấu hiệu cho thấy trục đang suy yếu, mà trái lại chính là một đặc điểm nổi bật trong cách thức vận hành của các mối quan hệ đối tác này. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt đáng chú ý là binh sĩ Triều Tiên được triển khai để chiến đấu hỗ trợ Nga, các quốc gia trong trục nhìn chung tránh trực tiếp tham gia những cuộc chiến của nhau. Thay vào đó, họ cung cấp sự hậu thuẫn chính trị, hỗ trợ kinh tế, tình báo, công nghệ và viện trợ quân sự có giới hạn, miễn là những hoạt động này phục vụ lợi ích riêng với mức độ rủi ro có thể kiểm soát.

Các cuộc chiến tại Ukraine và Iran còn mang đến cho trục một bài học khác: hỗ trợ một thành viên không chỉ giúp chính quốc gia nhận viện trợ trở nên mạnh hơn. Xung đột tại một chiến trường còn có thể tạo ra những cơ hội cho các đối tác ở những khu vực khác. Chẳng hạn, việc Iran đóng cửa eo biển Hormuz đã khiến giá dầu tăng vọt, mang lại nguồn thu bất ngờ cho Nga và thúc đẩy Washington tạm thời nới lỏng những hạn chế đối với hoạt động xuất khẩu dầu của Moscow. Như vậy, cuộc chiến của Iran đã tạo ra những nguồn lực mà Nga có thể sử dụng để duy trì cuộc chiến của chính mình.

Trước khi tấn công Iran, Mỹ đã điều chuyển những khí tài quân sự quan trọng, bao gồm các hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa, từ khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sang Trung Đông. Khi giao tranh tiếp diễn, quân đội Mỹ triển khai hai tàu sân bay đến khu vực này, khiến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương không còn tàu sân bay Mỹ nào. Sự hiện diện quân sự mỏng hơn của Mỹ tại Tây Thái Bình Dương giúp Trung Quốc có thêm quyền tự do hành động về mặt tác chiến, đồng thời khiến Bắc Kinh ít bị đe dọa hơn khi kho dự trữ đạn dược của Washington suy giảm. Nếu Mỹ chuyển sang chiến lược kiềm chế Iran kéo dài, tương tự cách nước này từng đối phó với Iraq trong thập niên 1990, Bắc Kinh có thể hưởng lợi từ sự phân tán nguồn lực ấy trong nhiều năm.

TRƯỚC HẾT, ĐỪNG GÂY THÊM TỔN HẠI

Kinh nghiệm từ trục gây biến động cho thấy quy mô và sức mạnh của một mạng lưới sẽ ít có ý nghĩa nếu các thành viên không thể chuyển hóa năng lực riêng lẻ thành sức mạnh tập thể. Mỹ và các đồng minh vốn xuất phát từ một vị thế có nhiều lợi thế đáng kể: nguồn lực kinh tế và công nghệ lớn hơn, quân đội có năng lực vượt trội hơn, cùng mạng lưới đồng minh và đối tác rộng lớn hơn rất nhiều. Vấn đề đặt ra là mạng lưới nào có thể khai thác hiệu quả hơn những nguồn lực mà mình sở hữu.

Điều đó trước hết bắt đầu từ vai trò lãnh đạo. Trong nhiều thập kỷ, Mỹ ủng hộ một trật tự quốc tế ngăn cấm các cuộc chiến tranh xâm lược nhằm chiếm đoạt lãnh thổ, bảo vệ quyền tự do hàng hải, duy trì một nền kinh tế toàn cầu nhìn chung cởi mở và cho phép người dân thực hiện các quyền dân chủ, ngay cả khi những chế độ chuyên chế vẫn tiếp tục tồn tại. Washington kết hợp tầm nhìn này với một thỏa thuận ngầm: bất kỳ quốc gia nào mong muốn tham gia trật tự đó đều có thể làm như vậy. Việc tuân thủ những nguyên tắc nền tảng của trật tự sẽ mang lại các lợi ích, bao gồm những lợi ích từ Mỹ như quan hệ thương mại, sự ưu tiên trong ngoại giao và đôi khi là các liên minh quân sự.

Đối với những quốc gia bác bỏ trật tự quốc tế cởi mở, như các thành viên của trục hiện nay, lợi ích nhận được ít hơn rất nhiều, trong khi cái giá phải trả lại đáng kể. Mỹ áp đặt trừng phạt, gây sức ép và đôi khi tiến hành chiến tranh chống lại những quốc gia bị coi là bất hảo, đồng thời chống lại việc hình thành các trật tự cạnh tranh, chẳng hạn như khối cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Chính sách đối ngoại của Mỹ được xây dựng trên một tiền đề tưởng chừng không gây tranh cãi: Washington nên kết giao với những quốc gia có cùng quan điểm và đối xử với họ tốt hơn so với những nước bác bỏ trật tự mà Mỹ ủng hộ.

