#8 – Sự dẻo dai của chế độ chuyên chế

Print Friendly

chinaunrest

Nguồn: Nathan, Andrew J. (2003). “Authoritarian Resilience”, Journal of Democracy 14 (1), pp. 6-17.>>PDF

Biên dịch: Nguyễn Việt Vân Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Sau khủng hoảng Thiên An Môn (tháng 6, 1989), nhiều nhà quan sát cho rằng sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) sẽ sụp đổ. Thế nhưng, chế độ này lại đưa lạm phát xuống tầm kiểm soát, phục hồi tăng trưởng kinh tế, mở rộng ngoại thương và thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trung Quốc cũng phục hồi quan hệ với các nước G7 trước đây từng áp đặt cấm vận lên nước này, tái khởi động các cuộc họp thượng đỉnh với Hoa Kì, làm chủ quá trình trao trả Hong Kong và giành quyền đăng cai Thế Vận Hội 2008 tại Bắc Kinh. Nhà nước Trung Quốc vẫn tiếp tục bắt giam hoặc trục xuất các nhà hoạt động chính trị chống đối, đập tan Đảng Dân chủ Trung Quốc mới nổi và dường như đã đàn áp thành công phong trào tôn giáo Pháp Luân Công.

Nhiều chuyên gia về Trung Quốc và các học giả nghiên cứu dân chủ, bao gồm cả tôi, trông đợi sự sụp đổ của chế độ này trong “Làn sóng dân chủ hóa thứ 3”.[1] Thế nhưng, chế độ này đã tự củng cố. Lý thuyết về các chế độ cầm quyền (regime theory) cho rằng các chế độ chuyên chế tự thân chúng đã yếu ớt vì tính chính danh (legitimacy) kém, dựa quá nhiều vào áp bức, tập quyền quá độ, và để cho quyền lực cá nhân áp đảo các chuẩn mực thể chế. Tuy nhiên, hệ thống chuyên chế của Trung Quốc lại đã chứng minh được sự dẻo dai của mình.[2]

Nguồn gốc của sự dẻo dai này vô cùng phức tạp. Nhiều nguyên nhân có thể được tóm gọn trong khái niệm “thể chế hoá” (institutionalization). Khái niệm này có thể hiểu theo nghĩa hiện đại như là việc các hành vi của con người bị hạn chế bởi các quy tắc chính thức hoặc không chính thức, hoặc có thể hiểu theo nghĩa cũ hơn được Samuel Huntington[3] gọi là tổng hợp các đặc điểm bao gồm tính thích nghi, tính tinh vi, tính tự trị và tính gắn kết của các tổ chức nhà nước. Bài viết này tập trung vào bốn phương diện chính của quá trình thể chế hoá trong chế độ của Đảng Cộng sản Trung Quốc: 1) Quá trình chuyển giao quyền lực giữa các thế hệ lãnh đạo ngày càng dựa trên các chuẩn tắc; 2) Việc đề bạt tầng lớp tinh hoa chính trị ngày càng dựa trên thành tích hơn là quan hệ bè phái; 3) Sự phân công và chuyên môn hoá về chức năng của của các thể chế trong bộ máy nhà nước; và 4) Sự thành lập các thể chế nhằm gia tăng sự tham gia chính trị và tính hấp dẫn đối với quần chúng nhằm giúp củng cố tính chính danh của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong toàn dân. Mặc dù những diễn biến trên không đảm bảo rằng chế độ này sẽ giải quyết được hết các khó khăn gặp phải, chúng cho thấy chúng ta cần cẩn trọng trước các lập luận vội vàng cho rằng chế độ này không thể thích nghi và tồn tại.

Chuyển giao quyền lực dựa trên các chuẩn tắc

Khi bài viết này được công bố, chính quyền Trung Quốc đang chứng minh sự ổn định hệ thống của mình: sự chuyển giao quyền lực hoà bình, trật tự từ thế hệ lãnh đạo thứ ba, đứng đầu là Giang Trạch Dân, sang thế hệ thứ tư, đứng đầu là Hồ Cẩm Đào. Rất ít các chế độ chuyên chế (dù là cộng sản, phát-xít, tập đoàn hay cá nhân) có thể thực hiện được việc chuyển giao quyền lực một cách hoà bình, trật tự, ổn định và kịp thời như vậy. Trong đa số các trường hợp, giai đoạn chuyển giao thường diễn ra trong khủng hoảng, trước hoặc sau lịch trình định sẵn, đi kèm là các vụ bắt bớ, thanh trừng, chia bè kéo phái, thỉnh thoảng là bạo động và vũ lực, tạo cơ hội cho sự xâm nhập hỗn loạn của quần chúng hoặc quân đội vào các quá trình chính trị. Sự thành công trong quá trình chuyển giao lãnh đạo của Trung Quốc thể hiện mức độ thể chế hoá chưa từng thấy trong lịch sử của các chế độ chuyên chế lẫn lịch sử Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Đây là sự kế thừa hoà bình, ổn định, trật tự, có mục đích và hợp pháp nhất trong lịch sử Trung Quốc hiện đại, nếu không tính đến sự phát triển của nền dân chủ đại diện (electoral democracy) gần đây ở Đài Loan.[4]

Tổng bí thư mới của Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, người được bầu trong đại hội toàn quốc lần thứ 16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức vào tháng 11 năm 2002 đã được xem là người kế vị từ 10 trước. Bốn trong số tám vị trí chủ chốt (Ngô Bang Quốc, Ôn Gia Bảo, Tăng Khánh Hồng và La Cán) đã được chọn sẵn từ 2 đến 3 năm trước. Bốn vị trí còn lại trong Thường vụ Bộ Chính trị đơn giản cũng được đề bạt từ số các thành viên Bộ Chính trị khóa trước. Trừ khi có khủng hoảng, quá trình chuyển giao này kết thúc trong ổn định vào tháng 3 năm 2003 khi Hồ Cẩm Đào được bầu làm Chủ tịch nước và Bí thư Quân uỷ Trung ương, Ngô Bang Quốc trở thành Chủ tịch Quốc hội và Ôn Gia Bảo trở thành Thủ tướng. Các nhà lãnh đạo mãn nhiệm như Chủ tịch nước Giang Trạch Dân, Chủ tịch Quốc hội Lí Bằng và thủ tướng Chu Dung Cơ rời khỏi các chức vụ trong Đảng vào mùa Thu, và không còn đóng vai trò trực tiếp nào nữa về chính trị.

Cần phải nhìn lại quá trình lịch sử ta mới có thể thấy sự chuyển giao này là một sự thành công và tiến bộ lớn. Trong những năm Mao Trạch Đông tại vị, Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc hội ít khi tổ chức họp, và nếu có cũng thường không theo đúng lịch cụ thể. Chúng ta cũng không thấy nhiệm kì cụ thể hay hạn chế tuổi tác cho vị trí “lãnh đạo tối cao”: Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đều giữ quyền lực tối cao cho đến cuối đời. Ta cũng không thấy sự kế thừa quyền lực một cách trật tự của người kế nhiệm: Mao Trạch Đông thanh trừng chủ tịch nước Lưu Thiếu Kì bằng cách cho Hồng Vệ Binh cầm tù ông cho đến lúc chết. Người được chỉ định thừa kế chính thức Mao Trạch Đông là Lâm Bưu, bị cho là tìm cách tiếm quyền Mao, sau khi bị phát hiện đã chết trong một vụ rơi máy bay khi đang đào thoát. Mao Trạch Đông sau đó bổ nhiệm Hoa Quốc Phong làm người thừa kế đơn giản bằng cách nói rằng Hoa Quốc Phong là “lựa chọn” của mình. Theo lệnh của Đặng Tiểu Bình, Hoa Quốc Phong bị cách chức trước khi mãn nhiệm. Đặng Tiểu Bình cũng loại trừ chính hai người kế tục mà mình lựa chọn, đó là Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương. Đặng Tiểu Bình cùng những nhà lãnh đạo lão thành khác vượt mặt Bộ Chính trị vào năm 1989 khi đặt Giang Trạch Dân vào vị trí kế nhiệm lãnh đạo Đảng.

Nếu đem so sánh với những tiền lệ trong quá khứ, ta có thể thấy sự kế thừa chính trị gần đây mang nhiều điểm mới, biểu thị sự thể chế hoá:

  • Giang Trạch Dân hoàn thành hết toàn bộ các nhiệm kỳ của mình: Ông được bầu vào vị trí Tổng Bí thư năm 1989, tái đắc cử vào các năm 1992 và 1997, phục vụ tổng cộng hai nhiệm kỳ rưỡi (Giang Trạch Dân cũng lên giữ chức Chủ tịch Quân uỷ Trung ương vào năm 1989 và Chủ tịch nước vào năm 1992). Người đỡ đầu cho Giang Trạch Dân không loại bỏ ông (mặc dù Đặng Tiểu Bình từng có ý định này vào năm 1992). Giang Trạch Dân lên chức Tổng Bí thư qua mặt Lí Bằng và Lý Thuỵ Hoàn, nhưng hai vị này, dù có những xích mích với Giang Trạch Dân, đã không tìm cách thay thế ông. Để củng cố quyền lực, Giang sắp xếp loại bỏ quyền lực của Dương Thượng Côn (1992) và Kiều Thạch (1997), nhưng cả 2 người này cũng không tìm cách truất quyền của Giang Trạch Dân.
  • Giang Trạch Dân mãn nhiệm theo đúng thời hạn đã định. Năm 1997, Bộ Chính trị đưa ra một luật bất thành văn rằng các lãnh đạo cấp cao không được tái bổ nhiệm nếu đã 70 tuổi. Vào thời điểm đó, Giang Trạch Dân đã 71 tuổi nhưng ông tuyên bố mình là một ngoại lệ duy nhất và hứa sẽ nghỉ hưu vào năm 2002. Lời hứa này cùng với việc Giang Trạch Dân vào năm 2002 đã 76 tuổi khiến ít người nghĩ tới việc ông ta sẽ tiếp tục tại vị, mặc dù báo chí nước ngoài từng suy đoán Giang cố gắng giữ ghế. Quy định giới hạn 70 tuổi này cũng bắt buộc Giang Trạch Dân phải mãn nhiệm vị trí Chủ tịch Quân uỷ Trung ương, vị trí mà trước nay chưa hề có nhiệm kì hay hạn chế tuổi tác và quy định năm 1997 cũng không được áp dụng rõ ràng cho vị trí này. Vị trí thứ 3 của Giang Trạch Dân là chủ tịch nước đã được Hiến pháp quy định chỉ được 2 nhiệm kì.
  • Giang Trạch Dân là lãnh đạo đầu tiên trong lịch sử của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không chọn người kế vị. Mao Trạch Đông đã chọn Lưu Thiếu Kì, Lâm Bưu, Hoa Quốc Phong. Đặng Tiểu Bình từng chọn nhiều người kế tục như Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương, Giang Trạch Dân. Thay vào đó, Đặng Tiểu Bình chọn người kế nhiệm Giang Trạch Dân bằng cách dọn đường cho Hồ Cẩm Đào trở thành thành viên trẻ tuổi nhất của Thường vụ Bộ Chính trị vào năm 1992. Và trong 10 năm Hồ Cẩm Đào ở trong Thường Vụ Bộ Chính trị với tư cách người kế nhiệm được chỉ định không chính thức thì Giang Trạch Dân cũng không tìm cách loại bỏ ông. Thủ tướng sắp lên cầm quyền Ôn Giả Bảo được chọn theo đề nghị của thủ tướng Chu Dung Cơ, qua mặt Ngô Bang Quốc hoặc Lí Trường Xuân, vốn là những lựa chọn của Giang Trạch Dân.
  • Những lãnh đạo về hưu không tìm cách can thiệp vào quá trình kế thừa cũng như các quyết định khác. Quyền can thiệp của 3 nhà lãnh đạo lão thành Đặng Tiểu Bình, Trần Vân, Lí Tiên Niệm được dựa trên một nghị quyết bí mật của Bộ Chính trị vào năm 1987 và được củng cố bởi việc Đặng Tiểu Bình nắm chức Chủ tịch Quân uỷ Trung ương. Quyền can thiệp nói trên thể hiện rõ nhất trong sự kiện Thiên An Môn năm 1989.[5] Năm 1997, người cuối cùng trong bộ 3 này là Đặng Tiểu Bình qua đời. Một tầng lớp các lãnh đạo lão thành mới được thành lập khi Kiều Thạch cùng một số vị khác rời khỏi Thường vụ Bộ Chính trị. Nghị quyết 1987 nói trên không được áp dụng cho lớp lãnh đạo lão thành mới, và không ai trong số họ tiếp tục có mặt trong Quân uỷ Trung ương. Sau khi về hưu họ vẫn tiếp tục được nhận những tài liệu nội bộ của Đảng và thỉnh thoảng đưa ra ý kiến,[6] nhưng họ không được tham gia các cuộc họp của Bộ Chính trị và không được thực hiện quyền đưa ra quyết định.
  • Quân đội không can thiệp vào quá trình chuyển giao lãnh đạo. Mặc dù có một số lãnh đạo cấp cao của quân đội đưa ra ý kiến ủng hộ Giang Trạch Dân tiếp tục giữ chức Bí thư Quân uỷ Trung ương, các ý kiến này đã không được xem xét. Các tướng lĩnh trên không đưa ra ý kiến về các lãnh vực khác trong việc chuyển giao quyền lực. Việc chuyển giao quyền lực giữa các tướng lĩnh quân đội trong Quân ủy Trung ương cũng được thực hiện gần giống với phía dân sự: Các sĩ quân cấp cao trên 70 tuổi và có liên quan đến Giang Trạch Dân như đại tướng Fu Quanyou và Yu Yongbo đều về hưu và được thay thế bởi lớp các sĩ quan trẻ. Cũng theo truyền thống có từ năm 1997, không có sĩ quan quân đội nào được bầu vào Thường vụ Bộ Chính trị, chỉ có một số đại diện của quân đội được tham gia vào Bộ Chính trị mà thôi.
  • Việc lựa chọn các thành viên của Bộ Chính Trị mới nhận được sự đồng thuận của Bộ Chính trị cũ. Quá trình này chắc chắn do các thành viên kỳ cựu làm chủ, và mỗi người đều cố gắng đưa người thân quen vào Bộ Chính trị nhiệm kỳ mới. Nhưng những cân nhắc mang tính bè phái này đều diễn ra trong các giới hạn đặt ra bởi nhu cầu cần có sự đồng thuận giữa các lãnh đạo. Không lãnh đạo cấp cao nào, bao gồm Giang Trạch Dân, Lí Bằng hay Chu Dung Cơ, đủ quyền lực để áp đặt người do mình để cử lên các thành viên Bộ Chính trị khác trái với mong muốn của họ.

Trong lịch sử Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa chưa từng xảy ra việc chuyển giao quyền lãnh đạo được sắp xếp từ sớm đến vậy. Quá trình kế thừa này cũng diễn ra ổn định và giúp chuyển giao hoàn toàn quyền lực một cách rõ ràng sang cho thế hệ lãnh đạo mới. Điều này không có nghĩa rằng bè phái đã biến mất nhưng nó cho thấy quyền lực của các lãnh đạo Đảng giờ ở một trạng thái cân bằng lẫn nhau nhờ những bài học từ lịch sử. Các nhánh phái quyền lực hiện nay không đủ mạnh để phá bỏ luật chơi khó khăn lắm mới có thể đạt được này. Và quan trọng hơn hết là họ cũng không có ý định làm vậy. Hiện nay, tại Trung Quốc cũng không tồn tại một nhân vật nào với quyền lực tối cao có thể làm đảo lộn các luật lệ trên, điều này giúp cho các luật chơi càng thêm vững mạnh.

Việc trọng dụng nhân tài dần thay đổi tính bè phái

Tính bè phái đóng một phần vai trò trong việc chuyển giao quyền lực. Nhưng quá trình sàng lọc nhân tài diễn ra suốt 20 năm cho những đề cử chủ chốt giúp giảm thiểu chính trị bè phái. Trừ những năm Đại Cách mạng Văn hoá (1966-76), cả hai yếu tố tài năng và phe phái đều được cân nhắc trong quá trình đề bạt cán bộ của nhà nước độc đảng Trung Quốc. Trước đây, dù là trong giai đoạn nhân tài được trân trọng nhất thì yếu tố quyết định trong việc đề bạt lãnh đạo cấp cao chính là khả năng thích ứng với những biến đổi quyền lực và lòng trung thành cá nhân với các lãnh đạo tối cao như Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình. Dù dàn lãnh đạo mới hiện nay vừa thao lược về chính trị vừa sắc bén về ý thức hệ, và đa phần có quan hệ gắn bó với một lãnh đạo cấp cao nào đấy, nhưng họ vươn lên chủ yếu nhờ vào khả năng quản lí, kiến thức kỹ thuật, nền tảng học thức và lòng trung thành với Đảng hơn là với một cá nhân nào đó.

Quá trình này bắt đầu vào năm 1980 khi Đặng Tiểu Bình chỉ thị các lãnh đạo cấp cao của Đảng tiến hành “tứ hoá” đối với đội ngũ cán bộ bằng cách tìm kiếm và trọng dụng những Đảng viên trên dưới 40 tuổi phù hợp với tiêu chí “cách mạng hoá, thanh niên hoá, trí thức hoá, và chuyên nghiệp hoá”. Thông qua con đường này mà Hồ Cẩm Đào được Bí thư Tỉnh ủy Cam Túc, nơi ông làm việc lúc đó, đề bạt thăng chức qua nhiều cấp, Ngô Bang Quốc được chọn làm bí thư Đảng ủy của Hội đồng Khoa học và Công nghệ Thượng Hải, Ôn Gia Bảo trở thành phó trưởng phòng Cục Địa chất tỉnh Cam Túc. Đối với các thành viên mới khác của Bộ Chính Trị, câu chuyện cũng gần tương tự.

Năm 1983, Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lập một danh sách các đảng viên trẻ hứa hẹn của thế hệ “tứ hoá” để tham khảo mỗi khi cần đề bạt một cán bộ trẻ vào các chức vụ cấp bộ. Hồ Cẩm Đào được chọn trong danh sách này để nhậm chức Bí thư tỉnh uỷ Quý Châu, Ôn Gia Bảo nhậm chức Phó Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Đảng,vv… Cũng bằng chính sách trẻ hóa cán bộ này mà Đặng Tiểu Bình đã ra chỉ thị yêu cầu bầu một đảng viên dưới 50 tuổi vào Thường vụ Bộ Chính trị nhiệm kì 14 vào năm 1992. Người được lựa chọn là Hồ Cẩm Đào. Điều này cho thấy việc nhậm chức Tổng Bí thư là kết quả của một quá trình trật tự được khởi động từ trước đó 20 năm.

Năm trong số chín thành viên mới của Thường vụ Bộ Chính trị đều là ủy viên hoặc ủy viên dự khuyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào năm 1982. Điều này cho thấy quá trình kế thừa được thực hiện có chủ ý và theo định kỳ. Việc chọn lựa các thành viên Thường vụ Bộ Chính trị từ nhóm nhỏ các ứng viên đã qua 20 năm rèn luyện và sàng lọc đã hạn chế bớt vai trò của chủ nghĩa bè phái trong giai đoạn 2000 đến 2002. Giang Trạch Dân có thể chống lưng cho Tăng Khánh Hồng và Tăng Bồi Viêm, Lý Bằng cho La Cán, và Chu Dung Cơ cho Ôn Gia Bảo, nhưng phải dựa trên thành tích của những người này trong 20 năm ở các chức vụ khó khăn về hành chính và kỹ thuật, chứ không phải dựa trên tầm quan trọng mang tính biểu tượng (như Mao Trạch Đông đề cử Trần Vĩnh Quý) hoặc dựa trên lý do ý thức hệ (như việc Mao Trạch Đông thăng chức cho Bè lũ Bốn tên).

Quy chuẩn về tính trung lập dần được chấp nhận bởi các lãnh đạo cấp cao ở Trung ương Đảng, Quốc vụ viện và Quân uỷ Trung ương, nên việc tiến thân của các đảng viên ưu tú sẽ không bị cản trở bởi tính bè phái ở cấp cao nhất. Khi Triệu Tử Dương mất quyền vào năm 1989, một vài người thân cận của ông lập tức bị thanh trừng, nhưng phần lớn trong số đó dần chuyển qua công tác ở cấp hành chính thứ yếu hơn trong vòng vài năm sau đó. Một vài người thậm chí tiếp tục thăng tiến. Ví dụ như Ôn Gia Bảo 8 năm liền giữ trọng trách là Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Đảng dưới cả 3 đời tổng bí thư Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương và Giang Trạch Dân. Điều này khác xa với những gì diễn ra trong quá khứ: khi một lãnh đạo bị thanh trừng, tất cả các nhân vật thân cận đều bị giáng xuống vài ba cấp trong hệ thống chính trị. Cơ chế mới giúp cho các nhân vật có tài được thăng tiến, hạn chế mặt trái của tính phe phái.

Sản phẩm của quá trình được chính quy hóa và ít bè phái hơn này là một lực lượng lãnh đạo có tài năng và tinh thần cao, đại diện cân bằng cho các phe phái trong Đảng. Vì không có một hoặc hai cá nhân áp đảo nên cơ chế quyết định tập thể bị hạn chế. Nhóm lãnh đạo này cũng chia sẻ quyền lực tương tự như các hệ thống lãnh đạo chính trị khác, bởi các cá nhân đều thăng tiến thông qua quá trình sàng lọc như nhau nên họ cho quá trình đó là tương đối công bằng.[7] Liệu những sự kiện nói trên có đảm bảo quá trình chuyển giao quyền lực trong tương lai được ổn định hay không vẫn còn bỏ ngỏ, nhưng khả năng đó được tăng lên khi quá trình chuyển giao quyền lực hiện tại giúp củng cố những quy định được giới lãnh đạo ủng hộ (ví dụ, giới hạn độ tuổi dưới 70) và dựa trên bài học lịch sử (như các quy định về hệ thống trọng dụng và đề bạt người tài), và sự cố kết về mặt cấu trúc dựa trên cơ cấu chính trị phi chính thức về cân bằng quyền lực giữa các phe phái.

Sự chuyên môn hóa các tổ chức trong bộ máy nhà nước

Các thể chế nhằm gia tăng sự tham gia chính trị và tính chính danh của chế độ

Chế độ chuyên chế đang chuyển đổi?

Download phần còn lại của bài viết tại đây: Authoritarian Resilience – A.Nathan.pdf


Andrew J. Nathan là giáo sư Khoa học chính trị tại Đại học Columbia. Ông đồng biên tập với Perry Link cuốn sách The Tiananmen Papers [Những tài liệu Thiên An Môn] (xuất bản 2001) và đồng tác giả với Bruce Gilley cuốn sách China’s New Rulers: The Secret Files [Những nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc: Những tài liệu mật] (xuất bản 2002).

[1]    Ví dụ, xem thảo luận nhiều tác giả về nền dân chủ Trung Quốc trong Journal of Democracy 9 (January 1998)

[2]     Nói theo một khái niệm của thuyết củng cố dân chủ, Đảng Cộng sản Trung Quốc thể hiện mình là lựa chọn duy nhất và đang trong quá trình thực hiện thành công quá trình chuyển giao quyền lực.

[3]     Samuel P. Huntington, Political Order in Changing Societies (New Haven: Yale University Press, 1968), 12–24.

[4]     Dữ liệu thực tế cho bài luận này có thể tìm thấy trong Andrew J. Nathan and Bruce Gilley, China’s New Rulers: The Secret Files (New York: New York Review Books, 2002), và được tóm tắt trong hai bài viết trong New York Review of Books, 26 September & 10 October 2002. Các bài viết này đều dựa trên Zong Hairen, Disidai (The Fourth Generation) (Carle Place, N.Y.: Mirror Books, 2002). Phân tích của Zong Hairen về thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc dựa trên các tài liệu lấy từ các báo cáo thẩm tra nội bộ các ứng viên cho Bộ Chính trị mới được soạn thảo bởi Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

[5]     The Tiananmen Papers: The Chinese Leadership’s Decision to Use Force Against Their Own People—In Their Own Words, Zhang Liang, comp., Andrew J. Nathan and Perry Link, eds. (New York: PublicAffairs Books, 2001), 102, n. 1, và các nơi khác.

[6]     Zong Hairen, Zhu Rongji zai 1999 (Zhu Rongji in 1999) (Carle Place, N.Y.: Mingjing Chubanshe, 2001); Bản dịch tiếng Anh do Andrew J. Nathan hiệu đính trong Chinese Law and Government (January–February &  March–April 2002).

[7]     Như mọi quy trình đề bạt dựa trên năng lực khác, kế hoạch này cũng có yếu tố dự phòng. Sự nghiệp của Hồ Cẩm Đào là một ví dụ điển hình, có thể thấy ở việc lựa chọn Hồ Cẩm Đào trong 4 ứng viên làm đại diện cho thế hệ thứ 4 bầu vào Thường vụ Bộ Chính trị.

This entry was posted in Biên dịch, Chính trị quốc tế, Trung Quốc and tagged , , , , . Bookmark the permalink.