
Nguồn: Dakota Indian trials conclude, with more than 300 sentenced to hang, History.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1862, tại Minnesota, sau năm tuần diễn ra các phiên tòa quân sự chớp nhoáng theo sau cuộc Chiến tranh Mỹ-Dakota năm 1862, hơn 300 người Santee Sioux (người Đông Dakota) đã bị kết án vì vai trò của họ trong cuộc xung đột và lĩnh án treo cổ. Một tháng sau, sau khi xem xét lại các vụ án, Tổng thống Abraham Lincoln đã ân giảm án tử hình cho tất cả, trừ 39 người. Một trong những người bản địa đó đã được ân xá vào phút chót, nhưng 38 người còn lại đã bị treo cổ cùng lúc vào ngày 26/12 trong một cuộc hành quyết tập thể với sự chứng kiến của hơn 3.000 người.
Nhóm người Dakota này bị kết tội vì tham gia vào cái gọi là “Cuộc nổi dậy Minnesota,” một phần của các cuộc chiến với người Mỹ bản địa rộng lớn hơn diễn ra khắp miền Tây trong nửa sau thế kỷ 19. Suốt gần nửa thế kỷ, những người định cư gốc Anh đã tiến vào lãnh thổ của người Dakota ở Thung lũng Minnesota, và áp lực từ chính phủ đã dần dần buộc những người bản địa phải di dời đến các khu vực dành riêng nhỏ hơn dọc theo Sông Minnesota.
Tại khu dành riêng của mình, nhiều người Dakota phải đối mặt với muôn vàn khó khăn do các hiệp ước bị vi phạm, các khoản tiền trợ cấp hàng năm bị chậm trễ, cùng với nạn tham nhũng trong hàng ngũ đặc vụ liên bang và giới thầu khoán đã đẩy các gia đình bản địa đến bờ vực chết đói. Khi các thương nhân từ chối bán chịu lương thực, căng thẳng đã lên đến đỉnh điểm.
Vào ngày 17/08/1862, sau khi bốn thợ săn Dakota giết chết năm người định cư trong một cuộc xô xát vì những quả trứng bị lấy trộm, một số nhà lãnh đạo Dakota đã kết luận rằng chiến tranh với nước Mỹ đã trở nên không thể tránh khỏi. Chiến sự nhanh chóng lan rộng khắp vùng tây nam Minnesota khi các chiến binh Dakota tấn công những khu định cư, tiền đồn quân sự, và các trạm giao thương, đồng thời bắt một số người định cư làm con tin. Bạo lực diễn ra theo nhiều cách khác nhau: trong khi một số người Dakota tha mạng hoặc bảo vệ những người định cư mà họ quen biết, những người khác lại tiến hành các cuộc tấn công chết chóc, và các thủ lĩnh bộ lạc đã chật vật để duy trì quyền kiểm soát khi cuộc xung đột leo thang.
Các phiên tòa sau đó – gần như không màng đến hoàn cảnh dẫn tới xung đột, hay những hành động khác nhau của từng cá nhân trong suốt cuộc chiến – phần lớn chỉ nhằm thỏa mãn đòi hỏi trả thù của những người định cư. Được tiến hành bởi một ủy ban quân sự, quá trình xét xử diễn ra vô cùng chóng vánh (một số phiên tòa chỉ mất vài phút), các bị cáo không có người đại diện pháp lý và nhiều người không hiểu ngôn ngữ hay các thủ tục xét xử. Theo Carol Chomsky, Giáo sư tại Trường Luật Đại học Minnesota: “Bằng chứng rất ít, tòa án thì thiên vị, các bị cáo không có người đại diện trong các thủ tục pháp lý xa lạ được tiến hành bằng tiếng nước ngoài, và ủy ban này cũng thiếu thẩm quyền để triệu tập phiên tòa.”
Lincoln đã ân giảm phần lớn các bản án tử hình sau khi đích thân xem xét lại hồ sơ xét xử, với nhận định rằng việc hành quyết chỉ nên dành cho những kẻ mà ông tin là đã tham gia vào các vụ thảm sát dân thường.