Tuy nhiên, chính quyền Trump, ít nhất trong một số thời điểm, lại thể hiện khuynh hướng gần như trái ngược. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc gần đây cho biết Trump từng đề nghị bán vũ khí cho Bắc Kinh, trong khi trì hoãn việc bán vũ khí cho Đài Loan. Tổng thống Mỹ cũng bày tỏ sự quan tâm và thiện cảm lớn hơn đối với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un so với Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae-myung, người được bầu lên thông qua một tiến trình dân chủ. Chính quyền Trump còn nhiều lần gây sức ép buộc Ukraine phải nhượng bộ trong cuộc chiến sinh tồn trước hành động xâm lược của Nga. Trump thậm chí đã đe dọa ném bom Oman, một đối tác lâu năm của Mỹ. Những động thái như vậy vừa củng cố sức mạnh của các quốc gia trong trục, vừa làm suy yếu sự gắn kết của mạng lưới có vị thế thuận lợi nhất để đối phó với họ.

Ngừng gây thêm tổn hại sẽ là một khởi đầu tốt trong cách Mỹ đối phó với trục này. Xa hơn, Washington cần giúp các đối tác của mình trở nên mạnh hơn. Cũng như các quốc gia trong trục đang hỗ trợ nhau tìm cách vượt qua các lệnh trừng phạt, duy trì khả năng tiếp cận những công nghệ và linh kiện thiết yếu, cũng như bảo vệ nền kinh tế trước sức ép, Mỹ cũng cần hỗ trợ mạng lưới đối tác của mình. Điều đó có nghĩa là Washington phải củng cố các chuỗi cung ứng đi qua những đối tác đáng tin cậy, chia sẻ công nghệ và khuyến khích các đồng minh đảm nhận trách nhiệm an ninh lớn hơn. Tuy nhiên, Washington phải thận trọng để không chuyển giao trách nhiệm quốc phòng nhanh hơn tốc độ các đồng minh có thể phát triển năng lực cần thiết để đảm nhận chúng, đồng thời tránh thực hiện điều đó theo những cách làm xói mòn lòng tin, khả năng phối hợp tác chiến và sự điều phối chung. Nếu không, Mỹ và các đồng minh có thể trở nên mạnh hơn khi xét riêng từng quốc gia, nhưng lại kém hiệu quả hơn khi hành động tập thể.

Mỹ cũng cần đảo ngược những chính sách đang làm suy yếu chính mạng lưới đối tác của mình. Thuế quan và các biện pháp bảo hộ thương mại khác gây tổn hại cho nền kinh tế và nền tảng công nghiệp của các đồng minh. Việc bày tỏ mong muốn chiếm đoạt lãnh thổ của đồng minh và tìm cách làm suy yếu các nhà lãnh đạo chính trị của họ cũng không thể giúp hình thành một mạng lưới quốc tế có năng lực mạnh hơn. Washington cần thể hiện tầm nhìn và vai trò lãnh đạo đối với những quốc gia bạn bè, thay vì mang đến sự bất định gây bất an và cách hành xử mang tính đổi chác đầy áp đặt.

Ngay cả khi Mỹ thay đổi đường lối, các nhà hoạch định chính sách tại Washington và các nước đồng minh vẫn cần chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh lâu dài. Như nỗ lực thay đổi chế độ thất bại tại Iran đã cho thấy, không có con đường tắt nào để đánh bại các quốc gia trong trục, dù đối phó với họ riêng lẻ hay cùng lúc. Cuộc cạnh tranh giữa các mạng lưới sẽ diễn ra trên phạm vi gần như toàn cầu, trải rộng trên nhiều lĩnh vực, với những lợi ích và hệ quả vô cùng lớn phụ thuộc vào kết quả cuối cùng. Mỹ và các đồng minh có đủ năng lực để giành chiến thắng. Điều họ cần làm là chứng tỏ quyết tâm.

ANDREA KENDALL-TAYLOR là nghiên cứu viên cao cấp kiêm Giám đốc Chương trình An ninh Xuyên Đại Tây Dương tại Trung tâm An ninh Mỹ Mới (CNAS). Từ năm 2015 đến năm 2018, bà giữ chức Phó Sĩ quan Tình báo Quốc gia phụ trách Nga và khu vực Á-Âu tại Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ.

RICHARD FONTAINE là Giám đốc điều hành Trung tâm An ninh Mỹ Mới (CNAS). Ông từng công tác tại Bộ Ngoại giao Mỹ, Hội đồng An ninh Quốc gia và giữ vai trò cố vấn chính sách đối ngoại cho Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain.