
Nguồn: Daniel Byman, “The Rise and Fall of Global Jihadism,” Foreign Affairs, 08/09/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Cách nước Mỹ kiềm chế – nhưng không chấm dứt – mối đe dọa khủng bố
Hai mươi lăm năm trước, các thành viên al-Qaeda đã cướp bốn máy bay chở khách của Mỹ, lao hai chiếc vào tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York và một chiếc vào Lầu Năm Góc ở Washington, D.C. Trên chiếc máy bay thứ tư, các hành khách đã cố giành lại quyền kiểm soát, khiến nó rơi xuống Shanksville, Pennsylvania, làm toàn bộ những người trên khoang thiệt mạng. Tổng cộng, những kẻ không tặc đã cướp đi sinh mạng của 2.977 người – cho đến nay vẫn là vụ tấn công khủng bố đơn lẻ đẫm máu nhất trong lịch sử.
Đối với nhiều người Mỹ, các sự kiện ngày 11/09/2001 dường như xảy ra hoàn toàn bất ngờ. Khi đó, rất ít người từng nghe tới al-Qaeda. Nhưng chỉ một ngày sau, nước Mỹ đã bước vào điều mà Tổng thống George W. Bush gọi là “cuộc chiến chống khủng bố” – một cuộc chiến kéo dài suốt nhiều thập niên, bao trùm nhiều tổ chức thánh chiến và lan tới hầu như mọi khu vực trên thế giới.
Nước Mỹ đã nhiều lần thất bại hoặc phải lùi bước trong cuộc chiến này. Những biện pháp nhằm ngăn chặn một vụ 11/9 khác, hoặc một cuộc tấn công còn lớn hơn, đòi hỏi những khoản đầu tư khổng lồ nhưng thường kém hiệu quả, đồng thời gây tổn thất lớn về nhân mạng. Một số nỗ lực, đặc biệt là các cuộc chiến toàn diện ở Afghanistan và Iraq, để lại hậu quả tàn khốc. Cuộc xâm lược Iraq năm 2003 thậm chí còn thúc đẩy một làn sóng tuyển mộ chiến binh thánh chiến mới. Trong những năm sau 2001, nhiều nhóm thánh chiến mới – một số liên kết với al-Qaeda, số khác đối địch với tổ chức này – đã thiết lập căn cứ ở Trung Đông cũng như khắp Đông và Tây Phi. Tại đó, chúng châm ngòi hoặc khoét sâu những cuộc nội chiến đẫm máu, tàn phá các cộng đồng địa phương và tiến hành các vụ tấn công khủng bố cả trong lẫn ngoài khu vực.
Tuy nhiên, cuộc chiến chống khủng bố cũng không hoàn toàn thất bại. Bản thân al-Qaeda đã bị tàn phá nặng nề. Trong suốt hai thập niên rưỡi qua, các chiến binh thánh chiến hầu như không thể tiến hành những cuộc tấn công lớn trên đất Mỹ – có lẽ là thước đo thành công quan trọng nhất đối với phần lớn các nhà lãnh đạo Mỹ. Theo dữ liệu của tổ chức New America, kể từ năm 2001, những phần tử khủng bố thánh chiến đã giết chết 122 người tại Mỹ, một con số rất nhỏ so với những gì giới chức Mỹ từng lo ngại trong những năm ngay sau vụ 11/9. Và dù các nhóm thánh chiến vẫn tồn tại, phong trào này đã đánh mất phần lớn sức hút về mặt ý thức hệ.
Hãy xem những gì diễn ra kể từ năm 2023. Ngày 07/10, Hamas – một tổ chức mà al-Qaeda thường xuyên chỉ trích vì đã thỏa hiệp các nguyên tắc thần học để theo đuổi mục tiêu chính trị – phát động một cuộc tấn công khủng bố đẫm máu vào Israel, giết chết hơn 1.100 người. Israel nhanh chóng đáp trả, giết chết hàng chục nghìn người Palestine ở Gaza, phần lớn là dân thường, đồng thời tiến hành các cuộc tấn công khác ở Iraq, Lebanon, Syria và Bờ Tây. Năm 2025, Mỹ cùng Israel ném bom Iran; tới năm 2026, liên quân Mỹ–Israel chính thức phát động một cuộc chiến toàn diện với mục tiêu ban đầu là thay đổi chế độ ở Tehran.
Cuộc chiến của Israel tại Gaza đã châm ngòi cho những cuộc biểu tình quy mô lớn trên khắp thế giới, còn toàn bộ chuỗi sự kiện trên cung cấp chất liệu cho các thuyết âm mưu cho rằng kẻ thù của Hồi giáo đang âm mưu chống lại người Hồi giáo. Thế nhưng, trái với những gì từng xảy ra sau cuộc xâm lược Iraq của Mỹ năm 2003 hay khi nội chiến Syria bùng nổ năm 2011, các biến động này không tạo ra một làn sóng thánh chiến mới. Trên thực tế, ngay sau khi lên nắm quyền, những cựu binh thánh chiến từng lật đổ nhà độc tài Syria Bashar al-Assad vào năm 2024 đã nhanh chóng tìm cách hòa giải với các quốc gia vốn có truyền thống chống các tổ chức khủng bố, trong đó có Mỹ và Ả Rập Saudi.
Một phần tư thế kỷ sau khi Osama bin Laden ra lệnh tiến hành các vụ tấn công ngày 11/9, những người kế nhiệm ông ta vẫn chưa thể xây dựng một phong trào xuyên quốc gia bền vững, đủ khả năng liên tục tấn công nước Mỹ và buộc các chính phủ phải khuất phục trước yêu sách của chúng. Cảm giác về một thời cơ lịch sử – thứ từng giúp phong trào thánh chiến trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với phương Tây – đã phai nhạt. Mỹ có thể chưa giành chiến thắng trong cuộc chiến chống khủng bố, nhưng các chiến binh thánh chiến rõ ràng đã thất bại.
SỰ RA ĐỜI CỦA MỘT PHONG TRÀO
Cuối năm 2001, al-Qaeda dường như đang trên đà lớn mạnh. Phong trào này bắt nguồn từ cuộc đấu tranh vũ trang chống sự chiếm đóng của Liên Xô tại Afghanistan trong thập niên 1980, thu hút các chiến binh Hồi giáo từ khắp thế giới. Dưới sự lãnh đạo của bin Laden, al-Qaeda theo đuổi nhiều mục tiêu, từ giúp Taliban duy trì quyền lực ở Afghanistan đến huấn luyện thành viên cho các chiến dịch khủng bố và nổi dậy trên khắp thế giới Hồi giáo. Nhưng ưu tiên hàng đầu của tổ chức là đẩy Mỹ ra khỏi Trung Đông.
Trong khi đó, các nhóm thánh chiến khác tập trung vào những mục tiêu riêng: chống lại các chính phủ mà họ coi là lực lượng chiếm đóng ngoại bang ở Chechnya và Kashmir; lật đổ những chế độ Ả Rập bị xem là bội giáo; chiến đấu với người Hồi giáo Shiite; hoặc thành lập một nhà nước Hồi giáo.
Quy mô của vụ tấn công vào Mỹ đã mang lại cho al-Qaeda một vầng hào quang chiến thắng và nâng mạnh vị thế của tổ chức trong phong trào thánh chiến rộng lớn hơn. Sau ngày 11/9, chiến đấu chống Mỹ và các đồng minh phương Tây – điều mà trước đó phần lớn các phần tử thánh chiến chỉ xem là ưu tiên thứ yếu – trở thành một mục tiêu chủ lưu hơn. Việc chính phủ Mỹ sau đó gần như không phân biệt giữa các nhóm liên kết với al-Qaeda và những nhóm thánh chiến chỉ tập trung vào mục tiêu địa phương càng củng cố xu hướng này.
Một số yếu tố đã tạo điều kiện cho các cuộc tấn công năm 2001. Trong đó có nhiều thiếu sót trong cách Washington tiếp cận vấn đề chống khủng bố, được chỉ ra bởi Ủy ban 11/9 – cơ quan độc lập do chính phủ Mỹ thành lập năm 2002 mà tôi từng là thành viên. Những sai lầm bao gồm việc chia sẻ thông tin kém giữa các cơ quan chính phủ; không đưa vào danh sách theo dõi những kẻ sau này trở thành không tặc dù chúng bị nghi có liên hệ với al-Qaeda và được cho là đang tới Mỹ; không tích cực truy tìm các nghi phạm khủng bố được cho là đã có mặt trên lãnh thổ Mỹ; và không phản ứng thích đáng trước những báo cáo đáng lo ngại từ các sĩ quan thực địa rằng các chiến binh thánh chiến dường như đặc biệt quan tâm đến việc học lái máy bay.
Không kém phần quan trọng là cách thức tổ chức của chính al-Qaeda. Phần lớn lãnh đạo tổ chức đều sáng tạo, tận tụy và sẵn sàng hợp tác với các nhóm khác, qua đó tạo dựng một mạng lưới rộng lớn để tuyển chọn những đặc vụ xuất sắc nhất.
Quan trọng hơn cả, al-Qaeda có một nơi trú ẩn an toàn tại Afghanistan dưới sự cai trị của Taliban, nơi chúng có thể xây dựng chiến lược, lên kế hoạch tấn công và phối hợp với các đối tác quốc tế mà ít bị can thiệp. CIA ước tính từ 10.000 đến 20.000 tình nguyện viên đã tham gia các trại huấn luyện tại Afghanistan vào cuối thập niên 1990, cho phép al-Qaeda xây dựng một lực lượng có quy mô tương đương một đội quân nhỏ.
Những tân binh từ khắp thế giới, đặc biệt là Trung Đông, được đào tạo những kiến thức cơ bản về chiến tranh nổi dậy. Những ứng viên triển vọng hơn được học các kỹ thuật phản gián và chế tạo bom nâng cao. Một số sau khi hoàn thành huấn luyện chiến đấu cùng Taliban chống lại các đối thủ còn lại của nhóm này tại Afghanistan. Taliban cũng cho phép những người khác rời đất nước để gia nhập các nhóm nổi dậy hoặc các chi bộ khủng bố địa phương trên khắp thế giới.
Những tân binh nổi bật được lựa chọn để huấn luyện thêm và giao cho các nhiệm vụ ưu tiên. Chẳng hạn, nhiều kẻ không tặc trong vụ 11/9 ban đầu tới Afghanistan với ý định học các kỹ năng chiến đấu và tạo dựng quan hệ trước khi sang Chechnya tham chiến cùng lực lượng nổi dậy Chechen chống Nga. Nhưng sau khi được huấn luyện và cực đoan hóa tại các trại của al-Qaeda, chúng lại được phái đi tấn công nước Mỹ.
Khi đó, phần lớn các chính phủ trên thế giới chỉ dành sự chú ý hạn chế cho mối nguy đang gia tăng. Họ hầu như không làm gì để ngăn thành viên các tổ chức khủng bố tuyển mộ, tuyên truyền, gây quỹ và xây dựng mạng lưới trên lãnh thổ của mình, miễn là những nhóm này không trực tiếp tiến hành tấn công tại đó.
Chẳng hạn, trong thập niên 1990, nhiều thủ lĩnh và đặc vụ thánh chiến đã lên kế hoạch cho các hoạt động ở Algeria, Bosnia và những nơi khác ngay từ London. Ngay cả ở Mỹ, công tác kiểm soát cũng tương đối lỏng lẻo: Ayman al-Zawahiri, người kế nhiệm bin Laden sau khi Mỹ tiêu diệt thủ lĩnh al-Qaeda năm 2011, từng đến Mỹ trong thập niên 1990 để gây quỹ.
CUỐI CÙNG TÌNH THẾ CŨNG ĐẢO NGƯỢC
Sau vụ 11/9, các nỗ lực chống khủng bố của Mỹ nhanh chóng thành công trong việc phá hủy căn cứ hoạt động của al-Qaeda. Khi đống đổ nát của tòa tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới vẫn còn bốc khói, Mỹ đã bắt đầu các chiến dịch quân sự tại Afghanistan. Các sĩ quan CIA và lực lượng đặc nhiệm Mỹ phối hợp với những nhóm chống Taliban, dưới sự yểm trợ của Không quân Mỹ, nhanh chóng lật đổ chính quyền Taliban.
Nhiều thành viên al-Qaeda thiệt mạng trong cuộc chiến. Những kẻ sống sót mất nơi trú ẩn an toàn và, quan trọng hơn, mất hệ thống trại huấn luyện, buộc phải tháo chạy. Phần lớn trốn sang Pakistan và Iran rồi tiếp tục hoạt động từ đó. Nhiều cuộc tấn công thành công nhất của al-Qaeda sau 11/9, trong đó có vụ đánh bom hệ thống giao thông công cộng London năm 2005, được chỉ đạo từ Pakistan.
Nhưng Islamabad và Tehran đều là những nơi trú chân kém thuận lợi hơn nhiều so với Afghanistan dưới thời Taliban. Cả hai không cho phép al-Qaeda thiết lập các trại huấn luyện mới. Quan trọng hơn, giới chức Pakistan thường xuyên hỗ trợ Mỹ bắt giữ và tiêu diệt các đặc vụ của tổ chức này.
Không còn cơ sở hạ tầng huấn luyện quy mô lớn như từng có ở Afghanistan, các nhóm thánh chiến mất phần lớn khả năng tổ chức những cuộc tấn công tinh vi và tầm xa như vụ 11/9. Tuy nhiên, chúng vẫn tiếp tục gieo rắc kinh hoàng cho người dân địa phương trên khắp Trung Đông.
Tệ hơn, Mỹ lại vô tình tiếp thêm sức mạnh cho phong trào thánh chiến bằng cuộc xâm lược Iraq năm 2003, một cuộc chiến được biện minh một phần bằng nhu cầu chống khủng bố. Cuộc chiếm đóng sau đó của Mỹ kích động sự phẫn nộ trên toàn khu vực và thúc đẩy sự phát triển của các nhóm nổi dậy chống Mỹ ở Iraq.
Tình trạng hỗn loạn do các cuộc nổi dậy của người Ả Rập năm 2011 gây ra tiếp tục mở thêm không gian cho những nhóm này phát triển. Kết quả cuối cùng là sự trỗi dậy của cái gọi là Nhà nước Hồi giáo (ISIS). Ở thời kỳ đỉnh cao năm 2014–2015, ISIS kiểm soát một vùng lãnh thổ ở Iraq và Syria có diện tích gần bằng bang Virginia, với hàng triệu người sinh sống. Tổ chức này thu hút thêm hàng chục nghìn tân binh từ Trung Đông, châu Âu và Trung Á.
Những nhóm khác, như al-Shabab ở Somalia, cũng chiếm giữ những vùng lãnh thổ rộng lớn, nơi chúng thu thuế, đe dọa dân chúng và lên kế hoạch hoạt động.
Tuy nhiên, áp lực liên tục của Mỹ lên các sào huyệt thánh chiến còn lại cuối cùng cũng phát huy tác dụng. Tại Iraq và Syria, Mỹ từng bước làm suy yếu quyền kiểm soát lãnh thổ của Nhà nước Hồi giáo cho tới khi tổ chức này mất toàn bộ vùng đất từng nắm giữ.
Khác với các cuộc chiến huy động hàng chục nghìn binh sĩ Mỹ ở Afghanistan và Iraq, Washington lần này chỉ triển khai các đội tác chiến đặc biệt quy mô nhỏ, trong khi các đối tác địa phương – được Mỹ huấn luyện và hỗ trợ bằng không quân cùng tình báo – đảm nhiệm phần lớn hoạt động chiến đấu và chịu phần lớn thương vong.
Ở những nơi khác như Libya và Somalia, Washington hỗ trợ quân đội quốc gia và các lực lượng dân quân địa phương chiến đấu chống các nhóm thánh chiến, đồng thời tiến hành một chiến dịch “đập chuột” liên tục nhằm vào các thủ lĩnh của phong trào.
Sự xuất hiện của máy bay không người lái vũ trang hỗ trợ mạnh mẽ cho nỗ lực này, cho phép quân đội Mỹ thu thập nhiều thông tin tình báo hơn và tấn công nhanh hơn, đồng thời giảm thiệt hại ngoài ý muốn so với việc sử dụng không quân truyền thống. Hợp tác ngày càng sâu giữa các cơ quan tình báo đồng minh cũng mang lại hiệu quả đáng kể.
Phần lớn công việc này rất máy móc và tẻ nhạt – chẳng hạn liên kết một số điện thoại với một giao dịch tài chính – nhưng chính nó cho phép Washington và các đối tác từng bước phơi bày và tháo gỡ phần lớn mạng lưới thánh chiến toàn cầu, bắt giữ thành viên al-Qaeda cùng các nhóm khác và làm gián đoạn hoạt động của chúng trên khắp thế giới.
