Ứng xử của một số Nhà nước đối với các Phong trào Tôn giáo mới

Print Friendly, PDF & Email

Tác giả: Hoàng Văn Chung

Giới thiệu

Kể từ khi xuất hiện những năm 50-60 của thế kỉ XX ở Châu Mỹ và Châu Âu, các phong trào tôn giáo mới, ngày nay được gọi chung là New Religious Movements[1], đã trải qua rất nhiều thăng trầm. Những khó khăn các phong trào này phải đối mặt không chỉ đến từ phía các giáo hội của các tôn giáo có trước, từ phía các tổ chức xã hội được lập ra để chống “giáo phái”, từ phía các phương tiện truyền thông đại chúng vốn chú ý nhiều vào việc đưa tin giật gân, từ các chính trị gia, mà còn là phản ứng từ phía các chính phủ với các công cụ luật pháp trong tay. Trải qua một thời gian dài, cho tới nay, phản ứng của các nhà nước khác nhau trước một hiện tượng mới nảy sinh trong đời sống văn hóa và tôn giáo này đã thu hút rất nhiều các công trình nghiên cứu, nằm trong một tổng thể nghiên cứu học thuật đa chiều về các phong trào tôn giáo mới. Một số điểm cần làm rõ ở đây: đâu là các thách thức cơ bản mà các phong trào tôn giáo mới trong quá trình phát sinh và phát triển đã đặt ra buộc các nhà nước phải có phương sách ứng xử? Các nhà nước đã giải quyết các thách thức đó như thế nào? và Tương lai của mối quan hệ giữa các nhà nước với các phong trào tôn giáo mới sẽ ra sao?

Để làm rõ các vấn đề nêu trên, chuyên đề này tập trung vào việc khai thác các công trình nghiên cứu học thuật về ứng xử các nhà nước trên thế giới trước sự xuất hiện và phát triển của các phong trào tôn giáo mới. Đối với chuyên đề này, các phong trào tôn giáo mới được hiểu là các tôn giáo sau: Ngôi đền của Nhân dân (the People’s Temple), Nhân chứng Jehovah (Jehovah’s Witnesses), Con của Thánh thần (Children of God hoặc là the Family), Giáo hội Thống nhất (Church of Unification), Khoa học luận (Scientology), Aum Shinrikyo, Pháp luân công, và Toàn năng thần giáo. Do sự hạn chế về mặt dung lượng, chuyên đề sẽ chọn và phân tích một số cách ứng xử tiêu biểu của một số chính phủ ở các nước phương Tây bao gồm Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Úc, và ở Châu Á bao gồm Nhật Bản, Singapore, Malaysia và Trung Quốc. Việc khái quát các phản ứng như thế có thể đóng góp cho việc tham khảo và xây dựng nguyên tắc ứng xử đối với các dạng thức tôn giáo mới phần nhiều tương tự mà chúng ta đang thấy ở Việt Nam từ sau năm 1986 đến nay.

Những thách thức từ các phong trào tôn giáo mới

Xuất hiện với tư cách là các phong trào có nhiều tính mới lạ, sự dị biệt, ngoại lai và đôi khi là một số hành động cực đoan thái quá. Đặc tính như thế khiến cho các phong trào tôn giáo mới đương nhiên mang lại những thách thức đối với xã hội và không gian tôn giáo nói chung và đối với các chính phủ nói riêng. Mặc dù ở các nước đã phát triển, xã hội hay các giáo hội tôn giáo đã đạt đến trình độ tự lực tự quản cao, có nhiều thách thức mà tôn giáo mới mang lại buộc phải có sự can thiệp hay hiện diện của cơ quan công quyền một cách chủ động. Vậy đâu là những thách thức buộc nhà nước phải lên tiếng và hành động? Nghiên cứu cho thấy có 2 nhóm thách thức đáng kể sau đây: thách thức về mặt pháp lý và thách thức về hài hòa tôn giáo và an ninh xã hội.

Thách thức về mặt pháp lý

Bên cạnh các vấn đề mà một số phong trào tôn giáo mới đặt ra liên quan đến đạo đức, tư tưởng, lối sống, thế giới quan, chúng còn mang lại các thách thức không dễ giải quyết về mặt pháp lý. Những thách thức về mặt pháp lý có thể khái quát gồm vấn đề ảnh hưởng được cho là tiêu cực đến tín đồ, vấn đề tư cách pháp nhân, và vấn đề thuế và nghĩa vụ của tôn giáo mới và tín đồ tôn giáo mới với nhà nước.

Về phía tín đồ, những ảnh hưởng mà các phong trào tôn giáo mới được gán cho bao gồm những tổn hại mang lại cho tín đồ trên phương diện thể chất và tinh thần. Đã có một thời các phong trào tôn giáo mới bị vướng vào nhiều cáo buộc liên quan đến hành vi tẩy não như thường thấy ở Mỹ và Anh những năm 1980-1990 (xem: Richardson 2005) hoặc “mê hoặc tâm lý” như ở Pháp (xem Daniele Hervieu-Leger 2004). Các nhà nghiên cứu đã tổng kết rằng ở các nước phương Tây phần lớn người theo các phong trào tôn giáo mới là các thanh niên trẻ và có học thức (xem Eilleen Barker 2004). Cáo buộc về “tẩy não” hay “mê hoặc tâm lý” hoặc “niềm tin có tính bệnh lý” (pathological belief) thường xuất phát từ các phụ huynh quan ngại về chuyện con em mình bị lôi cuốn vào các loại hình tôn giáo chưa rõ nguồn gốc, việc bỏ bê học hành, lệch lạc về tâm lý, đánh mất cơ hội về công việc và sự nghiệp. Nhiều thanh niên trở thành các nhà gây quỹ đường phố hoặc sống quần tụ trong những không gian chật hẹp cùng nhiều người chưa kết hôn khác. Một số phụ huynh đã kiện các phong trào tôn giáo mới ra tòa theo các cáo buộc này. Ở Mỹ từ những năm 1970, theo Richardson (2005), nhà nước rất khó can thiệp trực tiếp vào các phong trào tôn giáo mới do Hiến pháp đã quy định về tự do tôn giáo và vị trí của Nhà nước. Chỉ có thể thấy sự can thiệp gián tiếp của nhà nước qua hệ thống tòa án. Việc dùng hệ thống tòa án để chống lại NRMs ở Mỹ đầu tiên xuất hiện khi các bậc phụ huynh có con em theo tôn giáo mới tìm cách đạt được quyền bảo hộ tạm thời. Việc này tạo điều kiện cho các bậc phụ huynh có quyền hợp pháp để kiểm soát con em của mình và sự hỗ trợ về thực thi luật pháp nhằm đưa con em họ trở lại cuộc sống bình thường (xem Richardson 2005). Theo luật chung ở Mỹ, từ 18 tuổi, thanh niên có thể sống toàn toàn tự lập. Quyền bảo hộ tạm thời chỉ có thể được trao cho phụ huynh theo quyết định của tòa án trong trường hợp con em được cho là cần phải có sự giám sát, bảo trợ dù đã qua 18 tuổi.

Các phong trào tôn giáo mới còn có những vấn đề về pháp lý liên quan đến trẻ em như là ảnh hưởng về tôn giáo, giáo dục hay bị lạm dụng (xem Anthony Bradney 2001; Richardson 2005). Người ta quan ngại về việc cha mẹ li dị và để con em mình cho một phong trào tôn giáo mới nuôi nấng. Trong trường hợp như thế, đứa trẻ có thể được lựa chọn về tôn giáo trước khi có đầy đủ nhận thức. Tiếp đến, việc ở với một phong trào tôn giáo mới có thể hạn chế việc đứa bé tiếp cận hệ thống giáo dục công lập. Ngoài ra, đôi khi một phong trào tôn giáo mới cũng bị buộc tội về lạm dụng trẻ em, dù chứng cứ chưa rõ ràng.

Một vấn đề pháp lý nữa là việc một số phong trào tôn giáo mới chủ trương chữa bệnh không dùng thuốc hay can thiệp y tế. Nhóm Christian Scientists chống đối các tiêu chuẩn chăm sóc y tế vì có kĩ thuật “chữa bệnh tâm linh”. Trong khi đó, Nhân chứng Jehovah kiên quyết phản đối việc cho và truyền máu. Việc này gây ra trở ngại lớn khi một tín đồ bị bệnh và cần phải truyền máu, hoặc dùng thuốc nếu không tính mạng sẽ bị đe dọa.

Cần nói thêm là tham gia vào các đòi hỏi về pháp lý chống lại các phong trào tôn giáo mới còn có các tổ chức chống giáo phái, các chính trị gia, hay các tôn giáo truyền thống. Đây là lực lượng am hiểu luật pháp và có khả năng gây ảnh hưởng đối với cả chính phủ và xã hội nói chung.

Trong vấn đề pháp lý, ở nhiều nước, việc trao tư cách pháp nhân cho một phong trào tôn giáo mới cũng không đơn giản. Vấn đề tư cách pháp nhân là quan trọng bởi vì thứ nhất nó nói đến sự thừa nhận và bảo vệ trên phương diện luật pháp đối với một tổ chức tôn giáo nhằm tránh phân biệt đối xử, và thứ hai là giải quyết vấn đề sở hữu tài sản cũng như vấn đề thuế đối với các loại hình hội đoàn này. Theo các nhà nghiên cứu luật pháp về tôn giáo, tiêu biểu như Coles Durham (2006) hay Đỗ Quang Hưng (2006) lộ trình thường thấy của việc chính phủ cấp tư cách pháp nhân cho một tôn giáo, có nghĩa là cho phép tôn giáo đó được bảo hộ về mặt luật pháp công bằng như với các tôn giáo đã được công nhận trước đó, phải trải qua 3 bước. Trước tiên, một tôn giáo mới cần phải đăng ký hoạt động với chính quyền. Sau khi đáp ứng thời gian hoạt động đủ dài sau khi đăng ký mà không vi phạm pháp luật, nó sẽ được xem xét để công nhận. Chỉ khi được chính thức công nhận bởi nhà nước thì một tôn giáo như thế mới có được tư cách pháp nhân đầy đủ.

Có hai vấn đề chính trong việc xem xét về tư cách pháp nhân cho một phong trào tôn giáo mới: có nên thừa nhận một phong trào tôn giáo mới không và nếu có thì thừa nhận nó như là một dạng hội đoàn xã hội (như các loại hội đoàn thế tục khác) hay như một hội đoàn tôn giáo. Thực tế, đã có những giai đoạn mà một số nước từ chối xem xét vấn đề tư cách pháp nhân cho một số phong trào tôn giáo mới cụ thể. Vấn đề gây tranh cãi chính là liệu có thể coi đó là các tôn giáo thực sự hay không. Chẳng hạn như ở Australia, theo Richardson (2004, tr. 206-207), các phong trào tôn giáo như Nhân chứng Jehovah, Những đứa con Thần thánh, Giáo hội thống nhất, và Khoa học luận khi mới xuất hiện ở đây đều bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ và hạn chế hoạt động. Trong những năm 1990s, Khoa học luận đã bị cấm gián tiếp ở một số tiểu bang như New Southwales hay Victoria. Các tiểu bang này tuyên bố đây là các dạng thức thực hành tâm lý và do đó lãnh đạo hay tín đồ đều phạm pháp vì là những người thực hành tâm lý không đăng ký với chính quyền. Do bị xếp vào phân loại tâm lý, tôn giáo này không thể đăng ký pháp nhân tôn giáo, quảng bá, rao giảng giáo lý hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Ở Anh quốc, Khoa học luận cũng khó khăn khi đăng ký tư cách pháp lý như một tổ chức từ thiện tôn giáo theo luật. Theo Anthony Bradney (2001, tr. 90) thì có hai lí do cơ bản: thứ nhất, phong trào thiếu ý niệm về tôn sùng một đấng thần thánh cụ thể và thứ hai là nếu lời rao giảng của phong trào này có tính “nổi loạn về mặt đạo đức” thì nó không thể được trao cho tư cách một tổ chức từ thiện.

Ở Pháp, theo Francis Messner (2006), trong luật không có khái niệm “thiểu số”. Chính phủ Pháp thường xuyên từ chối công nhận các “nhóm thiểu số” cả về sắc tộc, ngôn ngữ, hay tôn giáo. Luật của Pháp chỉ công nhận tự do cá nhân, và chính phủ không cho rằng tự do cá nhân được đảm bảo khi người ta tham gia các hội nhóm (xem Messner 2006; Jean-Paul Willaime 2006). Trong những thảo luận về Luật chung cho Châu Âu, Hội đồng Hiến pháp của nước này khẳng định nước Pháp là một cộng hòa thế tục trung tính, cấm “bất cứ ai lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo của mình vào mục đích tránh tuân thủ các quy định chung chi phối mối quan hệ giữa các cơ quan công quyền và các cá nhân” (Quyết định số 99-412 DC, ngày 15/6/1999, xem Messner 2006). Đây là một số cơ sở pháp lý mà chính phủ Pháp thường dựa vào để từ chối công nhận tư cách pháp nhân cho các nhóm tôn giáo thiểu số, đặc biệt là các nhóm không có nguồn gốc sắc tộc Pháp.

Ở Singapore, theo Tan Kheng Boon (2006), tại quy định của Điều luật về các tổ chức đoàn thể xã hội, “một tổ chức xã hội đại diện, thúc đẩy, hoặc thảo luận về những vấn đề tôn giáo là một ‘tổ chức chuyên biệt’ và phải được đăng kí theo quy định pháp luật”. Tác giả cũng cho biết rằng ở đất nước này một tổ chức xã hội như thế nếu không đăng ký thì sẽ được coi là một tổ chức ngoài vòng pháp luật, và sẽ bị giải tán. Tác giả nhận xét, “việc yêu cầu đăng ký đã mang lại một cơ chế mạnh để nhà nước có thể quản lý các nhóm tôn giáo thuộc diện “có thể ảnh hưởng hoà bình, lợi ích và trật tự công cộng ở Singapore”[2].

Nói chung, những trăn trở và tranh luận về việc công nhận các phong trào tôn giáo mới vẫn còn tiếp diễn. Như Rik Torfs (2006) khái quát ở Châu Âu, nguyên tắc chung là tinh thần khoan dung. Tuy nhiên, vì mỗi quốc gia thành viên có khác nhau về hệ thống pháp lý nên họ vẫn phải đang tìm giải pháp hữu hiệu cho những vấn đề sau: Các nhóm tôn giáo có thể tự do thu giữ tài sản không? Họ có cần đến tư cách pháp nhân để đạt được mục đích đó không? Họ có được phép hoạt động theo cơ chế một tổ chức phi lợi nhuận không? Khó khăn là hơn việc quyết định trả lời câu hỏi liệu những đặc quyền hiện tại dành cho các tôn giáo lớn có nên dành cho những nhóm thiểu số nhỏ hơn, hay liệu các đặc quyền xưa cũ có dần dần biến mất và thay vào đó là một sự công nhận quyền tự do tôn giáo về mặt pháp lý chung cho tất cả, không có bất kỳ đặc quyền nào?

Ở Đông Nam Á, Malaysia là một quốc gia có cách tiếp cận rất cởi mở với vấn đề đăng ký tư cách pháp nhân cho nhóm tôn giáo. Theo Lee Min Choon (2006), Malaysia cho rằng tôn giáo không nên bị quản lý. Luật của nước này không đòi hỏi các nhóm tôn giáo phải đăng kí hay giải thích bất cứ điều gì với nhà nước. Nhà nước không can thiệp vào tôn giáo mà để các cộng đồng tôn giáo tự quản theo giáo lí và luật tục của mình. Người dân có thể thành lập một nhóm tôn giáo theo hình thức một công ty hay một hội đoàn và đây là con đường để họ có thể đầy đủ tư cách pháp nhân cho tổ chức tôn giáo của mình. Theo Choon, việc chính quyền đòi hỏi các nhóm tôn giáo phải đăng ký thậm chí có thể gây kết quả tiêu cực. Ví dụ, việc này gây ra những chi phí không cần thiết cho thủ tục hành chính cũng như việc chính phủ phải trả lương cho bộ phận làm công tác theo dõi quản lý tổ chức tôn giáo. Bên cạnh đó, việc đòi hỏi đăng ký có tác dụng ngược. Nếu một tổ chức tôn giáo không thực hiện đăng ký, họ đương nhiên bị coi là phạm pháp, và điều này cản trở những đóng góp hữu ích của họ với xã hội. Hơn nữa, việc đòi hỏi đăng ký khơi rộng thêm khoảng cách giữa chính phủ và người dân, do đó thúc đẩy xung đột hơn là củng cố sự đồng thuận (xem Choon 2006).

Ngoài ra, các phong trào tôn giáo mới cũng đặt ra thách thức về vấn đề thuế và nghĩa vụ đối với nhà nước. Ở nhiều nước như Mỹ, Úc, Anh, nếu đăng ký như một tổ chức tôn giáo và có các chương trình thiện nguyện, nhóm tôn giáo mới được miễn thuế. Nhưng một số tôn giáo mới, chẳng hạn như Khoa học luận, đã vướng vào những vụ kiện liên quan đến việc thu phí từ các dịch vụ tôn giáo hoặc bán vật phẩm tôn giáo. Nếu không thành công trong việc thuyết phục chính quyền rằng mình đáp ứng đủ các tiêu chí của một tôn giáo như được chính quyền định nghĩa trên văn bản pháp lý, các phong trào tôn giáo mới không thể có được quyền miễn thuế.

Về vấn đề nghĩa vụ với nhà nước, nổi bật là nghĩa vụ quân sự và nghi lễ chào cờ tổ quốc. Với bất cứ quốc gia nào, làm nghĩa vụ quân sự và chào cờ tổ quốc là sự thể hiện lòng trong thành với đất nước và ý thức đóng góp cho lợi ích chung. Nhưng các tín đồ của Nhân chứng Jehovah kiên quyết từ chối thực hiện hai điều này. Và đây là mấu chốt cho những vấn đề mà tôn giáo này gặp phải ở Singapore và ở một số nước khác. Ở Singapore, theo Tan Kheng Boon (2006), Nhân chứng Jehovah là một tổ chức bị Singapore cấm và giới hạn tự do tôn giáo. Việc cấm chủ yếu liên quan đến vấn đề liệu các công dân thuộc diện phải gia nhập vào các lực lượng vũ trang nhưng vì lý do tôn giáo họ có thể được miễn nghĩa vụ quân sự hay không. Tang Kheng Boon cho biết Tòa án đã phải phán quyết vụ việc này. Tòa cho rằng nghĩa vụ quân sự là một vấn đề thế tục và không thể chấp nhận việc từ chối nhập ngũ vì lí do tôn giáo bởi điều này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống Nghĩa vụ quân sự.

Thách thức về hài hòa tôn giáo và an ninh xã hội

Bảo vệ hài hòa tôn giáo và an ninh xã hội cũng là những lí do rất cơ bản trong việc các nhà nước phải chủ động trong ứng xử với các phong trào tôn giáo mới. Việc phong trào tôn giáo mới xuất hiện là không thể tránh khỏi, bởi nếu chúng không phải là nội sinh do sáng tạo cá nhân hay tiếp thu ý tưởng từ nước ngoài, thì là ngoại sinh do đi theo các dòng người nhập cư hợp pháp. Ở đây cần chú ý rằng đôi khi một tôn giáo là cũ ở một bối cảnh văn hóa này lại là mới trong bối cảnh văn hóa khác. Thế giới hiện đại ngày nay được định tính bởi quá trình toàn cầu hóa trên nhiều phương diện. Nếu một tôn giáo mới nảy sinh ở một khu vực địa lý nào đó nhưng phát triển nhanh và rộng thì sớm hay muộn người ta cũng sẽ thấy nó xuất hiện ở khu vực khác. Khi tôn giáo mới xuất hiện, câu hỏi đáng quan tâm nhất là đâu là những thách thức đối với công việc đảm bảo hài hòa tôn giáo và an ninh xã hội của chính phủ?

Thứ nhất, xuất hiện với tính cách là một nhân tố chưa từng biết, các phong trào tôn giáo mới ảnh hưởng đến tính cân bằng và ổn định của bối cảnh tôn giáo sẵn có. Không phải nước nào cũng như nước Mỹ trong việc gần như tuyệt đối ủng hộ tự do tôn giáo. Con số hơn 2000 tôn giáo mới xuất hiện ở Mỹ là một sự thực không thấy lặp lại ở bất cứ nơi nào khác. Tính nguyên trạng của bối cảnh tôn giáo bị ảnh hưởng không nhỏ khi các phong trào tôn giáo mới nảy sinh hay được du nhập từ nước ngoài. Điều này, tất nhiên gây ra những xáo trộn trong đời sống tôn giáo nói chung. Xem xét cách phản ứng, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng Nga, Belarus và một số quốc gia vùng Baltic đều không thích điều này. Hơn nữa, trong bối cảnh một quốc gia cụ thể, bất kể thay đổi về chính trị, các giáo hội đã tồn tại lâu đời đã đạt được ưu thế, đặc quyền và có được ảnh hưởng với tín đồ, với xã hội và thậm chí là chính trị. Nay ưu thế của họ bị thách thức và cạnh tranh trước sự phát triển và lan rộng của các phong trào tôn giáo mới. Dù các giáo hội truyền thống này phản ứng theo cách nào, chính quyền không thể làm ngơ bởi các nguy cơ tiềm ẩn về xung đột tôn giáo sẽ hình thành. Nhưng ứng xử của chính quyền không khéo léo và công bằng sẽ thậm chí còn khơi sâu thêm mẫu thuẫn và xung đột.

Thứ hai, sự kiện khủng bố nhằm vào Trung tâm Thương mại ở Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã có tác động ghê gớm đến thái độ của các chính phủ đối với các nhóm tôn giáo mới nổi lên. Sau những sự kiện khủng bố như thế được cho là của Islam giáo cực đoan hoặc các nhóm mới hình thành dựa trên niềm tin Islam giáo, các chính phủ buộc phải chuẩn bị những biện pháp chủ động và cứng rắn để tránh những sự kiện tương tự sẽ xảy ra. Đây cũng là thách thức đáng kể bởi rất khó định đâu là các nhóm tôn giáo mới dễ có hành động cực đoan và đâu là những nhóm mới nhưng thực hành tôn giáo một cách lành mạnh, không có đe dọa về an ninh xã hội. Sự liên kết giữa yếu tố tôn giáo và chủ nghĩa khủng bố là một vấn đề lớn của thế giới ngày nay. Nhân danh chống khủng bố, nhiều chính phủ đã phải đối mặt với sức ép của công luận về những hành động theo hướng hi sinh phần nào tự do tôn giáo để đổi lấy an ninh xã hội và an toàn con người.

