
Nguồn: Allison Minor và Nate Swanson, “How to End the Iran War,” Foreign Policy, 27/11/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Trump cần học nghệ thuật ngoại giao để biết cách thua một cách khéo léo.
Trong lúc Washington và Tehran trao đổi thông điệp nhằm tìm kiếm một lệnh ngừng bắn mới, chính quyền Trump cần nghiêm túc xem xét lại những giả định sai lầm đã khiến họ sa lầy vào một cuộc chiến tốn kém ngay từ đầu. Chính quyền này liên tục trở thành nạn nhân của ngụy biện chi phí chìm. Trước thất bại chiến lược hiện nay, Tổng thống Donald Trump chủ yếu hành động như thể vấn đề chỉ nằm ở quy mô hoặc thời gian. Nhưng trên thực tế, cuộc chiến càng kéo dài, đòn bẩy đàm phán của Mỹ càng suy giảm, và nhiều khả năng sẽ chạm đáy khi Washington cạn kiệt đạn dược còn những hệ lụy chính trị trong nước ngày càng gia tăng.
Các cuộc tấn công mới của Houthi nhằm vào hoạt động xuất khẩu dầu của Ả Rập Saudi càng làm trầm trọng thêm tính bấp bênh của một cuộc chiến vốn đã gây ra những cú sốc kinh tế toàn cầu, làm tổn hại uy tín của Mỹ và đẩy các đồng minh khu vực của Washington vào giữa một cuộc xung đột mà họ từng phản đối.
Tuy nhiên, ngay cả khi giữ lập trường cứng rắn hơn, một cuộc chiến kéo dài cũng không có lợi cho Iran. Chính quyền Tehran đã thu được lợi ích chính trị khi tự đặt mình vào vị thế nạn nhân của hành động gây hấn từ Mỹ và Israel, nhưng Iran vốn đã phải đối mặt với những thách thức sống còn về kinh tế và chính trị từ trước khi xung đột nổ ra. Mỗi ngày chiến tranh kéo dài, và mỗi cây cầu hay doanh nghiệp bị máy bay chiến đấu phá hủy, lại khiến con đường phục hồi tiềm tàng của chính quyền này trở nên xa hơn. Nhưng để kết thúc chiến tranh, các nhà lãnh đạo Iran cần tin rằng sự phục hồi ấy là điều có thể đạt được.
Chắc chắn vẫn có những thế lực mạnh tại Iran ủng hộ việc tiếp tục chiến tranh. Nhưng phần lớn những người ra quyết định hàng đầu của nước này đã ủng hộ biên bản ghi nhớ tháng 6 và hiểu rằng chiến tranh không thể kéo dài vô thời hạn.
Cuối cùng, cả hai bên đều có động lực mạnh mẽ để chấm dứt xung đột. Bất chấp viễn cảnh ảm đạm, Mỹ vẫn còn cơ hội rút lui theo cách có thể củng cố vị thế dài hạn của mình trong khu vực. Nhưng điều đó đòi hỏi nhiều hơn việc ký một thỏa thuận chớp nhoáng rồi tuyên bố chiến thắng nhằm hạ giá xăng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ.
Chính quyền Trump phải xây dựng một thỏa thuận bền vững hơn về Eo biển Hormuz, tránh tạo ra tiền lệ nguy hiểm đối với quyền tự do hàng hải. Một thỏa thuận như vậy sẽ đòi hỏi những biện pháp khuyến khích đáng kể dành cho Iran trong ngắn hạn. Nhưng nếu được kết hợp với một chiến lược rộng lớn hơn, bao gồm củng cố khả năng chống chịu của các đối tác Vùng Vịnh Ả Rập và tái thiết sự đồng thuận về chính sách Iran với những đồng minh chủ chốt của Mỹ, Washington có thể đạt được một giải pháp ngoại giao toàn diện hơn mà Trump đang tìm kiếm.
Hiện tồn tại một quan niệm sai lầm ở Washington rằng chỉ riêng sức ép cũng đủ để khuất phục Iran. Trong gần năm thập kỷ, Mỹ đã sử dụng mọi hình thức gây sức ép quân sự, kinh tế và chính trị sẵn có nhằm buộc Iran phải phục tùng ý chí của mình, nhưng đều không thành công.
Sức ép đôi khi có thể tác động đến quá trình ra quyết định của Iran, nhưng chỉ khi được kết hợp với các công cụ khác như biện pháp khuyến khích, liên minh, sự tôn trọng lẫn nhau và lòng kiên nhẫn. Nếu Trump tiếp tục tin rằng Iran đơn giản sẽ đầu hàng trước sức mạnh của Mỹ, ông sẽ thất bại.
Biên bản ghi nhớ (MOU) giữa Mỹ và Iran dường như đã thừa nhận thực tế này, nhưng cuối cùng vẫn thất bại vì hai lý do.
Thứ nhất, các chi tiết có ý nghĩa quyết định. Sự mơ hồ trong Mục 4 và Mục 5, vốn đề cập đến Eo biển Hormuz, khiến lệnh ngừng bắn ngay từ đầu đã trở nên mong manh và cuối cùng góp phần làm nó sụp đổ. Mỗi bên đều có cơ sở để đổ lỗi cho bên kia vì không thực hiện đầy đủ cam kết.
Thứ hai, quá trình ra quyết định tại cả hai nước bị chi phối bởi những tính toán chính trị trong nước ngắn hạn nhiều hơn là lợi ích chiến lược dài hạn. Các nhóm cử tri có ảnh hưởng ở cả Washington lