Đàm phán với Mỹ là lựa chọn duy nhất của Cuba?

Nguồn:  Michael J. Bustamante và Ricardo Herrero, “Cuba’s Only Choice”, Foreign Affairs, 29/05/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Kể từ khi các đặc nhiệm Mỹ lật đổ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro vào tháng 1, Washington đã đổ dồn áp lực chưa từng có lên Cuba, cựu đồng minh đang lâm vào thế bế tắc của Caracas. Nền kinh tế của hòn đảo vốn đã rơi vào vòng xoáy suy thoái do các lệnh trừng phạt “áp lực tối đa” từ chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu, đại dịch COVID-19, và sự chậm trễ của Havana trong việc áp dụng các cải cách kinh tế sâu rộng hơn. Thế nhưng, việc Cuba mất đi nguồn dầu giá rẻ từ Venezuela mới là đòn chí mạng. Lệnh phong tỏa dầu mỏ trên thực tế mà Tổng thống Mỹ Donald Trump áp đặt lên hòn đảo này trong 5 tháng qua — khi Nhà Trắng chỉ cho phép duy nhất một tàu chở dầu của Nga đi qua — đã đẩy đất nước đến bờ vực nguy hiểm: tình trạng mất điện giờ đây diễn ra hàng ngày và không thể dự đoán, các dịch vụ cơ bản bị đình trệ, và người dân ngày càng tuyệt vọng.

Dẫu vậy, trong các cuộc tiếp xúc không mấy ồn ào với các đặc phái viên Cuba suốt mùa xuân qua — bao gồm cả một người cháu trai của cựu Tổng thống Raúl Castro — Nhà Trắng đã cố gắng thuyết phục quốc gia độc đảng này đồng ý mở cửa về kinh tế và an ninh, thay vì đòi hỏi một sự thay đổi chính trị tận gốc. Havana đã không chấp nhận đề nghị của Washington; thay vào đó, họ chủ yếu phô diễn sự tự tin và tìm cách câu giờ — đặc biệt là kể từ khi các hành động thù địch của Mỹ bùng nổ ở Iran, điều mà họ hy vọng sẽ thu hút sự chú ý của chính quyền Trump và làm suy giảm ý chí leo thang căng thẳng ở các khu vực gần nhà hơn.

Thế nhưng thời gian đang cạn dần. Sốt ruột trước sự cứng rắn của Havana, chính quyền Trump đã đe dọa áp đặt các lệnh trừng phạt thứ cấp mới và khốc liệt hơn lên các công ty nước ngoài làm ăn trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Cuba. Trong một chuyến thăm bất ngờ tới Havana vào giữa tháng 5, Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ John Ratcliffe đã đưa ra tối hậu thư cho ban lãnh đạo Cuba, yêu cầu họ cắt đứt các mối quan hệ an ninh với Trung Quốc và Nga. Mỹ cũng đang đặt nền móng cho một chiến dịch “thực thi pháp luật” tiềm tàng — một kịch bản có thể lặp lại vụ bắt giữ Maduro bằng cách truy tố ông Castro tại một tòa án Mỹ.

Tuy nhiên, đây không chỉ là câu chuyện về các lựa chọn của Washington. Trong nhiều thập kỷ, chính phủ Cuba luôn ưu tiên kiểm soát nội bộ và tìm kiếm các thế lực bảo trợ bên ngoài hơn là tiến hành chuyển đổi chính trị và kinh tế. Họ từ lâu đã định khung việc đàm phán với Washington dưới sức ép là không thể dung hòa với chủ quyền quốc gia — và không ai có thể phủ nhận rằng quy mô cưỡng bức kinh tế hiện tại của Mỹ đối với Cuba là một cú sốc lớn về mặt đạo đức. Nhưng trước sự khó đoán của chính quyền Mỹ hiện tại, trách nhiệm ngăn chặn một thảm họa giờ đây thuộc về Havana. Ban lãnh đạo Cuba càng coi con đường phía trước là câu chuyện về tôn nghiêm cách mạng thay vì sự sinh tồn của quốc gia, thì càng chắc chắn rằng bất cứ kịch bản nào xảy ra tiếp theo cũng sẽ tồi tệ hơn.