Thứ ba, đã có tiền lệ xấu trong việc một số ít phong trào tôn giáo mới có những hành động bạo lực hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài. Bạo lực hướng vào bên trong là những vụ việc dẫn đến sự thương tổn về nhân mạng của chính thủ lĩnh và thành viên. Những vụ tự tử tập thể hay hành vi lạm dụng tình dục của giáo chủ đối với tín đồ là các ví dụ hay được nêu ra về mặt trái của các phong trào tôn giáo mới[3]. Một số cái tên đã luôn được nêu ra, chẳng hạn như Ngôi đền của Nhân dân với sự kiện hơn 900 người trong đó có hơn 300 trẻ em ở Jonestown, Mỹ đã tự đầu độc bằng chất độc xy-a-nua vào năm 1987. Phong trào phục hồi 10 điều răn của Chúa (Movement for the Restoration of the Ten Commandments of God) ở Uganda được quy trách nhiệm dẫn đến vụ cháy năm 2000 làm chết 530 người có mặt tại một địa điểm sinh hoạt tôn giáo. Người ta còn đặt nghi vấn về việc tự sát, tự tàn sát của lãnh đạo và thành viên bởi có sự hiện diện của chất nổ và chất độc axit sunfuric. Một số phong trào khác cũng có thể kể tên theo phân loại này như là Cổng Thiên đàng (Heaven’s Gate) hay the Family.

Bạo lực hướng ra bên ngoài là các phong trào tôn giáo mới có hành động cực đoan nhắm cả vào người ngoài tổ chức của họ. Ở đây, người ta sẽ nhắc tới Branch Davidans ở Texas, Mỹ với hành động bắn trả và làm chết nhân viên chính phủ năm 1993 khi họ tới yêu cầu tiếp cận và điều tra việc tàng trữ vũ khí. Ở Nhật Bản, trường hợp Aum Shinrikyo xả hơi độc sarin làm chết thường dân ở ga tàu điện ngầm Tokyo năm 1995 là một trường hợp tiêu biểu của phân loại này. Mới đây ở Trung Quốc, một phụ nữ đã bị đánh đến chết ngay tại một cửa hàng McDonald tại tỉnh Sơn Đông bởi 3 thành viên của một giáo phái được cho là cực đoan nhất ở nước này có tên là Toàn năng thần giáo, còn gọi là Tia chớp phương Đông. Giáo phái này do Dương Hướng Bân, một cựu nữ giáo viên vật lý, tự nhận mình là Chúa Jesu tái sinh lập ra. Hiện tại, giáo chủ đang sống ở Mỹ nhưng vẫn phát triển tín đồ ở đại lục (xem Vnexpress 2014). Sự kiện nói trên là sự quá đà trong cách thức bắt ép người dân cải đạo theo giáo phái này.

Dư luận được thổi bùng bởi giới báo chí vốn có xu hướng đưa tin giật gân về tôn giáo mới (xem Chung Hoang 2012) tạo sức ép rất lớn lên chính phủ trong các sự kiện bạo lực hướng vào trong hay hướng ra ngoài của các phong trào tôn giáo mới nói trên. Thách thức đáng kể ở đây là nếu chính phủ không quản lý các phong trào tôn giáo mới như trên bằng biện pháp bắt đăng ký và bắt minh bạch hóa hoạt động cũng như thông tin về thành viên thì chính phủ sẽ luôn đến muộn khi các sự kiện tồi tệ bùng phát sau một thời gian dài âm ỉ. Nhưng nếu bắt đăng ký và kiểm soát chặt chẽ, một số chính phủ sẽ vướng phải chính cam kết về tôn trọng tự do tôn giáo và tự do cá nhân về mặt tinh thần vốn được ghi trong hiến pháp lập quốc. Trong phần tiếp theo, tôi sẽ trình bày một số cách giải quyết thách thức mà các chính phủ đã áp dụng.

Giải quyết các thách thức

Mặc dù các chính phủ khác nhau trên thế giới ứng xử rất khác nhau đối với sự phát sinh và phát triển cũng như thách thức của các phong trào tôn giáo mới, từ việc tìm hiểu các công trình học thuật, ta vẫn có thể khái quát một số hướng ứng xử chính. Về cơ bản đó là cách ứng xử ôn hòa và cách ứng xử cứng rắn. Trong hai thiên hướng ứng xử này, có cái chỉ đòi hỏi chính quyền lên tiếng và bày tỏ lập trường hay thái độ, có cái buộc chính quyền phải thận trọng xem xét và xây dựng luật nhắm vào quản lý các phong trào tôn giáo mới.

Ứng xử ôn hòa

Nhiều quốc gia đã có cách ứng xử tương đối bình tĩnh và ôn hòa trước các phong trào tôn giáo mới. Anh là một ví dụ ở Châu Âu. Eileen Barker đã viết: “Về phương diện pháp lý, cả hai chính phủ thuộc đảng Bảo thủ hay Lao động đều đã nêu rõ rằng mặc dầu không thích có nhiều tôn giáo mới họ không có ý định đưa ra bất cứ luật đặc biệt nào nhằm vào các tôn giáo đó. Miễn là các phong trào đó tuân thủ Luật của Khối thịnh vượng chung và luật hình sự, chúng được tự do như bình thường trong việc tin và làm điều mình muốn” (2004, tr. 29). Barker tuy nhiên nói rõ thêm rằng không hẳn là không có sự phân biệt đối xử nào nhắm vào các phong trào tôn giáo mới. Năm 1968, các điều khoản hạn chế đã được áp dụng đối với người nước ngoài tới Anh với mục đích nghiên cứu hay làm việc cho nhóm Khoa học luận. Năm 1995, chính quyền từ chối cấp visa cho Sun Myung Moon – giáo chủ của Giáo hội Thống nhất – vào nước Anh với lí do là sự hiện diện của ông ta có thể không lợi cho công chúng trên phương diện trật tự công cộng. Cũng có vài trường hợp mà thành viên của các nhóm tôn giáo thiểu số như Unification Church hay ISKON bị phân biệt đối xử tại tòa án. Trước yêu cầu của dư luận, cuối những năm 80 của thế kỉ 20, tổ chức INFORM được thành lập, nhờ chính vai trò của học giả Eileen Barker. Tổ chức này được chính phủ, các giáo hội chính thống ở Anh Quốc, và lực lượng cảnh sát chủ yếu tài trợ về kinh phí hoạt động. Nó có mục đích duy nhất là theo dõi và cung cấp mọi thông tin khách quan về các nhóm tôn giáo mới.

Ở nước Đức, Brigitte Schoen (2004) cho biết không có luật đặc biệt nào dành cho phong trào tôn giáo mới. Chính phủ chủ yếu làm các cuốn sách cung cấp thông tin về tôn giáo mới. Năm 1996, một ủy ban được thành lập nhằm mục đích cung cấp thông tin cho Nghị viện. Ủy ban này đã kết luận rằng các tôn giáo mới  hiện tại không thể hiện nguy hại gì tới nhà nước hay xã hội. Năm 1997, hội thảo của các bộ trưởng quyết định đưa Khoa học luận vào chế độ giám sát. Tuy nhiên, tác giả chỉ rõ rằng hành động của chính phủ chưa bao giờ vượt quá việc thu thập thông tin.

Ở châu Á, các chính phủ chẳng hạn như của Singapore hay Malaysia về cơ bản là chọn hướng ứng xử ôn hòa và khoan dung. Ở Singapore, trong ứng xử với tôn giáo, một quan điểm được thống nhất là chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và sự thống nhất của đất nước chính là mục tiêu tối cao của Hiến pháp và bao gồm cả đức tin và thực hành tôn giáo. Đây là quan điểm của tòa án Singapore khi phán quyết về Nhân chứng Jehovah. Tang Kheng Boon (2006) đã bình luận rằng với Singapore hai nguyên tắc pháp lý sau đây là quan trọng: “thứ nhất là quyền tự do tôn giáo phải được cân bằng với lợi ích của cộng đồng; và thứ hai là nhà nước giữ vai trò trung tâm trong việc hạn chế những biểu hiện thiếu kiềm chế về quyền tự do tôn giáo.” Đây là hai nguyên tắc vẫn được quan sát thấy trong cách ứng xử của Singapore với vấn đề duy trì hài hòa tôn giáo và an ninh xã hội.

Malaysia thậm chí còn rất cởi mở với sự hiện diện của các nhóm tôn giáo. Theo Choon (2006) chính quyền Malaysia không bắt buộc nhóm tôn giáo đăng ký hoạt động. Tác giả viết: “Thực tế, hầu hết các tôn giáo đều dạy tín đồ phải trở thành các công dân gương mẫu và ủng hộ chính phủ và nhà nước. Nếu các tôn giáo được phép phát triển mà không buộc phải đăng kí, kết quả là chúng sẽ có một sự hợp tác lành mạnh với nhà nước và toàn thể công dân. Đòi hỏi đăng kí bắt buộc, nhà nước tuyên bố các nhóm tôn giáo không đăng kí là chống chính phủ, và các nhóm không đăng kí như thế là một nỗi lo sợ của chính phủ” (Choon 2006). Như thế, việc gián tiếp tạo ra và duy trì căng thẳng giữa chính phủ và công dân sẽ là một trong những nguyên nhân của bất an xã hội. Theo logic này, ngược lại, nếu chính phủ tránh được việc tạo ra căng thẳng với bất kỳ nhóm xã hội dựa trên niềm tin tôn giáo nào, bao gồm cả các tôn giáo mới, cũng có nghĩa là chính phủ bớt thêm đi một nỗi lo về đảm bảo an ninh xã hội.

Nói chung, phải nói rằng những quốc gia đó đã có một hệ thống pháp luật chi tiết cùng với năng lực phán quyết của hệ thống tòa án. Việc ứng xử ôn hòa với các phong trào tôn giáo mới thường ít thấy ở các quốc gia có nền tảng pháp lý yếu, hoặc có tiền lệ về xung đột tôn giáo.

Ứng xử cứng rắn

Một số quốc gia áp dụng các biện pháp cứng rắn trong ứng xử và quản lý các phong trào tôn giáo mới. Điều này một mặt do Hiến pháp và những luận giải hiến pháp về tự do tôn giáo cho phép, mặt khác là do công luận. Có lẽ tiêu biểu nhất trong cách tiếp cận cứng rắn đối với phong trào tôn giáo mới là trường hợp Trung Quốc trong ứng xử với Pháp luân công. Bên cạnh đó ta có thể liệt kê quan điểm cương quyết của Pháp và Nga với tôn giáo mới có nguồn gốc nước ngoài.

Pháp Luân công là một sự kiện tiêu biểu nhất thể hiện cho mối quan hệ căng thẳng giữa nhà nước và nhóm tôn giáo không được công nhận ở Trung Quốc. Scott Lowe (2004, tr. 179) chỉ ra rằng Trung Quốc về mặt lịch sử đã có bề dày trong các cuộc tàn sát “tà giáo” và các loại “hội kín”. Bạch Liên hay Hội Tam hoàng là những ví dụ tiêu biểu. Tác giả viết: “Đối với Trung Quốc từ thời Mao Trạch Đông, các tôn giáo là các nguồn cội của các tư tưởng cạnh tranh (với tư tưởng chính thống), cung cấp những cơ sở có tính thay thế về quyền lực và sự gắn kết. Vì thế, chúng cần phải bị loại trừ. Nhiều thành viên của Pháp Luân công, Zhong Gong, nhóm Tin Lành “shouters” và nhiều nhóm tôn giáo mới khác phải bị đi cải tạo, vào tù, tra tấn và chết (tr. 184-185). Hiện tại, tác giả đánh giá rằng hệ thống luật pháp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đóng vai trò thiết yếu trong các nỗ lực của chính phủ nhằm hạn chế biểu đạt tôn giáo: “Nói chung, các tổ chức đã đăng kí với Ban Tôn giáo được hoạt động tự do, miễn là tuân thủ các quy định chặt chẽ của chính phủ và chỉ tham gia vào các hoạt động đã được phê chuẩn. Chính phủ vẫn đối xử rất mạnh tay với các nhóm không đăng ký, bắt giữ lãnh đạo và đột nhập vào các tụ điểm hội họp.” Từ tháng 9 năm 1999, việc cấm Pháp Luân công của chính phủ được mở rộng sang mọi nhóm khí công có tổ chức, không tính đến các yếu tố niềm tin hay lãnh đạo. Chính phủ cương quyết rằng họ không tấn công vào các tôn giáo hợp pháp mà chỉ bảo vệ công chúng khỏi các “tà giáo” (2004, tr. 187).

Giáo phái Toàn năng thần giáo của Dương Hướng Bân nói ở trên cũng là một mục tiêu săn lùng và truy quét của Chính quyền Trung Quốc nhiều năm qua. Sự kiện một thường dân mới đây bị đánh đến chết tại Sơn Đông khi từ chối tham gia giáo phái này càng khiến đẩy mạnh công việc truy quét của cơ quan chức năng. Về giáo thuyết, giáo phái này thể hiện rõ mục tiêu tối hậu là “diệt con Rồng đỏ” – được cho là ám chỉ về Đảng Cộng sản Trung Quốc (xem Vnexpress 2014). Tận diệt “tà giáo” này đối với chính quyền Trung Quốc do đó cũng là một cách dẹp đi nguy cơ tiềm ẩn về cạnh tranh tư tưởng và chính trị.

Cho nên, có thể khái quát rằng thực chất cách ứng xử của Trung Quốc do đó là ứng xử theo thiên hướng chính trị hóa vấn đề chứ không xem xét phương diện thực hành tôn giáo. Cách ứng xử này cho đến này vẫn khá là nhất quán ở quốc gia đông dân nhất thế giới này.

Ở Nga sau khi hệ thống xô viết tan rã, chính quyền Nga được cho là có truyền thống trong việc không ủng hộ đa dạng tôn giáo (xem Marat Shterin 2004, tr. 99). Shrine nhìn nhận rằng phản ứng với Tôn giáo mới ở Nga đi từ chào đón, nghi ngờ, e sợ tới thù địch (tr. 104). Phản ứng đáng kể đầu tiên là với nhóm Great White Brotherhood (Tình huynh đệ Trắng vĩ đại). Tư tưởng chống giáo phái hiện nay ở Nga xem vấn đề giáo phái là vấn đề sinh tồn quốc gia liên quan đến tính bất an của giai đoạn chuyển đổi sang mô hình chính trị và kinh tế kiểu tư bản chủ nghĩa. Nhà nước cho rằng việc truyền đạo từ nước ngoài có thể làm mất đi cân bằng dân tộc hoặc ảnh hưởng việc duy trì bản sắc văn hóa Nga. Tác giả cho biết sự nhấn mạnh vào sự cần thiết trong việc xây dựng nhà nước Nga dựa trên căn tính lịch sử đã dẫn đến chia sẻ giữa Giáo hội Chính thống giáo Nga và các cơ quan Nhà nước, đặc biệt trong quan ngại đến các vấn đề an ninh quốc gia sau các sự kiện với người Chenchen cũng như nỗi lo về việc cho phép nhập cư các nhóm Islam giáo quá khích.

Nói chung, việc bảo vệ bản sắc văn hóa và ủng hộ tôn giáo truyền thống và chống quá khích về tinh thần. Từ năm 2000, Nga thảo luận Luật về Cực đoan chủ nghĩa và thông qua luật này năm 2002 (Shterin 2004, tr. 108). Tuy nhiên, theo nhìn nhận của Shterin, chính sách không phải là luôn nhất quán. Tòa án Hiến pháp đã dẫn các nghị quyết trong việc lí giải quyền của nhà nước trong việc: “cấm hợp pháp hóa các giáo phái vi phạm quyền cá nhân và thực hiện các hoạt động phi pháp hay có tính tội phạm, cũng như cấm các hoạt động truyền giáo (bao gồm vấn đề cải đạo), nếu nó đi cùng áp lực tâm lí hay đe dọa dùng bạo lực (tr. 109).

Cùng nghiên cứu về chủ đề tương tự, Anatoli Sokolov (2006) đã tổng hợp lại 5 định hướng sau về việc xây dựng chính sách nhắm vào việc ứng phó với các phong trào tôn giáo mới của Nga. Đó là:

  1. Thành lập một trung tâm thông tin thế tục thống nhất để nghiên cứu hiện tượng những phong trào tôn giáo mới ở nước Nga hiện nay. Thành lập ngân hàng dữ liệu thường xuyên cập nhật về tất cả những phong trào tôn giáo mới ở nước Nga, với những biểu hiện, cấu trúc và sự phát triển.

  2. Đào tạo những chuyên gia mới ở cấp độ nhà nước về tôn giáo có khả năng nghiên cứu toàn diện và khách quan, đưa ra nhận xét và đánh giá cụ thể những phong trào tôn giáo mới.

  3. Soạn thảo và ấn hành những cuốn sách phục vụ tra cứu, thường xuyên tổ chức hội thảo chuyên môn về vấn đề tôn giáo mới, trên cơ sở đó vạch ra những khuyến nghị cụ thể cho chính phủ.

  4. Thường xuyên quan sát và giám sát – trong khuôn khổ pháp luật – các hoạt động của tổ chức tôn giáo mới để đảm bảo chúng phù hợp với Hiến pháp và pháp luật hiện hành của Liên bang Nga. Chuẩn bị đầy đủ đề phòng sự xuất hiện hoạt động có tính tiêu cực đi ngược lợi ích xã hội và vi phạm pháp luật phải trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chính phủ.

  5. Phải quan tâm đặc biệt đến công tác đề phòng những hoạt động phi pháp liên quan đến lạm dụng tài chính.

Như vậy, dù chưa có sự vụ gì đáng kể xảy ra trong nước liên quan đến các phong trào tôn giáo mới, nước Nga là một quốc gia rất chủ động trong việc tìm đường hướng và chiến lược để ứng phó và quản lý các phong trào tôn giáo mới. Luật về Tự do Lương tâm và hội đoàn Tôn giáo năm 1997 của Nga khẳng định sự ưu tiên về các “niềm tin có tính lịch sử của người Nga”, đặc biệt là Giáo hội Chính thống Nga. Nhóm tôn giáo thứ hai – vốn được đầy đủ quyền lập pháp, được coi là các tổ chức đã đăng ký- là những nhóm đã hiện diện ở Nga ít nhất 15 năm. Các tôn giáo khác, bao gồm các phong trào tôn giáo mới chỉ xuất hiện gần đây ở Nga, bị hạn chế quyền lợi và chỉ hoạt động với tư cách nhóm (xem Ian Reader 2004, tr. 353).

Cần tham khảo thêm hai trường hợp của các nước Belarus và Turkhmenistan. Tháng 10 năm 2002, quốc hội Belarus thông qua luật tôn giáo được cho là hà khắc nhất ở Châu Âu. Luật này, ủng hộ mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của Giáo hội Chính thống giáo. Có một số điểm đáng chú ý trong liên hệ với tôn giáo mới. Thứ nhất, luật này đưa các hoạt động tôn giáo chưa đăng ký ra ngoài vòng pháp luật; thứ hai, chính phủ yêu cầu kiểm duyệt trước nội dung kinh sách tôn giáo của bất kỳ nhóm nào; thứ 3 cấm người nước ngoài lãnh đạo các tổ chức tôn giáo; thứ tư, cấm hầu hết mọi cuộc họp tôn giáo ở nhà riêng; và thứ 5 yêu cầu mọi tổ chức tôn giáo phải nộp đơn xin đăng ký trong vòng 2 năm (Lucas 2004, tr. 353). Ở Turkmenistan, trừ Islam giáo và Chính thống giáo là các tôn giáo chính thức, các tôn giáo khác bị cấm triệt để (Lucas 2004, tr. 354)[4].

Pháp cũng là một trường hợp tiêu biểu trong một thiên hướng khác của lối ứng xử cứng rắn với các phong trào tôn giáo mới. Daniele Hervieu-Leger (2004) đã gọi cách ứng xử của Nhà nước Pháp đối với các phong trào tôn giáo mới ở đây là “nỗi ám ảnh về sự đe dọa của giáo phái”. Nơi đây, có thể nói là đã từng có một cuộc chiến chống giáo phái, khởi động từ những năm 1980 và rầm rộ từ tháng 8 năm 2000. Có hai nhóm được đề nghị xem xét cấm do “đặc biệt nguy hiểm” là Khoa học luận và Đền Mặt trời (Order of the Solar Temple). Người ta đã đưa ra một danh sách tới 173 nhóm cần phải quan tâm đặc biệt. Tác giả cho biết Quốc hội từng bỏ phiếu cho việc huy động phương tiện pháp luật để chống giáo phái. Trong dự luật, khái niệm trung tâm là “psychological manipulation” (kích động về tâm lý). Khái niệm này được coi như tội phạm và cần đưa vào Luật hình sự. Hervieu-Leger viết: “Ở Pháp có một sự đồng thuận rộng lớn (được duy trì bởi phương tiện truyền thông) rằng cuộc chiến chống giáo phái cần phải là một phương diện cần thiết của việc bảo vệ tự do cá nhân và rằng cuộc chiến này cần phải chiếm thế thượng phong, trong phân tích sau cùng, trước việc bảo vệ quyền mỗi cá nhân đối với tự do tôn giáo” (2004, tr. 50).

Tác giả chỉ ra rằng người Pháp quan ngại về các giáo phái chủ yếu là sự xuất hiện và phát triển của các niềm tin khó xác định rõ rệt mà bất cứ lúc nào cũng có thể dẫn đến hành xử phi chính thống, và gây hại đến cố kết xã hội, đe dọa trật tự công cộng và các quan hệ xã hội truyền thống (tr. 51). Có vẻ như là cảm tính tôn giáo, khi vượt ra ngoài các tôn giáo có tổ chức truyền thống, về mặt bản chất, có thể chỉ biến thể thành một dạng thức “niềm tin có tính bệnh lý” (pathological belief) vốn hoàn toàn đối ngược với tự do tư tưởng và tự quản cá nhân (tr. 51). Theo cách tiếp cận này, mọi giáo phái đều có tiềm năng đáng kể trong việc dẫn đến sự lầm lạc do đó xã hội phải tự bảo vệ mình trước. Để đánh tan bệnh lý giáo phái này (được gọi là sectarism) theo báo cáo Liên bộ về chống giáo phái (MILS) năm 2000, nhà nước thực thi các nhiệm vụ là đặt các giáo phái dưới sự giám sát chặt chẽ (2004, tr. 51).

Sau một thời gian thảo luận, Luật Tháng 5 năm 2001 được thông qua ở Pháp. Mục đích của việc xây dựng luật này là dùng các công cụ pháp luật để “ngăn chặn các hoạt động tội phạm của các giáo phái có khả năng đe dọa nghiêm trọng đến quan hệ nhất quán giữa Nhà nước và công dân” (Herview-Leger 2004, tr. 56). Chính từ việc thông qua luật này mà năm 2001, Pháp được xếp vào nhóm 6 quốc gia khác gồm Trung Quốc, Indonesia, Sudan, Nigeria, và Turkmenistan trong việc hạn chế tự do tôn giáo thông qua các biên pháp pháp lý (xem Susan J. Palmer 2004, tr. 61).

Theo cách nhìn nhận của Daniele Herview-Leger và Susan Palmer luật có tính đàn áp tôn giáo của Pháp có liên quan nhiều đến chủ nghĩa quốc gia của Pháp, và lịch sử về quyền lãnh đạo của Giáo hội Công giáo La Mã đối với thực hành tôn giáo tín ngưỡng. Thức tỉnh bởi cuộc chiến Mỹ với Iraq, lòng thù địch với mọi thứ liên quan đến Mỹ được dự báo là sẽ tăng lên ở Pháp. Các giáo đoàn truyền giáo cũng như các phong trào tôn giáo mới có nguồn gốc nước ngoài sẽ bị nhìn nhận như những điệp viên của chủ nghĩa đế quốc Mỹ và sẽ kích thích sự phê chuẩn của công chúng với những biện pháp kiềm chế sức ảnh hưởng (xem Phillip Charles Lucas, tr. 354).

Trong quá trình xây dựng luật nói trên, Pháp phải trở lại xem xét hiến pháp và các bộ luật quan trọng có những điều khoản về tự do tôn giáo, tự do lập hội đoàn, hay về đăng ký tổ chức tôn giáo. Học giả Francis Messner (2006) đã chỉ ra rằng nước Pháp phải trở lại xem xét và luận giải Luật ban hành ngày 9/12/1905 vốn thường được gọi là Luật Phân li (nói về sự chia tách Nhà nước và Giáo hội). Theo Messner, luật 9/12/1905 trao tự do công cộng cho các nhóm phái tôn giáo, bằng cách chủ yếu là tạo cho chúng một cấu trúc đoàn thể thích ứng với mục đích hoạt động. Tuy thế, với tình hình hiện tại và những quan ngại trước vấn đề “giáo phái”, luật này được coi là một công thức đã lạc hậu. Đó là lí chính mà luật mới phải được nghiên cứu và ban hành.

Ở Nhật, chính phủ đã bị gây sức ép về việc sự kiện Aum là cái giá phải trả cho việc không kiểm soát kĩ tôn giáo mới. Khi sự kiện đánh hơi gas độc ở khu vực tầu điện ngầm diễn ra thì chính phủ mới thảo luận xem luật nào có thể áp dụng để cấm tôn giáo này. Theo Ian Reader (2004), có ít nhất hai bộ luật đã được xem xét áp dụng cho trường hợp Aum, đó là Luật hợp tác tôn giáo (Religious Corporations Laws) và Luật chống lật đổ (Anti-subversive). Đến năm 1999, Nhật thông qua một luật mới rất hà khắc dành riêng cho Aum dù vẫn cho tôn giáo này hoạt động. Luật yêu cầu tôn giáo này phải thông tin thường xuyên về mọi hoạt động của mình cũng như hồ sơ của mỗi thành viên.

Nói ngắn gọn lại thì các quốc gia đều phải nhạy cảm với các vấn đề nảy sinh vốn chia rẽ tôn giáo mà về mặt lịch sử đã dẫn đến chiến tranh, đàn áp, bạo lực và phân rã xã hội. Theo Coles Durham (2006), có hai chiến lược đối phó với vấn đề này: một là cố triệt tiêu sự khác biệt bằng cách đàn áp những niềm tin tôn giáo có tính chất gây chia rẽ. Hai là, nhà nước quyết tâm thực hiện nguyên lý khoan dung và cho phép tồn tại một phổ rộng những khác biệt tôn giáo đến mức các niềm tin tôn giáo dù có khác biệt thế nào vẫn có thể hoà đồng với nhau trong một xã hội ổn định. Theo Durham, kinh nghiệm của các nước có sự phát triển ổn định cho thấy tôn trọng các niềm tin dị biệt, bao gồm cả tôn giáo, thì mang lại hiệu quả cho chiến lược xây dựng ổn định xã hội nhiều hơn là thẳng tay đàn áp chúng.

Kết luận: Tương lai mối quan hệ giữa Nhà nước và Các phong trào tôn giáo mới

Vấn đề các phong trào tôn giáo mới giờ đã không còn mới đối với thế giới thời hậu hiện đại nữa. Trải qua một thời gian đáng kể, các xã hội đã quen dần với sự xuất hiện của các niềm tin tôn giáo mới và sự căng thẳng đã giảm đi. Những thách thức của các phong trào tôn giáo mới đã được tiếp nhận bình tĩnh hơn, với tinh thần khoan dung có thể quan sát thấy được.

Về phía nhà nước, các chính phủ đã có được sự chuẩn bị tốt hơn trong việc phản ứng với sự hiện diện cũng như những sự vụ có thể gây ra bởi các phong trào tôn giáo mới. Điều này không có nghĩa là tôn giáo mới không bị quản lý chặt chẽ hoặc đàn áp. Tuy nhiên, dù có môi trường tôn giáo ổn định thế nào đi nữa, không Nhà nước nào coi nhẹ vấn đề các phong trào tôn giáo mới. Một số tôn giáo chọn cách phê phán chế độ để giành lấy sự chú ý của người dân. Thách thức về uy quyền chính trị là một việc bất cứ chính phủ nào cũng phải xem xét một cách nghiêm túc. Trên phạm vi toàn cầu, J. Gordon Melton (2004) đã nhận xét rằng hầu hết các quốc gia đều đã có đủ các cơ chế luật pháp để điều tra và xử lí sai trái thực sự gây ra bởi các phong trào tôn giáo mới. Bắt buộc đăng ký hay hủy bỏ đăng ký hoạt động dù sao vẫn là một công cụ mạnh và tiếp tục được chính phủ áp dụng nhằm quản lý và kiểm soát các phong trào tôn giáo mới.

Nếu sự đàn áp đối với tôn giáo thiểu số tiếp tục được chính quyền áp dụng, thì nó thường rơi vào trường hợp mà Lucas đã khái quát như sau: “Nhân số sau cùng đóng góp vào việc gia tăng đàn áp tôn giáo mới và tôn giáo thiểu số trên thế giới là sự trỗi dậy của chủ nghĩa quốc gia trong nhiều đất nước vốn đang phải vật lộn để xây dựng bản sắc dân tộc rõ nét đi theo những thay đổi thể chế cấp tiến. Các lực lượng dân tộc chủ nghĩa đã đôi lúc đứng về phía các giáo hội truyền thống, “dân tộc” để tìm kiếm lại sự đồng thuận văn hóa bằng cách xóa đi những tôn giáo được cho là “phi truyền thống”. (352).

Về phía các phong trào tôn giáo mới, hầu hết đã chín chắn hơn trong cách tìm chỗ đứng cho mình trong không gian tôn giáo, văn hóa và ở các xã hội cụ thể. Họ cũng điều chỉnh các thách thức của mình và tìm kiếm sự tồn tại trong hòa bình và hòa hợp. Trong tình hình như thế, những gì có thể phán đoán trong mối quan hệ giữa các nhà nước và các phong trào tôn giáo mới? Theo tôi, có hai xu hướng có thể quan sát được, đó là xu hướng quản lý bằng luật pháp thông thường và xu hướng tiếp tục tìm cách thể chế hóa các hoạt động của các phong trào tôn giáo mới.

Tôn giáo mới vẫn xuất hiện bởi một số lí do có thể thấy được. Đó là sự tiếp tục của tính sống động tôn giáo vẫn chảy ngầm trong văn hóa của nhiều dân tộc, đặc biệt thuộc Châu Á. Thứ hai là sự phục hồi tôn giáo trên phương diện toàn cầu. Thứ ba, các tôn giáo mới ra đời để đáp ứng sự xuất hiện các nhu cầu tôn giáo mà các tôn giáo hiện tồn không có sẵn. Thứ tư, sáng tạo tôn giáo vì mục đích phi tôn giáo, như là lợi ích kinh tế, đạt lấy quyền uy, thỏa mãn tham vọng ảnh hưởng xã hội, mưu cầu động cơ chính trị, hay cổ xúy chủ nghĩa quốc gia là một chiến lược mà con người trong thế giới hậu hiện đại vẫn dùng để tồn tại và vươn lên. Trong tình hình đó, các chính phủ sẽ phải luôn tìm cách ứng phó để vừa đảm bảo cam kết về tự do tôn giáo, lại vừa đảm bảo được uy quyền chính trị, an ninh xã hội và lợi ích công cộng. Tuy nhiên, điều có thể dự báo là nếu cần phải hi sinh, thì tự do tôn giáo sẽ phải nhường ưu tiên cho an ninh quốc gia. Như thế, không có mô hình quan hệ ổn định nào nếu nói về tương lai của quan hệ giữa Chính phủ và các phong trào tôn giáo mới.

