
Nguồn: Cole Bucy, “Tehran is a Different Beast Now”, War on the Rocks, 21/10/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Tehran mà thế giới từng biết đến đã không còn tồn tại. Tehran ấy đã chết trong biển lửa cùng cựu Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei ngay trong ngày đầu tiên của cuộc chiến hồi tháng Hai. Con trai ông, Mojtaba Khamenei, người kế nhiệm vị trí Lãnh tụ Tối cao, dù hiện đang ở đâu và tình trạng sức khỏe ra sao, đã tận mắt chứng kiến cha, vợ và những thành viên thân thiết khác trong gia đình thiệt mạng trong chính cuộc không kích khiến ông bị thương. Nhà Trắng từng tin rằng cuộc xung đột sẽ chỉ kéo dài vài tuần, nhưng chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran đã chứng tỏ khả năng chống chịu tốt hơn những gì Mỹ và Israel dự tính. Giờ đây, hai nước phải đối mặt với những nhà lãnh đạo Iran còn sống sót, những người đã trải qua mất mát và sang chấn tương tự trong các đợt tấn công ban đầu. Washington vẫn chưa nhận thức đầy đủ những cuộc tấn công mang tính hủy diệt của mình đã làm thay đổi tư duy của Tehran như thế nào. Thay vào đó, Nhà Trắng vẫn tỏ ra khó hiểu trước những hành động bị coi là “điên rồ” của Iran, bởi nước này không còn hành xử theo những tính toán trước chiến tranh.
Trong bài viết này, tôi lập luận rằng những hành động “điên rồ” của Iran khiến Washington bối rối phần nào phản ánh một chuyển biến tinh tế nhưng quan trọng trong tư duy của Tehran. Cuộc tấn công do Mỹ dẫn đầu đã biến những lời tiên đoán về ngày tận thế thành hiện thực đối với các nhân vật có niềm tin ý thức hệ sâu sắc trong giới lãnh đạo cấp cao của chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran, những người suốt nhiều năm đã nghe những lời cảnh báo đầy hoang tưởng về một cuộc tấn công mang tính tận thế như vậy trong các buổi cầu nguyện thứ Sáu hằng tuần. Những thành viên còn sống sót trong vòng quyền lực thân cận của Iran, hay “Tehran mới”, hiện đang hành động theo một hệ thống nguyên tắc chiến lược đã thay đổi. Bất chấp năng lực tác chiến xuất sắc của quân đội Mỹ, Nhà Trắng vẫn chưa tìm được phương án kết thúc cuộc chiến và có nguy cơ biến một cuộc khủng hoảng thành thảm họa nếu không thể điều chỉnh cách tiếp cận để thích ứng với thực tế mới tại Tehran.
Là một cựu nhà phân tích của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), công việc của tôi trong nhiều năm là gạt bỏ quan điểm cá nhân để nhìn thế giới theo cách các nhà lãnh đạo Iran nhìn nhận. Mục tiêu của tôi là thấu hiểu tư duy của những nhân vật cứng rắn tại Tehran, vốn có thế giới quan rất khác với các nhà phân tích phương Tây. Việc đặt mình vào vị trí của những nhà lãnh đạo chuyên chế sử dụng bạo lực và thù địch với Mỹ có thể gây cảm giác khó chịu, đặc biệt khi quá trình ấy thách thức những giả định và giá trị cốt lõi của chính chúng ta. Tuy nhiên, nó mang lại sự sáng tỏ hữu ích khi hành vi của đối thủ đi ngược lại dự đoán. Dĩ nhiên, giới lãnh đạo Iran không thường xuyên công khai những cuộc thảo luận nội bộ, còn các tuyên bố trước công chúng của họ có thể chỉ là những lời khoa trương hoặc tuyên truyền gây hiểu lầm. Vì vậy, việc tìm hiểu quá trình ra quyết định thực sự của giới lãnh đạo Iran thường mang tính nghệ thuật nhiều hơn khoa học. Dẫu vậy, chúng ta vẫn có thể suy luận được phần lớn logic nội tại không được công khai của họ thông qua việc phân tích hành động của chế độ và nhìn nhận thế giới qua lăng kính ý thức hệ của Tehran.
Nhà Trắng đang tiến hành một cuộc phân tích nội bộ quyền lực theo kiểu “Điện Kremlin học” hết sức ráo riết nhằm xác định những nhân vật nào đang lên hoặc xuống trong hệ thống lãnh đạo Tehran. Vòng quyền lực thân cận vốn đã chịu tổn thất nặng nề của Iran đang đối mặt với những chia rẽ nội bộ, gần như chắc chắn sẽ càng trầm trọng hơn bởi sự bất định xoay quanh tình trạng của Mojtaba Khamenei. Một số nhà quan sát phương Tây mô tả tình trạng hiện nay của chế độ là sự phẫn nộ thiếu người lãnh đạo, khiến Iran không có khả năng đạt được hòa bình. Tuy nhiên, lời giải thích đơn giản nhất là những cuộc tấn công nhằm tiêu diệt tầng lớp lãnh đạo của Mỹ và Israel đã đẩy trọng tâm quyền lực chính trị Iran về phía nhóm quân sự cứng rắn xung quanh Mojtaba Khamenei, những người chịu trách nhiệm tiến hành chiến tranh và ủng hộ các chiến thuật quyết liệt hơn khi không còn sự thận trọng vốn có của Ali Khamenei đóng vai trò kiềm chế. Những cuộc tranh cãi công khai và sự đối đầu giữa các phe phái từ lâu đã là đặc điểm nổi bật của đời sống chính trị chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran, nhưng các nhà quan sát phương Tây thường đánh giá quá cao tầm quan trọng của chúng. Vì vậy, hy vọng rằng một rạn nứt nội bộ nào đó trong chế độ sẽ giúp Mỹ thoát khỏi thế khó hiện nay là điều thiếu thực tế. Nếu chế độ tiếp tục tồn tại thêm vài năm, những khác biệt giữa các nhà lãnh đạo vừa được sắp xếp lại có thể phát triển thành những bất đồng sâu sắc, tạo ra các ngã rẽ chiến lược thực sự cho Iran. Tuy nhiên, tâm lý cùng cố thủ trong một pháo đài bị bao vây giữa cuộc khủng hoảng hiện nay gần như chắc chắn sẽ khiến những bất đồng chiến thuật giữa họ không mang nhiều ý nghĩa đối với chính sách của Mỹ.
Ở thời điểm hiện tại, việc quá tập trung vào những biến động trong giới lãnh đạo Tehran đang khiến Washington sao nhãng, không thể nhìn nhận một cách bao quát rằng lập trường cứng rắn hơn của “Tehran mới” thực chất có sự nhất quán chiến lược nhất định. Nếu xem xét tổng thể, những hành động của Iran trong bảy tháng qua có thể được hiểu là kết quả của một quá trình đánh giá lại tình hình một cách tỉnh táo, dựa trên những bài học cay đắng rút ra từ chiến tranh. “Tehran mới” nhận ra rằng lựa chọn hành động an toàn không mang lại nhiều lợi ích. Cơ hội sống sót duy nhất của họ là theo đuổi một lập trường quyết liệt, gây ra tổn thất đủ lớn để Mỹ và các đối tác khu vực không còn dễ dàng đe dọa sự tồn tại của Cộng hòa Hồi giáo Iran, ngay cả khi chính sách đẩy căng thẳng đến sát bờ vực ấy cũng có thể đặt sự tồn vong của chế độ vào tình thế nguy hiểm.
Dưới đây là những yếu tố then chốt trong tư duy của “Tehran mới”. Việc hiểu rõ chúng ảnh hưởng đến hành vi của Iran như thế nào sẽ đóng vai trò quyết định để Washington điều chỉnh lại các giả định và kết thúc cuộc chiến một cách thành công.
KHÔNG THỂ RĂN ĐE NHỮNG NGƯỜI ĐÃ COI MÌNH CẦM CHẮC CÁI CHẾT
Những cuộc tấn công chưa từng có tiền lệ nhằm tiêu diệt giới lãnh đạo Iran nhiều khả năng đã khiến các thành viên còn sống sót tin rằng họ chỉ còn đang chờ đến lượt mình bị giết. Những lời kêu gọi thay đổi chế độ từ phe chủ chiến tại Mỹ và Israel trong các đợt tấn công liên tiếp nhằm vào Iran có lẽ đã khiến Tehran tin rằng kẻ thù sẽ không bao giờ ngừng tìm cách “hoàn tất công việc” cho đến khi chế độ và toàn bộ tầng lớp lãnh đạo của nó bị tiêu diệt, bất kể có đạt được thỏa thuận ngừng bắn để kết thúc vòng xung đột hiện nay hay không. Những lời đe dọa thường xuyên của Tổng thống Donald Trump về việc hủy diệt chế độ có lẽ càng khiến vấn đề sống còn của bản thân luôn thường trực trong tâm trí họ. Câu hỏi đối với giới lãnh đạo Iran có lẽ không phải liệu Mỹ và Israel có tiếp tục tìm cách giết họ hay không, mà là điều đó sẽ xảy ra vào tháng tới hay năm tới. Các nhà lãnh đạo Iran nhiều khả năng coi những cuộc tấn công tiếp theo nhằm loại bỏ giới lãnh đạo sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ là một mối đe dọa đáng tin cậy, xét đến những thông tin cho rằng Nhà Trắng đang cân nhắc tiến hành thêm các cuộc tấn công. Thực tế, việc Mojtaba Khamenei biến mất khỏi tầm mắt công chúng có lẽ xuất phát từ nỗi lo của chế độ rằng ông sẽ trở thành mục tiêu của một cuộc tấn công có chủ đích khác nếu Mỹ và Israel xác định được vị trí của ông.
Năm 2019, Iran đã chấp nhận một lối thoát ngoại giao khỏi cuộc xung đột bùng phát sau khi Mỹ sát hại Qassem Soleimani, chỉ huy Lực lượng Qods thuộc Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC). Ali Khamenei lo ngại rằng một cuộc chiến tranh toàn diện sẽ đe dọa sự tồn vong của chế độ, nên đã khuyến khích chính sách “kiên nhẫn chiến lược”. Mùa hè năm ngoái, Iran một lần nữa chấp nhận ngừng bắn để kết thúc “cuộc chiến 12 ngày”, sau khi Israel và Mỹ tấn công các cơ sở quân sự và hạt nhân của Iran. Ali Khamenei khi ấy cũng lo ngại nguy cơ leo thang và đồng ý với một thỏa thuận ngừng bắn khác. Rất có thể những nhân vật cứng rắn tại Iran kể từ đó đã âm thầm đi đến kết luận rằng quyết định lựa chọn con đường an toàn của Ali Khamenei cuối cùng lại khiến ông phải trả giá bằng chính mạng sống.
Mặc dù tâm lý coi mình đang cầm chắc cái chết đã làm suy yếu khả năng răn đe của Mỹ và Israel, các nhà lãnh đạo Iran không phải những người muốn tự sát và vẫn mong tìm được cách bảo đảm tương lai đất nước trong khi giữ được mạng sống. Tuy nhiên, cũng như những người có niềm tin sâu sắc vào hệ tư tưởng và bản sắc dân tộc trên khắp thế giới, họ sẵn sàng hy sinh để bảo vệ chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran nếu cần thiết. Và tương tự như giới lãnh đạo nhiều quốc gia khác, họ sẽ tìm cách gây ra tổn thất lớn nhất có thể cho kẻ thù trước khi bị tiêu diệt.
Giới lãnh đạo Iran có lẽ cũng nhìn nhận việc họ vẫn tồn tại sau chiến dịch oanh kích quy mô lớn của Mỹ và Israel là bằng chứng cho thấy những giới hạn của sức mạnh không quân nếu chỉ dựa vào phương tiện này. Tehran đã quen với những lời đe dọa leo thang mạnh mẽ của Trump. Nhưng vòng quyền lực thân cận của Iran có lẽ đang tự hỏi: Trump còn có thể làm gì mà Iran chưa từng phải chịu đựng? Liệu ông ta có thể ám sát Lãnh tụ Tối cao thêm lần nữa? Hay tiếp tục biến những cơ sở hạt nhân của Iran thành những đống đổ nát lớn hơn? Ông ta đã làm tất cả những điều đó, và vẫn đang tiến hành các cuộc không kích định kỳ nhằm vào quân đội Iran theo chiến thuật “cắt cỏ”, tức liên tục đánh phá để ngăn đối phương phục hồi năng lực. Một lằn ranh đỏ mà Trump từng đe dọa vượt qua nhưng phần lớn vẫn kiềm chế là ném bom cơ sở hạ tầng dân sự Iran, chẳng hạn như hệ thống cấp nước và điện. Iran đã cảnh báo rằng họ sẽ đáp trả bằng cách gây ra những thiệt hại tương tự đối với cơ sở hạ tầng dân sự của các quốc gia Ả Rập vùng Vịnh, vốn dễ bị gián đoạn hoạt động hơn. Đây là lý do các nước vùng Vịnh âm thầm kêu gọi Trump tránh leo thang theo hướng đó. Iran cũng nhận thức rõ rằng Mỹ vẫn có thể đưa bộ binh vào lãnh thổ nước này và cưỡng ép thay đổi chế độ, như từng làm với Iraq dưới thời Saddam Hussein. Tuy nhiên, chế độ Iran hiểu rằng Nhà Trắng rất khó thực hiện một bước đi bị phản đối mạnh mẽ như vậy, đặc biệt khi Tehran tin rằng nhiều người trong số 90 triệu công dân Iran sẽ góp phần biến lãnh thổ nước này thành một vũng lầy quân sự khác đối với Mỹ.
MỐI ĐE DỌA TỪ ISRAEL LÀ THƯỜNG TRỰC, CÒN MỸ ĐE DỌA SỰ TỒN VONG CỦA CHẾ ĐỘ
Giới lãnh đạo Iran nhận thức rằng Mỹ có sức mạnh quân sự đủ để chấm dứt sự tồn tại của chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran, dù Tehran vẫn hoài nghi liệu Trump có sẵn sàng trả cái giá rất lớn cần thiết để làm điều đó hay không. Tuy nhiên, Tehran có lẽ tính toán rằng quân đội Israel, tuy tinh nhuệ nhưng có quy mô tương đối nhỏ, không đủ sức tự mình lật đổ chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran chỉ bằng năng lực tác chiến thông thường. Đây có lẽ cũng là lý do mà, theo cách đánh giá của Tehran, giới lãnh đạo Israel đã dành nhiều công sức thuyết phục Mỹ tham gia các cuộc tấn công nhằm vào Iran để hoàn thành điều mà Israel không thể tự mình thực hiện. Các nhà lãnh đạo Iran gần như chắc chắn đã nhận thấy khoảng cách giữa mục tiêu của Mỹ và Israel ngày càng mở rộng khi chiến tranh kéo dài, trong đó Israel bất mãn vì Washington dường như không quyết tâm thay đổi chế độ tại Iran như họ mong muốn. Tehran dự đoán những cuộc đối đầu đẫm máu với Israel trên khắp khu vực sẽ tiếp diễn, đồng thời hiểu rõ khả năng gây sát thương của Israel lớn đến mức nào. Tuy nhiên, sự chú ý của Iran vẫn tập trung vào mối đe dọa đặc biệt đối với sự tồn vong của chế độ đến từ vai trò của Mỹ trong cuộc chiến.
HÀNH ĐỘNG THỰC TẾ, KHÔNG PHẢI NHỮNG LỜI HỨA SUÔNG
Mỹ đã nhiều lần gửi tín hiệu ngoại giao tới giới lãnh đạo Iran thông qua những kênh liên lạc linh hoạt khác nhau nhằm tìm cách kết thúc xung đột. Tuy nhiên, việc Tehran liên tục bác bỏ những đề nghị ấy cho thấy họ coi phần lớn các đề xuất ngoại giao của Washington như những chén thuốc độc. Nhiều nhà lãnh đạo Iran cảnh giác với thực tế rằng trong hai năm qua, Mỹ và Israel đã hai lần bất ngờ tấn công Iran đúng lúc các nhà ngoại giao Tehran đang đàm phán với Washington. Diễn biến lặp lại ấy có lẽ càng củng cố niềm tin đầy hoài nghi của phe cứng rắn rằng Nhà Trắng thường sử dụng đàm phán như một chiến thuật quân sự, hoặc để đánh lạc hướng và khiến hệ thống phòng thủ Iran mất cảnh giác, hoặc để tạo khoảng nghỉ cho quân đội Mỹ hồi sức và tăng viện trước khi quay lại hoàn tất mục tiêu. Vào tháng Sáu, Tehran gần như chắc chắn đã sẵn sàng thử nghiệm bản ghi nhớ có hiệu lực ngắn ngủi bởi trình tự thực hiện thỏa thuận được thiết kế để kiểm chứng liệu Washington có thực sự sẵn sàng chấp nhận những thực tế mới trên thực địa hay không. Từ góc nhìn của Iran, thỏa thuận này không chỉ đơn thuần là lối thoát nhằm hạ nhiệt căng thẳng, mà còn công nhận quyền kiểm soát của Iran đối với eo biển Hormuz, được quản lý chung với Oman, như một bảo đảm an ninh trước các cuộc tấn công tương lai của Mỹ. Thỏa thuận cũng mang lại những nhượng bộ đáng kể về trừng phạt mà không yêu cầu Iran phải đưa ra bất kỳ nhượng bộ cụ thể nào đối với chương trình hạt nhân. Phía Iran cáo buộc Mỹ ngay lập tức tìm cách né tránh những nghĩa vụ đã cam kết, bao gồm phá hoại quyền kiểm soát của Tehran đối với eo biển. Iran coi đây là thêm một bằng chứng về sự tráo trở của Washington.
KHÔNG VỘI CHẤM DỨT THẾ ĐỐI ĐẦU TẠI EO BIỂN HORMUZ
Theo các nguồn tin, Trump đã bất ngờ khi Iran đóng cửa eo biển Hormuz. Điều trớ trêu là trước đây, Iran không đóng cửa eo biển này vì lo sợ sẽ phải hứng chịu đòn trả đũa quân sự của Mỹ. Nhưng một khi Iran đã phải chịu chính cuộc tấn công mà mình từng lo ngại, những tính toán ấy hoàn toàn đảo ngược. Nếu Tehran chủ động tìm cách đóng cửa eo biển từ trước, Washington đã có thể tập hợp một liên minh toàn cầu để chống lại hành động gây hấn của Iran. Tuy nhiên, do Mỹ khởi xướng vòng xung đột này mà không tham vấn các đồng minh, các quốc gia châu Âu và châu Á sẽ không tham gia liên minh do Mỹ dẫn dắt để giúp Washington thoát khỏi tình thế khó khăn về chiến lược. Cuộc tấn công của Mỹ và Israel đã mở ra cơ hội để Iran cuối cùng sử dụng eo biển Hormuz như một công cụ gây sức ép nhờ lợi thế địa lý. “Tehran mới” đang quyết tâm buộc Washington phải nếm trải chính thứ vũ khí mà Mỹ từng sử dụng: nỗi đau kinh tế.
Kể từ tháng Tám, quân đội Mỹ đã đạt được những thành quả đáng kể khi từng bước khôi phục các tuyến hàng hải thông suốt qua eo biển bằng cách hộ tống tàu chở dầu, rà phá thủy lôi, phá hủy những trận địa phóng tên lửa gần nhất của Iran và vô hiệu hóa các hệ thống radar của nước này. Nhờ đó, hoạt động vận tải biển trong một thời gian ngắn vào cuối tháng Chín đã gần trở lại mức trước chiến tranh. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Iran gần như chắc chắn coi việc mở cửa trở lại một phần eo biển chỉ là diễn biến mang tính chiến thuật, hoàn toàn có thể đảo ngược nếu Tehran kiên trì và gia tăng mức độ leo thang. Đầu tháng Mười, các cuộc tấn công của Iran nhằm vào tàu chở dầu đã đạt mức cao nhất kể từ khi chiến tranh bùng nổ, khiến lưu lượng tàu qua eo biển sụt giảm trong khi chi phí vận hành của mỗi tàu tiếp tục tăng vọt. Giới lãnh đạo Iran gần như chắc chắn đang đặt cược rằng quân đội Mỹ không thể duy trì mãi những nỗ lực căng thẳng đến cực hạn nhằm bảo đảm hoạt động vận chuyển dầu dưới sự hộ tống quân sự. Tehran hẳn đã đọc được những báo cáo cho thấy các chỉ huy quân sự Mỹ tại những khu vực khác trên thế giới đang phàn nàn về sức ép nguồn lực không thể duy trì lâu dài, ngay cả khi Washington chỉ muốn giữ cho eo biển được mở cửa một phần như hiện nay. Lượng nguồn lực khổng lồ cần thiết để duy trì nhịp độ hoạt động quân sự này trong dài hạn sẽ gây ra những hệ quả dây chuyền đáng kể đối với khả năng sẵn sàng chiến đấu của Mỹ trên toàn cầu. Phe cứng rắn tại Iran có lẽ đang nóng lòng buộc Washington phải học lại bài học cay đắng từ những cuộc chiến không hồi kết của chính mình: địa lý là điều không thể thay đổi, và quân đội Mỹ, dù hùng mạnh nhất thế giới, cũng không thể trụ lại lâu hơn những người dân sinh sống trên chính vùng đất ấy.
COI VIỆC MỸ RÚT QUÂN LÀ CƠ HỘI TÁI ĐỊNH HÌNH KHU VỰC
Giới lãnh đạo Iran tin rằng Mỹ hiện đang rút bỏ các căn cứ quân sự trên khắp khu vực, trong đó có nhiều căn cứ đã bị Iran gây thiệt hại. Sau nhiều thập kỷ quân đội Mỹ hiện diện tại gần như mọi quốc gia Trung Đông, phe cứng rắn Iran gần như chắc chắn hy vọng điều đó đồng nghĩa với việc làn sóng “chủ nghĩa đế quốc Mỹ” đang thoái lui. Họ hẳn đã theo dõi những báo cáo cho thấy Mỹ đang dần cạn kiệt tên lửa và đạn đánh chặn để tiếp tục cuộc chiến, đồng thời hy vọng tình trạng thiếu hụt này sẽ làm lung lay uy tín quân sự của Washington trên toàn thế giới. “Tehran mới” giờ đây có thể hình dung một trật tự khu vực mới không còn Mỹ giữ vai trò chi phối đang dần trở thành hiện thực.
Trong khi đó, Iran coi các chế độ quân chủ Ả Rập ở vùng Vịnh là đồng lõa trong nỗ lực của Mỹ nhằm tiêu diệt chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran. Bom của Mỹ đã tấn công Iran từ lãnh thổ các quốc gia Ả Rập vùng Vịnh, và những nhân vật cứng rắn tại Tehran chứng kiến quân nhân Mỹ ăn ở ngay tại các nước láng giềng này trong lúc những đòn không kích của Washington sát hại trẻ em Iran. Tehran cũng theo dõi việc các nhà lãnh đạo vùng Vịnh, những người vận động thúc đẩy thay đổi chế độ tại Iran, tìm cách lấy lòng Trump và gia đình ông thông qua những thỏa thuận tài chính đặc biệt ưu đãi. Giờ đây, Tehran muốn các thủ đô vùng Vịnh nhìn nhận khí tài và lực lượng quân sự Mỹ hiện diện trên lãnh thổ của họ là một gánh nặng an ninh thay vì sự bảo vệ. Thực tế, Iran có lẽ tin rằng giới lãnh đạo vùng Vịnh đã quá mệt mỏi với cuộc xung đột kéo dài đến mức họ sẽ ngày càng chủ động tiếp xúc với Tehran để tìm kiếm một thỏa thuận hòa bình riêng rẽ.
TIN RẰNG CÓ THỂ KIÊN TRÌ LÂU HƠN QUYẾT TÂM CỦA MỸ
Các nhà lãnh đạo Mỹ đã nhiều lần tuyên bố chiến dịch gây sức ép mang tên “D-Day kinh tế” sẽ sớm khiến nền kinh tế Iran sụp đổ, từ đó kéo theo sự sụp đổ của chế độ. Kể từ khi Washington chuyển trọng tâm từ các cuộc tấn công quân sự trực tiếp sang gây sức ép kinh tế vài tháng trước, Iran đã chuẩn bị cho một cuộc đọ sức ý chí dai dẳng để xác định bên nào có khả năng chịu đựng tổn thất lớn hơn. “Tehran mới” không hề ảo tưởng: sức ép kinh tế của Mỹ vẫn đang gây ra những đau đớn nghiêm trọng. Giới lãnh đạo Iran thừa nhận người dân đang phải chịu khổ sở nặng nề vì tình trạng thiếu hụt hàng hóa và đồng nội tệ ngày càng mất giá. Tuy nhiên, họ thường xuyên viện dẫn việc gần nửa triệu người Iran thiệt mạng trong cuộc chiến đẫm máu với Iraq vào thập niên 1980, khi lương thực phải được phân phối theo định mức, như bằng chứng về sức chịu đựng kiên cường của dân tộc. Tính toán lạnh lùng của “Tehran mới” là: sau nhiều thập kỷ chịu đựng khó khăn kinh tế, thêm vài tháng thiếu thốn nữa thì có đáng kể gì? Iran đã xây dựng được những công cụ phục vụ một nền kinh tế sinh tồn, điều mà các cố vấn Nhà Trắng cũng âm thầm thừa nhận có thể giúp Tehran kéo dài khả năng chống chịu cuộc bao vây kinh tế thêm nhiều năm. Iran cũng nhiều lần chứng minh khả năng tìm ra những phương thức mới để giảm bớt sức ép kinh tế mà Washington không ngừng gia tăng.
Trong bối cảnh lệnh phong tỏa của Mỹ cùng các biện pháp trừng phạt mới khiến phần lớn hoạt động hàng không Iran phải ngừng lại, Tehran còn tìm kiếm những tuyến vận tải đường bộ qua Trung Á để tránh sự bao vây của Washington. “Tehran mới” gần như chắc chắn đang trông cậy vào Nga và Trung Quốc như những nguồn hỗ trợ sống còn về quân sự và tài chính. Iran hiểu rằng Moscow và Bắc Kinh coi Tehran là một nhân tố gây trở ngại địa chính trị cho Washington. Giới lãnh đạo Iran cũng sẵn sàng tham gia vào những tầm nhìn của Nga và Trung Quốc về việc xây dựng một trật tự thế giới chống Mỹ, trong đó việc khiến Washington phải chịu thất bại và mất thể diện tại Trung Đông sẽ là một lợi ích bổ sung đáng hoan nghênh đối với cả Moscow lẫn Bắc Kinh. Kể từ khi chiến tranh bùng nổ, Nga và Trung Quốc được cho là đã cung cấp cho Iran linh kiện tên lửa và máy bay không người lái, bổ sung đạn dược, thậm chí có thể cả thông tin tình báo giúp xác định vị trí các mục tiêu quân sự của Mỹ. Tất cả những hỗ trợ này góp phần duy trì năng lực chiến đấu của Iran. Tehran có lẽ cũng tin rằng Bắc Kinh sẽ cho phép họ sử dụng các khoản tiền gửi tích lũy tại ngân hàng Trung Quốc qua nhiều năm buôn bán dầu mỏ để mua những hàng hóa thiết yếu từ nước này, ngay cả khi hoạt động thương mại chậm lại do doanh thu dầu mỏ sụt giảm dưới tác động của lệnh phong tỏa.
Chế độ Iran còn nhận ra rằng khó khăn kinh tế và bất ổn chính trị không có mối quan hệ tỷ lệ thuận đơn giản như nhiều người trong các nền dân chủ phương Tây thường mặc định. Tương tự Triều Tiên và Venezuela, một xã hội đã đánh mất hy vọng về tương lai kinh tế thường ít có xu hướng nổi dậy hơn những xã hội mà kỳ vọng về sự cải thiện kinh tế đang gia tăng. Điều đó cho thấy khó có khả năng tồn tại một ngưỡng kỳ diệu mà tại đó những bất mãn kinh tế tự động tích tụ thành một cuộc cách mạng. Các nhà lãnh đạo Iran cũng là những người tàn nhẫn, từng chứng minh sẵn sàng sát hại chính dân thường nước mình để dập tắt bất ổn. Hơn nữa, Iran vẫn giữ được khả năng gây thêm thiệt hại cho cơ sở hạ tầng kinh tế vùng Vịnh nếu lệnh phong tỏa của Mỹ thực sự bóp nghẹt năng lực duy trì sự tồn tại của nước này.
“Tehran mới” hoài nghi khả năng nền kinh tế Mỹ có thể chịu đựng một cuộc đối đầu kéo dài hơn nữa. Giới lãnh đạo Iran cáo buộc Nhà Trắng thao túng thị trường năng lượng nhằm giữ giá dầu ở mức thấp giả tạo, nhưng Tehran vẫn tin rằng Mỹ không thể mãi đi ngược các quy luật cung cầu. Iran cũng nhận thức được rằng việc eo biển Hormuz bị đóng cửa một phần đã gây tổn hại nghiêm trọng đến hoạt động xuất khẩu nhiều mặt hàng quan trọng khác ngoài dầu thô, như khí tự nhiên hóa lỏng, phân bón và đặc biệt là dầu diesel, qua đó gây ra tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Việc Houthi mở rộng quyền kiểm soát khu vực duyên hải dọc eo biển Bab al-Mandeb cùng những thiệt hại liên tiếp đối với đường ống dẫn dầu Đông – Tây của Ả Rập Saudi càng làm gia tăng sức ép lên giá năng lượng thế giới. “Tehran mới” tính toán rằng khi mọi biện pháp kìm giữ không còn phát huy tác dụng, giá dầu sẽ tăng lên những mức gây đau đớn nghiêm trọng và làm suy sụp quyết tâm của Washington. Giới lãnh đạo Iran đắc ý tuyên bố rằng họ từng chấm dứt sự nghiệp chính trị của một tổng thống Mỹ vào năm 1980, và gần như chắc chắn đang hy vọng tạo ra một cú sốc bầu cử tương tự trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ sắp tới tại Mỹ.
CHỈ CÓ SỨC MẠNH MỚI BẢO ĐẢM SỰ TỒN VONG
Đòn bẩy của Iran để đạt được một thỏa thuận có lợi đã lúc tăng lúc giảm trong bảy tháng qua, nhưng những lằn ranh đỏ của Tehran đối với một thỏa thuận vẫn kiên quyết không thay đổi. Điều này cho thấy những tính toán của họ không chỉ đơn thuần dựa trên logic “đạt được thỏa thuận tốt nhất có thể”. Một số nhà quan sát có thể cho rằng tư duy thận trọng “lùi một bước để tiếp tục chiến đấu trong tương lai” của Ali Khamenei vẫn còn giá trị, và Tehran cuối cùng sẽ chấp nhận thỏa thuận tốt nhất có thể khi đòn bẩy thương lượng suy yếu. Tuy nhiên, đòn bẩy chủ yếu của Iran, việc đóng cửa eo biển Hormuz, đã suy giảm suốt hai tháng, trong khi lập trường đàm phán của Tehran vẫn không mềm mỏng hơn. Ngưỡng điều kiện để Iran chấp nhận một thỏa thuận dường như đã được xác định rõ ràng và không thay đổi. Chừng nào Washington còn không sẵn sàng đưa ra những nhượng bộ có giá trị lâu dài, “Tehran mới” vẫn sẽ chấp nhận chịu đựng một cuộc xung đột kéo dài và đau đớn, bởi họ đang chiến đấu vì sự tồn vong của chính mình. Đối với “Tehran mới”, không một thỏa thuận nào, dù có lợi đến đâu về mặt chiến thuật so với vị thế đàm phán tương đối của Iran, có thể được chấp nhận nếu không mang lại những lợi ích thực chất như đã được thể hiện trong bản ghi nhớ trước đây. Chế độ Iran có lẽ sẵn sàng đẩy đất nước đến bờ vực sụp đổ nhằm phá vỡ sự kiểm soát của Mỹ đối với khu vực và buộc Nhà Trắng phải từ bỏ tham vọng cứng rắn nhằm chấm dứt sự tồn tại của Cộng hòa Hồi giáo Iran.
Và nếu Mỹ kết thúc cuộc xung đột trong khi chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran vẫn tồn tại, các nhà lãnh đạo cứng rắn mới tại Tehran sẽ quyết tâm khôi phục sức mạnh quốc gia để chế độ không bao giờ phải rơi vào tình trạng yếu thế đến mức dễ bị tấn công như vậy lần nữa. Iran sẽ không chỉ dựa vào khả năng kiểm soát các tuyến đường thủy trong khu vực. Nước này sẽ mở rộng quy mô, tăng cường khả năng chống chịu và nâng cao trình độ công nghệ của chương trình tên lửa và drone nhằm thiết lập thêm nhiều tầng răn đe mới, dù có lẽ phải mất nhiều năm Iran mới có thể khôi phục hoàn toàn kho vũ khí. Tehran cũng sẽ tái xây dựng mạng lưới các lực lượng ủy nhiệm trong khu vực vốn đã bị Israel làm suy yếu trong những năm gần đây.
Tehran nhiều khả năng cũng sẽ xem xét lại việc theo đuổi vũ khí hạt nhân. Những tiếng nói cứng rắn đang lên trong chế độ có lẽ sẽ lập luận rằng sự thận trọng và những giới hạn về đạo đức mà Ali Khamenei áp đặt đối với chương trình hạt nhân quốc gia chỉ khiến các đối thủ của Iran thêm táo bạo. Chính Trump từng nửa đùa nửa thật thừa nhận rằng ông sẽ thân thiện hơn với Lãnh tụ Tối cao nếu Iran sở hữu vũ khí hạt nhân. Thực tế, giới lãnh đạo Iran nhận thấy sự tương phản rõ rệt giữa cách Trump tìm cách lấy lòng nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un, người đứng đầu một quốc gia có vũ khí hạt nhân, và việc ông tiến hành oanh kích Iran. “Tehran mới” rất có thể sẽ sớm đi đến kết luận rằng đã đến lúc Iran trở thành quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân mà các đối thủ của nước này từ lâu vẫn hết sức lo sợ.
AI SẼ LÀ BÊN NHƯỢNG BỘ TRƯỚC?
Mặc dù quân đội Mỹ đã thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả, những mục tiêu chiến lược đặt ra cho cuộc chiến lại dựa trên các tính toán sai lầm về khả năng kháng cự và sự thay đổi trong tư duy của Tehran. Việc đánh giá sai về Iran đã đẩy Nhà Trắng vào thế bế tắc: Washington không muốn chấp nhận một thỏa thuận gây mất thể diện, nhưng cũng không sẵn sàng trả cái giá khổng lồ về quân sự, chính trị và kinh tế cần thiết để lật đổ chế độ. Trong khi giới lãnh đạo Mỹ hy vọng kế hoạch trung dung dựa trên sức ép kinh tế kéo dài sẽ gặp may và cuối cùng buộc Iran khuất phục, thị trường năng lượng đang ngày càng thắt chặt, nguồn lực quân sự Mỹ dần suy giảm, các nước trong khu vực bắt đầu nghi ngờ vai trò lãnh đạo của Washington, còn những đồng minh chính trị của Nhà Trắng cũng lần lượt quay sang phản đối cuộc xung đột.
Nếu Iran tiếp tục đi ngược lại dự đoán của Trump rằng chế độ sẽ giảm bớt các yêu sách sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, Nhà Trắng có thể cuối cùng phải điều chỉnh cách tiếp cận để thích ứng với một “Tehran mới”. Khi đó, Mỹ sẽ phải đối mặt với lựa chọn leo thang xung đột hoặc chấp nhận hạn chế tổn thất và, ít nhất trong thời điểm hiện tại, nuốt trôi một giải pháp ngoại giao không như mong muốn.
Iran vốn nổi tiếng là quốc gia thường xuyên hành động trái với dự đoán của ngay cả những chuyên gia dày dạn kinh nghiệm nhất về nước này. Vì vậy, cần xem xét câu hỏi: Những dấu hiệu nào có thể cho thấy, bên dưới đống đổ nát, bản năng của “Tehran cũ” đang trỗi dậy trở lại và Washington sẽ không phải đối mặt với lựa chọn khó khăn nói trên? “Tehran mới” tràn đầy phẫn nộ và những lời tuyên bố cứng rắn, nhưng điều đó không có nghĩa là thế giới quan của họ phản ánh chính xác thực tế trên chiến trường. Dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy giới lãnh đạo Iran đang quay trở lại lối hành xử trước đây sẽ là việc Tehran chấp nhận một thỏa thuận ngừng bắn đơn giản dựa trên nguyên tắc hai bên cùng dỡ bỏ phong tỏa, qua đó chấm dứt tình trạng phong tỏa hai chiều tại eo biển Hormuz và khôi phục các vùng biển trong khu vực về trạng thái trước chiến tranh. Những biến thể của một thỏa thuận nhượng bộ ít đổi lấy nhượng bộ ít hơn, không đạt đến mức của thỏa thuận trước đây và không bao gồm các nhượng bộ then chốt, có giá trị lâu dài từ Mỹ, cũng sẽ cho thấy thái độ phản kháng của Iran trong giai đoạn đầu chiến tranh chỉ là cơn phẫn nộ nhất thời chứ không phải một học thuyết cứng rắn mới. Iran có lẽ chỉ chấp nhận một thỏa thuận ngừng bắn giới hạn như vậy nếu lo sợ nguy cơ sụp đổ từ bên trong. Việc Tehran chấp nhận thỏa thuận đó sẽ cho thấy phe chủ chiến tại Mỹ và Israel đã đúng khi tin rằng lệnh phong tỏa của Washington cuối cùng sẽ bào mòn nền kinh tế Iran và khiến chế độ cạn kiệt nguồn lực để duy trì quyền kiểm soát.
Một khả năng khác là sự phẫn nộ của Iran cùng tình trạng hỗn loạn trong vòng quyền lực thân cận ngày càng cứng rắn có thể khiến Tehran không thể hoàn tất một thỏa thuận, ngay cả khi thỏa thuận đó có lợi cho chế độ. Một số nhà lãnh đạo quân sự Iran phản đối mọi hình thức thỏa hiệp với Mỹ và cho rằng nước này phải tiếp tục chiến đấu cho đến khi Washington bị đẩy khỏi khu vực. Có những báo cáo cho rằng các nhân vật cứng rắn như vậy đã góp phần khiến bản ghi nhớ hồi tháng Sáu đổ vỡ bằng cách tiến hành những cuộc tấn công không được cho phép. Nếu Iran không thể chấp nhận và thực hiện một thỏa thuận trong tương lai có lợi hơn cho mình so với thỏa thuận trước đó, trong khi điều kiện chiến tranh không có thay đổi đáng kể, đó sẽ là dấu hiệu cho thấy bộ máy lãnh đạo Iran thực sự đã rạn vỡ và không còn khả năng đưa ra những quyết định thống nhất.
Mặc dù không có giải pháp dễ dàng cho thế lưỡng nan chiến lược mà Mỹ đang đối mặt, những hành động táo bạo vẫn có thể cho phép Washington tìm kiếm các cơ hội mới giữa cuộc khủng hoảng. “Tehran mới” nuôi dưỡng những tham vọng lớn và thể hiện thái độ đầy thách thức, nhưng trong nội bộ, họ hiểu rằng mình vẫn đang ở thế yếu. Điều này mở ra khả năng tìm kiếm những giải pháp ngoại giao sáng tạo, đồng thời giải quyết nỗi lo của Iran và đáp ứng lợi ích của Mỹ. Dù Tehran có lẽ sẽ không chấp nhận một thỏa thuận mà họ cho là kém thuận lợi hơn bản ghi nhớ hồi tháng Sáu, giới lãnh đạo Iran vẫn có thể sẵn sàng cân nhắc những phương án dàn xếp mới, được thiết kế linh hoạt để bảo đảm với “Tehran mới” rằng họ sẽ không phải tái chiến chỉ sau một năm, đồng thời tạo thêm dư địa để Washington giảm thiểu những điều khoản bất lợi nhất của thỏa thuận trước đó.
Chẳng hạn, một diễn đàn đa phương mới được thành lập, có sự tham gia của các đối tác trong khu vực và có thể cả những bên thứ ba từ châu Âu và châu Á, nhằm giám sát việc thực thi thỏa thuận ngừng bắn, về lâu dài có thể phát triển thành một khuôn khổ an ninh khu vực giúp giảm nguy cơ tính toán sai lầm và cung cấp những bảo đảm an ninh chung nhằm ngăn chặn hành động gây hấn đơn phương. Các động thái từ Quốc hội Mỹ liên quan đến cả quyền tiến hành chiến tranh của tổng thống lẫn việc nới lỏng trừng phạt cũng có thể giúp Iran thêm tin tưởng rằng Washington sẽ không nuốt lời sau khi đạt được thỏa thuận ngừng bắn rồi tiếp tục phát động xung đột. Nếu Mỹ vốn đã có ý định thu hẹp hiện diện quân sự trong khu vực do những điểm yếu bị cuộc chiến phơi bày, kết hợp với những thay đổi trong công nghệ quân sự khiến việc duy trì năng lực tấn công đáng kể không còn đòi hỏi nhiều lực lượng đồn trú tại chỗ như trước, Washington có thể công khai nhượng bộ yêu cầu của Iran về việc giảm quy mô căn cứ quân sự Mỹ trong khu vực. Đây sẽ là dấu hiệu hữu hình cho thấy Mỹ không còn bố trí lực lượng theo hướng chuẩn bị cho một cuộc xung đột mới.
Việc tìm ra một giải pháp dung hòa như vậy sẽ là thách thức chính trị vô cùng khó khăn đối với Nhà Trắng, đặc biệt sau những phản ứng dữ dội từ các đối tác khu vực và phe chủ chiến tại Mỹ đối với bản ghi nhớ hồi tháng Sáu. Bất kỳ cách kết thúc xung đột tương tự nào cũng sẽ gây tổn thất chiến lược đáng kể cho Mỹ và nhiều khả năng khiến Washington rơi vào vị thế chiến lược bất lợi hơn so với trước chiến tranh. Một chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran được phục hồi sẽ tái thiết năng lực quân sự, xây dựng lại mạng lưới lực lượng ủy nhiệm trong khu vực và có thể theo đuổi vũ khí hạt nhân. Không nên ảo tưởng rằng sau một thỏa thuận như vậy, Tehran sẽ bỗng nhiên trở nên hợp tác. Trái lại, những nhà lãnh đạo cứng rắn của Iran sẽ vẫn quyết liệt và nguy hiểm như trước. Tuy nhiên, những rủi ro ấy gần như chắc chắn vẫn sẽ quay trở lại nếu chế độ tiếp tục tồn tại. Đưa ra những quyết định khó khăn như vậy chính là trách nhiệm của tổng thống Mỹ, người có thể phối hợp với các đối tác khu vực để cùng kiểm soát quá trình Iran từng bước phục hồi năng lực quân sự thông qua việc tái thiết hệ thống phòng thủ và khôi phục khả năng răn đe, điều mà các quốc gia trong khu vực từng thực hiện hiệu quả suốt nhiều năm. Thừa nhận rằng cuộc chiến này là một bước đi sai lầm và chấp nhận hạn chế tổn thất sẽ giúp Mỹ tập hợp lại lực lượng và tìm lại vị thế của mình trong khu vực. Đây sẽ là lựa chọn tốt hơn so với việc tiếp tục dấn sâu vào cuộc chiến chống một “Tehran mới” vẫn không ngừng khiến Washington bối rối, trong khi cái giá phải trả ngày càng lớn.
Cole Bucy là cựu phân tích viên của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), từng giữ chức Giám đốc phụ trách Iran tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ trong giai đoạn 2015–2016.