Con đường tốt nhất phía trước là một thỏa thuận thương lượng, trong đó Havana đưa ra những nhượng bộ đủ lớn để ông Trump có thể tuyên bố đó là một chiến thắng — và bằng cách đó, ngăn chặn một cuộc sụp đổ nhân đạo và đưa Cuba vào lộ trình phục hồi. Bất cứ kết quả nào thấp hơn điều đó đều làm tăng nguy cơ trầm trọng hóa tình trạng bất ổn xã hội và dẫn tới một cuộc can thiệp quân sự của Mỹ nhằm ổn định một nền kinh tế đang tan vỡ chỉ cách Florida 90 dặm — một kết cục mà cả hai chính phủ đều muốn tránh.

Vượt quá lằn ranh

Ngay từ khoảnh khắc thông tin về việc bắt giữ Maduro nổ ra, chính quyền Trump đã phát đi hai thông điệp trái ngược nhau về các hệ lụy đối với Cuba. Một mặt, một số quan chức Mỹ chia sẻ với tờ The Wall Street Journal rằng họ đang tích cực tìm kiếm một cuộc thay đổi chế độ ở Havana vào cuối năm 2026. Thế nhưng các nhà ngoại giao cũng thảo luận với người Cuba lưu vong ở Miami và Tây Ban Nha về việc tìm kiếm một “Delcy phiên bản Cuba” — ám chỉ phó tổng thống Venezuela dưới thời Maduro, Delcy Rodríguez, người được bổ nhiệm làm lãnh đạo lâm thời sau khi ông bị phế truất. “Cuba không nhất thiết phải thay đổi tất cả cùng một lúc”, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio nhận định vào tháng 2.

Cuba đã đưa ra một vài cử chỉ đáp lại: họ trả tự do cho một số ít tù nhân chính trị, ban hành một sắc lệnh đại xá rộng hơn cho 2.000 tù nhân thông thường, và cam kết cho phép người Mỹ gốc Cuba đầu tư vào nền kinh tế. Tuy nhiên, phần lớn thời gian, một Havana yếu thế và dễ tổn thương chỉ lặp lại những tuyên bố sáo rỗng về sự tôn trọng lẫn nhau và chủ quyền quốc gia. Bản năng né tránh thực tế về quy mô của mối đe dọa càng được củng cố bởi sự can dự của Mỹ vào Iran. Ban lãnh đạo ở Havana lập luận rằng nếu Cuba có thể cầm cự cho đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của Mỹ vào tháng 11, cử tri Mỹ sẽ giáng một đòn từ chối vang dội vào chủ nghĩa quân sự mạo hiểm của tổng thống, và Nhà Trắng sẽ không có nhiều lựa chọn ngoài việc chấp nhận những nhượng bộ khiêm tốn của Havana hoặc đơn giản là chuyển hướng sự chú ý.

Nhưng thay vì phân tâm, Nhà Trắng lại mất kiên nhẫn. Một sắc lệnh hành pháp ngày 1 tháng 5 đã trao cho Bộ Tài chính và Bộ Ngoại giao Mỹ quyền tức thì để áp đặt các lệnh trừng phạt thứ cấp lên các công ty nước ngoài làm ăn với các doanh nghiệp nhà nước Cuba trong các lĩnh vực chiến lược như khai khoáng, năng lượng và tài chính. Mạng lưới trừng phạt phức tạp đối với Cuba — bao gồm cả lệnh cấm vận thương mại áp đặt từ năm 1962 — từ lâu đã ảnh hưởng đến quan hệ của các quốc gia khác với hòn đảo này. Nhưng các nhà đầu tư và nhà điều hành nước ngoài tại Cuba chưa bao giờ bị đe dọa trực diện về việc mất quyền tiếp cận hệ thống tài chính Mỹ. Kết quả là một số công ty đã tạm dừng hoạt động trên hòn đảo.

Tiếp đó là chuyến thăm của Ratcliffe tới Havana, diễn ra chỉ một ngày sau khi bộ trưởng năng lượng Cuba thừa nhận công khai rằng hòn đảo không còn giọt dầu dự trữ nào. (Một điềm báo đáng ngại là phái đoàn CIA bao gồm cả người đứng đầu chiến dịch bắt giữ Maduro.) Động thái tiếp cận bất thường này mang một thông điệp rõ ràng đến các giám đốc tình báo của Cuba: Washington vẫn để ngỏ cánh cửa cho một thỏa thuận, nhưng thời gian đang khép lại, và những tuyên bố của Trump về việc “tiếp quản Cuba” cần được nhìn nhận nghiêm túc. Hãy cải cách kinh tế, trả tự do cho tù nhân chính trị, và — điều quan trọng nhất đối với CIA — cắt đứt các mối quan hệ an ninh với Nga và Trung Quốc, bao gồm cả việc đóng cửa các trạm nghe lén của họ trên lãnh thổ Cuba. Nếu không, Havana sẽ hiểu ra rằng sự tập trung của chính quyền Trump vào quốc gia này không chỉ là một dự án cá nhân mang tính định kiến của vị ngoại trưởng Mỹ gốc Cuba.

Cuối cùng, vào ngày 20 tháng 5, các công tố viên liên bang tại Quận phía Nam Florida đã truy tố Raúl Castro vì đã ra lệnh bắn hạ hai máy bay dân sự của Mỹ do các phi công người Mỹ gốc Cuba điều khiển trên vùng biển quốc tế vào năm 1996, khiến ba công dân Mỹ và một thường trú nhân hợp pháp thiệt mạng. Ý nghĩa biểu tượng ở đây là không thể nhầm lẫn. Đối với những người theo chủ nghĩa dân tộc Cuba, ngày 20 tháng 5 đánh dấu sự ra đời của nền cộng hòa vào năm 1902 — nhưng cũng là khởi đầu của một trật tự hậu độc lập bị kiềm tỏa bởi sự can thiệp của Mỹ. Ngay cả khi bản cáo trạng này chủ yếu nhằm kéo Havana vào bàn đàm phán hoặc làm hài lòng các cử tri người Mỹ gốc Cuba, nó vẫn tạo ra một cái cớ pháp lý cho một hành động quân sự của Mỹ. Các báo cáo truyền thông gần đây về việc Havana tích trữ 300 drone phòng thủ do Nga và Iran cung cấp càng củng cố thêm lập luận của chính quyền Trump rằng Cuba đang cấu thành một mối đe dọa an ninh.

Diện mạo của một thỏa thuận

Cách lý giải thông thường về việc vì sao Havana từ chối đưa ra những nhượng bộ thực chất hơn cho Washington là do các quan chức Cuba bướng bỉnh hoặc bị chai đá về mặt tư tưởng. Nhưng cách giải thích này đã đánh giá thấp tính hợp lý trong vị thế của họ cũng như sự rối loạn trong hệ thống quản trị của hòn đảo. Ban lãnh đạo Cuba không phải là một khối thống nhất. Quyền lực được phân tán qua ít nhất bốn trung tâm chồng chéo: ông Castro cùng phe cánh thân cận vốn vẫn còn tầm ảnh hưởng; tập đoàn kinh tế-quân sự GAESA, vốn kiểm soát khoảng 40% GDP của đất nước (và là nơi gia đình Castro nắm giữ lợi ích trực tiếp); các cơ quan an ninh và tình báo; cùng bộ máy đảng và nhà nước.

GAESA muốn duy trì vị thế thống trị kinh tế của mình — điều sẽ bị đe dọa bởi bất kỳ sự mở cửa thực chất nào cho khu vực tư nhân. Các cơ quan an ninh muốn giữ vững mối quan hệ với Bắc Kinh và Moscow, những mối quan hệ mà bất kỳ sự xích lại gần sâu sắc nào với Washington cũng sẽ buộc họ phải thương lượng lại. Bộ máy đảng lo sợ rằng việc mở cửa chính trị có thực chất sẽ đẩy nhanh thách thức đối với tính chính danh nội bộ của mình, vốn đã nằm trong trạng thái khủng hoảng. Và ông Castro, người đã ở tuổi ngoài chín mươi, coi bất kỳ thỏa thuận nào đòi hỏi sự ra đi của mình là một mối đe dọa sống còn đối với các kế hoạch an dưỡng cuối đời cũng như đối với chính dự án cách mạng mà ông cùng người anh trai Fidel đã dành cả đời để xây dựng.

Việc đàm phán với Washington đe dọa lợi ích của tất cả các nhóm quyền lực này. Không có gì ngạc nhiên khi họ đã cùng nhau phản kháng. Cũng không có gì ngạc nhiên khi không có một nhân vật “Delcy” rõ ràng nào xuất hiện để quay lưng lại với cấp trên và thực hiện theo ý đồ của Mỹ. Điều đáng ngạc nhiên là ban lãnh đạo Cuba lại để những quyền phủ quyết này hoàn toàn chi phối chiến lược đối ngoại của mình. Mỗi tháng bế tắc qua đi lại càng làm cạn kiệt nguồn dự trữ, cơ sở hạ tầng và sự kiên nhẫn của xã hội — những yếu tố mà bất kỳ chính phủ Cuba nào cũng cần để quản lý đất nước. Logic của sự phản kháng là có thể hiểu được, nhưng đó cũng là một hình thức tự sát từ từ.

Trên thực tế, những đường nét của một thỏa thuận mà Havana có thể chấp nhận một cách hợp lý đã lộ diện từ nhiều tháng nay. Vào tháng 3, các quan chức Mỹ đã nói với các đối tác Cuba rằng họ muốn thấy tiến triển trong các lĩnh vực chiến lược. Điều đó có nghĩa là tự do hóa các đạo luật về quyền tự do ngôn luận và lập hội, đồng thời trả tự do cho các tù nhân chính trị nổi tiếng — bao gồm cả những người bị giam giữ kể từ các cuộc biểu tình lan rộng khắp hòn đảo vào tháng 7 năm 2021. Họ cũng đang hối thúc Havana cam kết thực hiện các cải cách thị trường sâu rộng để mở cửa nền kinh tế một cách thực chất cho đầu tư từ khu vực tư nhân — bao gồm cả từ cộng đồng kiều bào Cuba — và giảm đáng kể dấu ấn của tập đoàn GAESA.

Danh sách các ưu tiên này cũng bao gồm một cam kết của Cuba nhằm thu hẹp các mối quan hệ tình báo và an ninh với Nga và Trung Quốc. Và bởi vì thượng tôn pháp luật cùng bảo hộ quyền sở hữu là cốt lõi để khôi phục lòng tin của nhà đầu tư, Washington muốn Havana cam kết hợp tác với Mỹ và các trọng tài quốc tế trung lập để thiết lập một cấu trúc bồi thường công bằng, không mang tính trừng phạt, nhằm giải quyết các khiếu nại đòi quyền sở hữu tài sản tồn đọng có từ các vụ tịch thu doanh nghiệp tư nhân Mỹ của chính phủ Cuba vào năm 1959 và 1960. Những bước đi này không nhất thiết phải diễn ra cùng một lúc. Nhưng nếu được sắp xếp theo từng giai đoạn, chúng có thể thuyết phục Washington rằng cam kết cải cách của Cuba là thực chất. Chúng sẽ đại diện cho những thay đổi nội bộ lớn nhất ở Cuba trong nhiều thập kỷ — điều mà Washington có thể tuyên bố như một thắng lợi.

Đổi lại, và cũng theo trình tự tương tự, Mỹ có thể hủy bỏ các hình phạt hà khắc nhất của mình, đưa Cuba ra khỏi danh sách các quốc gia tài trợ cho khủng bố và gỡ bỏ sắc lệnh hành pháp ngày 1 tháng 5 vốn áp đặt các lệnh trừng phạt thứ cấp. Washington cũng có thể nới lỏng các quy định về đi lại đến hòn đảo; cho phép các công ty Mỹ quay trở lại các lĩnh vực du lịch, khai khoáng, năng lượng, nông nghiệp và các ngành khác; đồng thời cấp phép cho các khoản đầu tư vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ do tư nhân Cuba điều hành. Mỹ cũng có thể đình chỉ Tiêu đề III của Đạo luật Libertad — rào cản lớn đối với đầu tư quốc tế vì nó cho phép các nguyên đơn Mỹ kiện các công ty nước ngoài đang hoạt động trên những tài sản mà nguyên đơn từng sở hữu ở Cuba trước khi chúng bị chính phủ Castro quốc hữu hóa.

Về mặt kỹ thuật, Đạo luật Libertad gắn điều kiện gỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận thương mại của Mỹ với sự hiện diện của một chính phủ chuyển tiếp dân chủ trên hòn đảo. Nhưng nếu Havana đáp ứng các đợt mở cửa kinh tế thực chất bằng một bộ máy lãnh đạo được tái cấu trúc ở mức độ đủ lớn, Washington có thể diễn giải từ “chuyển tiếp” một cách linh hoạt để giảm nhẹ các lệnh trừng phạt — ngay cả khi chưa có một sự dân chủ hóa hoàn toàn. Một sự sắp xếp như vậy sẽ không loại trừ những thay đổi chính trị rộng lớn hơn. Thay vào đó, nó sẽ cho các nhà lãnh đạo chế độ thời gian để đảm bảo một lối thoát an toàn cho cả hai bên trong khi xã hội dân sự được tái thiết. Phải thừa nhận rằng các nhà chức trách Cuba cho đến nay vẫn tỏ ra ít quan tâm đến một lối thoát như vậy. Nhưng một lộ trình rút lui như thế chắc chắn vẫn tốt hơn những gì có thể đang chờ đợi họ nếu không hành động: một cuộc sụp đổ kinh tế kéo dài, mang lại nhiều khó khăn xã hội hơn và tình trạng bất ổn nghiêm trọng đến mức thúc đẩy Mỹ sử dụng vũ lực để lật đổ chế độ.

Trình tự này cũng nhất quán với bản năng của chính quyền Trump ở những nơi khác — bao gồm cả ở Venezuela: ưu tiên sự ổn định, mở cửa kinh tế và tái định vị an ninh, trong khi coi dân chủ hóa là một tiến trình dài hạn hơn. Cách tiếp cận này cũng tương đồng với chính sách đối với Cuba của Mỹ qua nhiều chính quyền — bao gồm cả chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu — vốn có xu hướng ưu tiên các mục tiêu hẹp hơn thay vì thực hiện ngay lập tức các mục tiêu tối đa được ghi nhận trong các luật định. Các mục tiêu đó bao gồm: mở rộng không gian cho doanh nghiệp tư nhân, giảm bớt sự kiểm soát của quân đội đối với nền kinh tế, trả tự do cho tù nhân chính trị, nới lỏng các hạn chế đối với dòng chảy thông tin, và giảm thiểu các mối quan hệ an ninh của Havana với các đối thủ của Mỹ.

Bây giờ hoặc không bao giờ

Cánh cửa cho một thỏa thuận như vậy không kéo dài mãi mãi. Hãy cân nhắc đến yếu tố Rubio. Trong nhiều năm, ông đã là một trong những tiếng nói diều hâu nhất về vấn đề Cuba trong nền chính trị Mỹ. Chính vị thế đó có thể trao cho ông một năng lực độc nhất để thuyết phục phe cánh của mình chấp nhận một thỏa thuận thương lượng mà một nhân vật chính trị khác không thể làm được. Tổng thống Mỹ Richard Nixon có thể tới Trung Quốc chính vì các cam kết chống cộng của ông là không thể bàn cãi. Rubio không phải là Nixon, và ông hoạt động dưới quyền một vị tổng thống dễ thay đổi, người luôn dao động giữa sự thu mình theo chủ nghĩa biệt lập và sự leo thang mang tính trình diễn. Dẫu vậy, nếu có bất kỳ nhân vật nào trong Đảng Cộng hòa ngày nay có thể hợp nhất các khối cử tri người Mỹ gốc Cuba, các nghị sĩ Cộng hòa tại Quốc hội, và ít nhất một số nghị sĩ Dân chủ để ủng hộ một giải pháp lâu dài và theo từng giai đoạn với Havana, thì đó chính là ông.