TS. Hoàng Văn Chung hiện công tác tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo. Bài viết được đăng lần đầu trên website của tác giả.

Tài liệu tham khảo:

  1. Anthony Bradney 2001, New Religious Movements: the legal dimension, trong Bryan Wilson and Jamie Cresswell (eds), New Religious Movements: Challenge and Response, New York: Routledge.
  2. Anatoli Sokolov 2006, Hiện tượng tôn giáo mới ở Liên bang Nga và chính sách Nhà nước, Hội thảo Quốc tế Tôn giáo và Pháp quyền trong bối cảnh Đông Nam Á: Tiếp xúc và thảo luận, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, tháng 9 năm 2006.
  3. Brigitte Schoen 2004, The Publicity of the Public Square, trong Phillip Charles Lucas and Thomas Robbins (eds), New Religious Movements in the 21st Century: Legal, Political, and Social Challenges in Global Perspective, New York: Routledge.
  4. Cole Durham 2006, Tiến trình và bối cảnh hiện tại của Luật tôn giáo ở Đông Nam Á: Một cách nhìn so sánh, Hội thảo Quốc tế Tôn giáo và Pháp quyền trong bối cảnh Đông Nam Á: Tiếp xúc và thảo luận, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, tháng 9 năm 2006.
  5. Daniele Hervieu-Leger 2004, France’s Obsession with the “Sectarian Threat”, trong Phillip Charles Lucas and Thomas Robbins (eds), New Religious Movements in the 21st Century: Legal, Political, and Social Challenges in Global Perspective, New York: Routledge.
  6. Đỗ Quang Hưng 2006, Công nhận tổ chức tôn giáo: Một cách tiếp cận so sánh nhân trường hợp Việt Nam, Hội thảo Quốc tế Tôn giáo và Pháp quyền trong bối cảnh Đông Nam Á: Tiếp xúc và thảo luận, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, tháng 9 năm 2006.
  7. Eileen Barker 2004, General Overview of the “cult scene” in Great Britain, trong Phillip Charles Lucas and Thomas Robbins (eds), New Religious Movements in the 21st Century: Legal, Political, and Social Challenges in Global Perspective, New York: Routledge.
  8. Francis Messner 2006, Nhà nước và Tôn giáo ở Pháp, Hội thảo Quốc tế Tôn giáo và Pháp quyền trong bối cảnh Đông Nam Á: Tiếp xúc và thảo luận, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, tháng 9 năm 2006.
  9. Ian Reader 2004, Japanese Paradigm Shift and Moral Panic in the Post-Aum Era, trong Phillip Charles Lucas and Thomas Robbins (eds), New Religious Movements in the 21st Century: Legal, Political, and Social Challenges in Global Perspective, New York: Routledge.
  10. James T. Richardson, New Religions in Australia: Public Menace or Societal Salvation?, trong Phillip Charles Lucas and Thomas Robbins (eds), New Religious Movements in the 21st Century: Legal, Political, and Social Challenges in Global Perspective, New York: Routledge.
  11. James T. Richardson 2005, Law and Religion: Law and New Religious Movements, trong Encyclopedia of Religion, Lindsay Jones (ed) Vol. 8. 2nd Detroit: Macmillan Reference USA, tr. 5375-5379.
  12. Gordon Melton 2004, The Fate of NRMs and Their Detractor in Twenty-First Century America, trong Phillip Charles Lucas and Thomas Robbins (eds), New Religious Movements in the 21st Century: Legal, Political, and Social Challenges in Global Perspective, New York: Routledge.
  13. Jean-Paul Willaime, Các tôn giáo thiểu số và đạo Tin Lành trong quan hệ với Luật về tôn giáo ở Pháp, Hội thảo Quốc tế Tôn giáo và Pháp quyền trong bối cảnh Đông Nam Á: Tiếp xúc và thảo luận, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, tháng 9 năm 2006.
  14. Lee Min Choon 2006, Vị thế pháp lý của tổ chức tôn giáo: Kinh nghiệm của Malaysia, Hội thảo Quốc tế Tôn giáo và Pháp quyền trong bối cảnh Đông Nam Á: Tiếp xúc và thảo luận, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, tháng 9 năm 2006.
  15. Marat Shterin 2004, New Religions in the New Russia, trong Phillip Charles Lucas and Thomas Robbins (eds), New Religious Movements in the 21st Century: Legal, Political, and Social Challenges in Global Perspective, New York: Routledge.
  16. Phillip Charles Lucas 2004, Conclusion: The Future of New and Minority Religions in the Twenty-First Century: Religious Freedom under Global Siege, trong Phillip Charles Lucas and Thomas Robbins (eds), New Religious Movements in the 21st Century: Legal, Political, and Social Challenges in Global Perspective, New York: Routledge.
  17. Rik Torfs 2006, Kinh nghiệm của các nền dân chủ phương Tây trong việc giải quyết vai trò pháp lý của các giáo hội và cộng đồng tôn giáo, Hội thảo Quốc tế Tôn giáo và Pháp quyền trong bối cảnh Đông Nam Á: Tiếp xúc và thảo luận, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, tháng 9 năm 2006.
  18. Susan J. Palmer 2002, Fieldnote: France’s Anti-Sect Wars, Nova Religio: The Journal of Alternative and Emergent Religions, volume 6, issue 1, tr. 174-182.
  19. Scott Lowe 2004, NRMs and the Limits of Chinese Freedom, trong Phillip Charles Lucas and Thomas Robbins (eds), New Religious Movements in the 21st Century: Legal, Political, and Social Challenges in Global Perspective, New York: Routledge.
  20. Tan Kheng Boon 2006, Khuyến khích tiết chế tôn giáo giai đoạn hậu 11/9: Những kinh nghiệm từ Singapore, Hội thảo Quốc tế Tôn giáo và Pháp quyền trong bối cảnh Đông Nam Á: Tiếp xúc và thảo luận, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, tháng 9 năm 2006.
  21. VnExpress.net 2014, Bên trong giáo phái cực đoan nhất Trung Quốc, truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014 tại: http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/ben-trong-giao-phai-cuc-doan-nhat-trung-quoc-3034397.html

————–

[1] Cụm từ này đã được phần lớn các nhà khoa học ngày nay sử dụng để tránh việc dùng các khái niệm khác vốn có thể mang các ngữ nghĩa gây hiểu lầm về sự phân biệt đối xử. Trước đây, người ta đã từng dùng các khái niệm như “cults” (các giáo phái, sự thờ cúng), “spiritual groups” (các nhóm tâm linh), “alternative religious movements” (các phong trào tôn giáo có tính thay thế), “marginalized religious movements” (các phong trào tôn giáo bên lề), v.v… Tất nhiên, bản thân cụm từ “New Religious Movements” cũng chưa phải là hoàn toàn phù hợp. Rất nhiều tranh luận đã diễn ra khi phân tích từng thành tố trong cụm từ này.

[2] Hội nghị Kitô giáo Châu Á bị giải tán theo điều 24(1) Điều luật về các tổ chức đoàn thể xã hội. Tổ chức “Chứng nhân Jehovah” và “Tổ chức Chúa thánh thần vì sự thống nhất thế giới Cơ đốc giáo (Giáo hội thống nhất- Unification Church” là 2 tổ chức nổi tiếng đã bị hủy đăng ký.

[3] Những tài liệu tham khảo ở mục này chủ yếu tham khảo các nguồn tài liệu mở tại trực tuyến, cụ thể là wikipedia.org hoặc website của chính các phong trào tôn giáo mới.

[4] Có thể tham khảo thêm trường hợp Áo với việc không không nhận và không phê chuẩn quyền lợi của các nhóm tôn giáo mới, hoặc Hy Lạp chỉ cho phép Giáo hội Chính thống Hy Lạp được phép truyền giáo và cải đạo. Tham khảo tại: http://www.religioustolerance.org/rtover.htm

This entry was posted in Nghiên cứu, Tôn giáo and tagged . Bookmark the permalink.