Không kém phần quan trọng là những khoản đầu tư khổng lồ của Mỹ vào an ninh nội địa. Bộ An ninh Nội địa, thành lập năm 2002, có nhiệm vụ tập hợp an ninh hàng không, bảo vệ biên giới và các bộ phận khác của bộ máy an ninh quốc gia tham gia ngăn chặn các cuộc tấn công khủng bố trên lãnh thổ Mỹ.
Chi tiêu cho an ninh sân bay, ứng phó thảm họa và cải thiện liên lạc giữa các cơ quan liên bang, tiểu bang và địa phương được tăng mạnh, nhằm bảo đảm thông tin về các mối đe dọa mới được chia sẻ nhanh chóng, những kẻ khủng bố bị ngăn không cho nhập cảnh và phản ứng trước các cuộc tấn công trong tương lai được phối hợp tốt hơn.
FBI đưa chống khủng bố lên hàng ưu tiên cao nhất và ráo riết điều tra những cá nhân bị nghi có hoạt động khủng bố. Đôi khi cơ quan này hành động quá mức; các tổ chức bảo vệ quyền tự do dân sự cho rằng FBI đã bắt giữ và thẩm vấn một số lượng lớn đàn ông Hồi giáo cũng như theo dõi các nhà thờ Hồi giáo mà không có bằng chứng về hành vi sai trái. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, những nỗ lực này đã phát huy hiệu quả trong việc ngăn chặn các cuộc tấn công.
Các biện pháp trên bổ trợ lẫn nhau. Không còn các trại huấn luyện, những kẻ muốn trở thành khủng bố thiếu nơi rèn luyện kỹ năng và mở rộng mạng lưới. Việc huấn luyện không đầy đủ khiến chúng dễ mắc những sai lầm nhỏ, qua đó làm hoạt động gây quỹ và tuyển mộ dễ bị phát hiện hơn. Các cơ quan an ninh tích cực hơn của Mỹ và đồng minh lại sẵn sàng bắt giữ chúng, rồi sử dụng thông tin tình báo thu được để tiếp tục nhắm vào mạng lưới và nơi trú ẩn ở nước ngoài.
Việc triệt phá các sào huyệt thánh chiến ở Afghanistan, Iraq, Syria và những nơi khác cũng từng bước làm suy giảm uy tín và sức hấp dẫn của các nhóm này. Vào thời kỳ đỉnh cao, việc Nhà nước Hồi giáo kiểm soát lãnh thổ đã chứng minh sức mạnh của tổ chức và thu hút những người muốn sống trong một xã hội được cai trị theo cách diễn giải luật Hồi giáo của nó. Nhưng khi Nhà nước Hồi giáo mất lãnh thổ, lời kêu gọi các chiến binh mới tới bảo vệ “vương quốc Hồi giáo” tự xưng ngày càng trở nên sáo rỗng. Tuyển mộ trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Ngày càng ít phần tử thánh chiến tiềm năng muốn gia nhập một phong trào rõ ràng đang thất bại.
NHỮNG BÀN PHẢN LƯỚI NHÀ
Không chỉ áp lực của Mỹ dẫn tới sự suy tàn của phong trào thánh chiến. Chính các nhóm thánh chiến cũng liên tục đưa ra những lựa chọn làm suy giảm sức hấp dẫn của mình.
Trước hết, chúng tạo ra quá nhiều kẻ thù. Kẻ thù của al-Qaeda không chỉ là Mỹ mà còn gồm những thế lực khác bị xem là lực lượng chiếm đóng ngoại bang, như Ấn Độ, Israel và Nga. Một số phe phái trong phong trào rộng lớn hơn còn chống lại các chính phủ tại những quốc gia Hồi giáo mà chúng coi là không đủ ngoan đạo, bao gồm Ai Cập, Indonesia, Ả Rập Saudi và Yemen.
Danh sách kẻ thù của Nhà nước Hồi giáo còn dài hơn. Những cuộc chiến khốc liệt nhất của tổ chức này thậm chí diễn ra với người Hồi giáo Shiite và những tín đồ Hồi giáo không thuộc dòng Sunni.