Tiếp đến là thực tế lạnh lùng về vị thế kinh tế của Cuba. Người dân trên hòn đảo đơn giản là không thể chịu đựng nổi tình trạng bần cùng hóa kinh tế ngày càng trầm trọng dưới áp lực bên ngoài trong những năm còn lại của nhiệm kỳ hai. Tình trạng mất cân đối tài khóa lớn, gánh nặng nợ nần chồng chất, và khả năng tiếp cận eo hẹp với các nguồn tài chính bên ngoài đồng nghĩa với việc dư địa xoay sở của chính phủ gần như đã biến mất. Havana có thể lo sợ những mất mát ngắn hạn có thể đi kèm với một tiến trình cải cách sâu rộng hơn, nhưng sự thật là những mất mát đó đã hiện hữu rồi: thu nhập của người dân Cuba đã sụp đổ, nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ bị thắt chặt, các ngành nông nghiệp và sản xuất đã kiệt quệ, và lực lượng lao động đã bị rỗng hóa do làn sóng di cư.

Giữa sự tuyệt vọng, vẫn có một số xu hướng song phương tích cực để xây dựng trên đó. Khu vực tư nhân của Cuba — vốn đã mở rộng kể từ khi hợp pháp hóa các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào năm 2021 — giờ đây đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp các bộ phận dân cư vượt qua cuộc khủng hoảng hiện tại. Kể từ thời tổng thống Barack Obama, mọi chính quyền Mỹ đều xác định việc ủng hộ doanh nghiệp độc lập ở Cuba là một ưu tiên chính sách, và ngay cả ông Trump hiện cũng đang cho phép các doanh nghiệp tư nhân ở đây nhập khẩu nhiên liệu. Điều này tạo ra cơ hội cho nhiều ngoại lệ trừng phạt hơn để nuôi dưỡng sự phát triển của khu vực này. Quan hệ Mỹ – Cuba có thể đang ở giai đoạn căng thẳng nhất trong nhiều thập kỷ, nhưng các chuyến bay thẳng giữa hai nước vẫn tiếp tục, và thương mại song phương về thực phẩm và hàng hóa nông nghiệp trong khuôn khổ các kẽ hở cấm vận hiện tại đang lập những kỷ lục mới. Kiều hối từ cộng đồng hải ngoại tại Mỹ là một trong những nguồn ngoại tệ lớn nhất tiếp cận được với người dân Cuba bình thường. Một sự hòa giải tự nhiên giữa người Cuba trên hòn đảo và ở nước ngoài đã tiến xa hơn những gì hầu hết các nhà quan sát thừa nhận.

Tuy nhiên, ngay cả việc mở cửa hoàn toàn hơn cho đầu tư của kiều bào, doanh nghiệp tư nhân và thương mại song phương cũng không tự thân tạo ra quy mô vốn cần thiết để hiện đại hóa lưới điện đang rệu rã của Cuba, tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng, hay xây dựng lại cơ sở hạ tầng cơ bản. Loại vốn đó trong lịch sử đến từ các cấu trúc đa phương: Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, và các chương trình song phương của các chính phủ phương Tây. Nhưng nguồn vốn từ các chính phủ châu Âu đang trở nên ít khả dụng hơn khi họ chuyển dịch nguồn lực từ viện trợ phát triển sang chi tiêu quốc phòng. Cuba không thể trông cậy vào các tổ chức đa phương khác để cung cấp tài chính khẩn cấp vì họ không phải là thành viên — và không thể trở thành thành viên nếu thiếu đi cái gật đầu của Washington.

Các trường hợp so sánh càng làm rõ hơn những gì đang bị đe dọa. Vào năm 1986, Việt Nam bắt tay vào các cải cách thị trường từ một vị thế khủng hoảng gay gắt nhưng với năng lực quản lý nhà nước còn nguyên vẹn, một dân số trẻ, và một nền kinh tế khu vực đang bước vào giai đoạn bùng nổ. Vào năm 1989, khi Ba Lan chuyển dịch khỏi sự cai trị của chế độ cộng sản, nền kinh tế của nước này đang sụp đổ, nhưng họ kế thừa được các thể chế vẫn đang vận hành và nhận được sự tài trợ của phương Tây gần như ngay lập tức, đưa đất nước vào một lộ trình mà đỉnh cao là việc gia nhập EU. Cuba của ngày hôm nay không có được cả lợi thế nhân khẩu học của Việt Nam lẫn lộ trình tài chính bên ngoài của Ba Lan. Nền tảng sản xuất của họ đã suy thoái hơn, lực lượng lao động già hơn và bị bào mòn hơn bởi làn sóng di cư, và họ phải đối mặt với một môi trường toàn cầu kém hào phóng hơn rất nhiều.

Những tiếng vọng của lịch sử

Các nhà lãnh đạo Cuba có lý do để lùi bước trước viễn cảnh phải thương lượng về tương lai chính trị và kinh tế của hòn đảo dưới áp lực cực đoan của Mỹ, bởi làm như vậy sẽ gợi lại những ký ức lịch sử đau đớn. Vào năm 1901, các đại biểu soạn thảo hiến pháp cộng hòa đầu tiên của Cuba đã phải đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan cay đắng khi Washington gắn điều kiện chấm dứt bốn năm chiếm đóng quân sự của mình — sau cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha – Mỹ năm 1898 — với các giới hạn hiến pháp đối với chủ quyền của Cuba dưới Tu chính án Platt. Fidel Castro cùng các nhà cách mạng khác sau này sẽ khẳng định rằng việc chấp nhận các điều khoản đó là một sự phản bội tận cùng đối với các lý tưởng mà các chiến sĩ độc lập của Cuba đã ngã xuống trong thế kỷ XIX.

Nhưng một số đại biểu thực tế lúc bấy giờ đã hiểu lựa chọn của họ không phải là sự đầu hàng, mà đúng hơn là một nỗ lực nhằm bảo tồn một quốc gia mong manh dưới những ràng buộc phi thường. Họ tìm cách giữ lại đủ chủ quyền để duy trì sự sống cho Cuba và để ngỏ khả năng có được một nền độc lập hoàn toàn hơn về sau.

Tình thế hiểm nghèo hiện tại của Cuba không hoàn toàn giống như vậy. Havana cũng không nên đón nhận các cải cách kinh tế và chính trị chỉ đơn giản vì Washington yêu cầu. Nhưng người dân Cuba xứng đáng có được một tương lai tốt hơn. Và con đường hợp lý nhất — dẫu có phần mỉa mai đến nghiệt ngã — mà các nhà chức trách Cuba có thể bước đi để cứu đất nước của mình là đàm phán với chính thế lực đang gây ra tổn thất nghiêm trọng cho nền kinh tế của họ: Mỹ, bởi đó cũng là thế lực duy nhất có thể bảo trợ một cách thực tế cho sự phục hồi của Cuba. Sự thay đổi đang ngày càng tỏ ra là không thể tránh khỏi. Câu hỏi là liệu nó sẽ đến thông qua một sự tan rã hỗn loạn, một cuộc can thiệp nước ngoài bạo lực, hay một cuộc chuyển đổi từng bước mà trong đó Havana vẫn còn có tiếng nói.

MICHAEL J. BUSTAMANTE giữ chức Giáo sư chủ tịch Emilio Bacardí Moreau về Nghiên cứu Cuba và Người Mỹ gốc Cuba tại Đại học Miami.

RICARDO HERRERO là Giám đốc Điều hành của Nhóm Nghiên cứu Cuba.