Việc có nhiều kẻ thù giúp các nhóm này thu hút những thành phần ủng hộ khác nhau, nhưng đồng thời buộc chúng phải phân tán nguồn lực. Tấn công tất cả mọi người, ở mọi nơi và cùng một lúc khiến việc duy trì nỗ lực tập trung nhằm đạt bất kỳ mục tiêu cụ thể nào trở nên khó khăn.
Tai hại hơn, chiến lược đó gần như bảo đảm rằng tất cả những đối tượng bị tấn công sẽ phản công. Chống chủ nghĩa khủng bố thánh chiến là một trong số ít vấn đề có khả năng đoàn kết hầu như mọi chính phủ trên thế giới. Mỹ vì vậy có thể huy động sự hỗ trợ quân sự và tình báo từ nhiều quốc gia vốn bất đồng sâu sắc với Washington trong các vấn đề khác nhưng cùng chia sẻ lợi ích trong việc kiềm chế các nhóm thánh chiến.
Nghiêm trọng hơn nữa, một số nhóm thánh chiến đã khiến chính công chúng Hồi giáo quay lưng lại với chúng bằng cách sát hại và ngược đãi dân thường Hồi giáo.
Những người từng đồng cảm với cuộc chiến chống Mỹ và các thế lực ngoại bang chưa chắc chấp nhận việc chiến binh thánh chiến giết cảnh sát và nhân viên an ninh Ả Rập Saudi trong các năm 2003 và 2004, hay việc một nhánh al-Qaeda tàn sát cả dân thường Sunni lẫn Shiite ở Iraq trong các năm 2006 và 2007.
Những vụ giết chóc như vậy làm suy giảm nghiêm trọng uy tín của phong trào. Ở Ả Rập Saudi, với sự ủng hộ rộng rãi của công chúng, chính phủ đã tiêu diệt hoặc bắt giữ nhiều thành viên al-Qaeda, làm tổ chức này suy yếu nặng nề trong nước. Ở Iraq, các hành động bạo lực cũng khiến tổ chức bị lên án cả bởi những giáo sĩ từng ủng hộ phong trào thánh chiến toàn cầu lẫn các lãnh đạo tôn giáo dòng chính.
Quyết định mở rộng quá mức của Nhà nước Hồi giáo tại Iraq và Syria cuối cùng lại trở thành một trong những nguyên nhân dẫn tới sự diệt vong của tổ chức.
Tuyên bố thành lập một vương quốc Hồi giáo năm 2014 gây chấn động đối với nhiều tín đồ Hồi giáo, đặc biệt trong bối cảnh tổ chức dường như liên tục mở rộng lãnh thổ và đánh bại đối thủ. Nhưng chính dự án ấy đã mở đường cho thất bại sau này.
Như bin Laden từng cảnh báo riêng với một thủ lĩnh thánh chiến ở Yemen nhiều năm trước, việc xây dựng một nhà nước sẽ tạo cho Mỹ và các nước khác một mục tiêu rõ ràng để tập trung hỏa lực. Khi Nhà nước Hồi giáo tuyên bố thành lập vương quốc, việc kiểm soát lãnh thổ không chỉ khiến tổ chức dễ bị tấn công hơn mà cách thức cai trị của nó còn phơi bày mức độ tàn bạo trước công chúng. Những yêu sách tối đa hóa cũng khiến việc hợp tác với các nhóm thánh chiến khác – chưa nói tới các quốc gia khác – gần như bất khả thi.
Đến giữa thập niên 2020, phong trào thánh chiến không còn ở vị thế có thể dễ dàng khai thác những biến động tại Trung Đông.
Cuộc chiến ở Gaza, sự sụp đổ của Assad trước lực lượng gồm nhiều cựu binh thánh chiến, và cuộc chiến Mỹ–Israel với Iran đều tạo ra bất mãn, hình ảnh và những câu chuyện vốn từng thúc đẩy sự lan rộng toàn cầu của phong trào. Nhưng ngoại trừ Somalia và phần lớn Tây Phi, các nhóm thánh chiến không thể tạo ra một làn sóng huy động lực lượng tương đương với những gì từng xảy ra sau Chiến tranh Iraq năm 2003 hay trong thời kỳ Nhà nước Hồi giáo trỗi dậy.
Trong những giai đoạn trước, ý thức hệ thánh chiến vẫn có động lực quốc tế. Sau thất bại của dự án lãnh thổ Nhà nước Hồi giáo, ý tưởng về một cuộc thánh chiến toàn cầu đã mất phần lớn sức hấp dẫn ở hầu hết các khu vực. Những năm vừa qua lẽ ra là cơ hội lý tưởng để tuyển mộ thanh niên Hồi giáo bất mãn ở châu Âu và Trung Đông. Nhưng các chiến binh thánh chiến đã không thể tận dụng cơ hội đó.
CUỘC CHIẾN CHƯA KẾT THÚC
Bất chấp sự suy tàn của chủ nghĩa thánh chiến và mức độ an toàn tương đối của lãnh thổ Mỹ sau ngày 11/9, vẫn khó có thể nói rằng Mỹ đã chiến thắng trong cuộc chiến chống khủng bố.
Không cuộc chiến lớn nào được tiến hành dưới danh nghĩa đó, đặc biệt ở Afghanistan và Iraq, có một kết thúc tốt đẹp. Lực lượng Mỹ nhanh chóng lật đổ Taliban ở Afghanistan và loại bỏ nơi trú ẩn an toàn của các chiến binh thánh chiến, nhưng chiến dịch sau đó sa vào thế bế tắc kéo dài và kết thúc bằng một thất bại gây tổn hại uy tín vào năm 2021, khi Taliban được tái thiết giành lại quyền kiểm soát đất nước.
Cuộc chiến Iraq cuối cùng giúp một chính phủ tốt hơn chế độ độc tài của Saddam Hussein xuất hiện, nhưng đồng thời đặt nền móng cho sự trỗi dậy của Nhà nước Hồi giáo.
Những cuộc chiến này, cùng nhiều cuộc xung đột khác trong khu vực, cũng gây ra cái giá khổng lồ về nhân mạng. Dự án Costs of War của Đại học Brown ước tính gần một triệu người – trong đó gần một nửa là dân thường – đã thiệt mạng tại Afghanistan, Iraq, Pakistan, Syria và Yemen từ năm 2001 đến 2023.
Về phía Mỹ, hơn 2.000 binh sĩ đã thiệt mạng ở Afghanistan và hơn 4.000 người ở Iraq, cùng trên 50.000 người bị thương trong hai cuộc xung đột. Tính đến năm 2021, Washington đã chi tổng cộng khoảng 8 nghìn tỷ đô la cho các cuộc chiến hậu 11/9.
Các nỗ lực chống khủng bố cũng không thể loại bỏ hoàn toàn chủ nghĩa thánh chiến. Trong nhiều năm, các chiến dịch quân sự của Mỹ, kết hợp với bộ máy tuyên truyền hiệu quả của al-Qaeda và Nhà nước Hồi giáo chuyên khuếch đại những hành vi lạm dụng của Mỹ và đồng minh, duy trì những điều kiện chính trị cho phép ý thức hệ này tiếp tục lan truyền.
Và dù không tổ chức thánh chiến nào có thể thực hiện một chiến dịch khác với quy mô tương đương vụ 11/9, Mỹ và các đồng minh vẫn là mục tiêu của nhiều âm mưu và các cuộc tấn công do những cá nhân được truyền cảm hứng bởi hệ tư tưởng thánh chiến thực hiện, ngay cả khi họ chưa bao giờ trực tiếp gặp một thành viên al-Qaeda hay Nhà nước Hồi giáo.
Nhiều âm mưu đã bị ngăn chặn nhờ các biện pháp phòng ngừa tốt hơn. Nhưng mong muốn sát hại người Mỹ và công dân những nước nằm trong danh sách kẻ thù của các nhóm thánh chiến chưa biến mất.
Những nỗ lực của nhiều chính quyền Mỹ nhằm trực tiếp chống lại bộ máy tuyên truyền thánh chiến – trong đó có các chương trình “chống chủ nghĩa cực đoan bạo lực” – cũng không thực sự thành công trong việc giành lấy “trái tim và khối óc” của những người phản đối chính sách Mỹ và không có lý do để tin tưởng Washington trong bối cảnh dân thường Hồi giáo vẫn thiệt mạng trong các cuộc chiến của Mỹ.
Tuy nhiên, sự tồn tại dai dẳng của một hệ tư tưởng không đồng nghĩa với việc nó vẫn giữ được vị thế nổi bật như trước.
Ở thời kỳ đỉnh cao, các nhóm thánh chiến đã chứng minh khả năng tiến hành những vụ bạo lực kinh hoàng, thiết lập liên minh trong các cuộc nội chiến và thậm chí chiếm giữ lãnh thổ. Nhưng chúng thất bại trong việc chuyển hóa những thành tựu ấy thành một dự án chính trị bền vững hoặc duy trì sức hấp dẫn toàn cầu trong dài hạn.
Bên ngoài khu vực châu Phi cận Sahara, chủ nghĩa thánh chiến không còn đưa ra được một câu trả lời thuyết phục cho những bất mãn của người Hồi giáo hay một con đường khả tín dẫn tới biến đổi chính trị như phong trào từng làm trong hai thập niên đầu thế kỷ này. Các chiến binh thánh chiến không còn đổ xô đi chiến đấu chống Israel hay Mỹ, còn những cựu binh thánh chiến Syria hiện ngồi tại Damascus dường như quan tâm tới việc thu hút đầu tư nước ngoài hơn là chiến đấu với các thế lực ngoại đạo.
Điều này buộc Washington phải đối mặt với những lựa chọn khó khăn về mức độ can dự cần thiết để chống lại các nhóm thánh chiến vẫn đang hoạt động.
Phần lớn những nhóm này sống sót nhờ tham gia vào các cuộc nội chiến tàn khốc nhưng diễn ra ở những nơi nằm ngoài vùng lõi lợi ích của Mỹ, như Mali, Somalia và Yemen. Có nguy cơ chúng biến sự tham gia trong các cuộc chiến này thành cơ hội xây dựng những nơi trú ẩn an toàn mới, từ đó tổ chức các cuộc tấn công quốc tế.
Nhưng nếu Mỹ trực tiếp can thiệp, Washington cũng phải đối mặt với nguy cơ bị trả đũa và sa lầy vào những cuộc xung đột mới.
Tại Somalia và Yemen, giải pháp của Washington là sử dụng máy bay không người lái tấn công các thủ lĩnh và chiến binh thánh chiến, đồng thời hỗ trợ ở mức hạn chế cho chính phủ khu vực, các lãnh chúa và thủ lĩnh bộ lạc nhằm duy trì áp lực lên các nhóm này.
Tuy nhiên, chừng nào chính phủ tại những quốc gia đó vẫn yếu và hỗ trợ an ninh không tạo ra những thay đổi đáng kể – hoặc nếu Washington cắt giảm hoàn toàn viện trợ, như chính quyền Trump đã làm tại nhiều nước châu Phi – thì các nhóm thánh chiến vẫn sẽ tiếp tục hoạt động.
Nước Mỹ phải chấp nhận rằng chủ nghĩa thánh chiến có thể sẽ không bao giờ hoàn toàn biến mất.
Hiện tại, các chiến dịch chống khủng bố của Mỹ và đồng minh, kết hợp với chuỗi thất bại của chính các chiến binh thánh chiến, đang giữ cho những nhóm này ở trạng thái tương đối bị kiềm chế. Nhưng để duy trì tình trạng đó sẽ cần những nỗ lực liên tục: hợp tác tình báo với đồng minh, các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào những chiến binh thánh chiến, và huấn luyện quân sự cho các đối tác địa phương nhằm ngăn các nhóm này tái thiết tại những quốc gia yếu kém.
Những hoạt động đó sẽ hiệu quả nhất khi được tiến hành tương đối kín đáo, tránh trao cho các chiến binh thánh chiến những chiến thắng tuyên truyền dễ dàng và hạn chế tối đa chi phí đối với chính nước Mỹ.
Nếu Washington có thể duy trì cảnh giác mà không ôm đồm quá mức, họ có thể giữ cho chủ nghĩa thánh chiến là một mối nguy có thể quản lý được, thay vì để nó một lần nữa trở thành mối đe dọa mang tính định hình.
Daniel Byman là Giáo sư tại Trường Dịch vụ Đối ngoại thuộc Đại học Georgetown và là Giám đốc Chương trình Chiến tranh, Các mối đe dọa phi truyền thống và Chủ nghĩa khủng bố tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS).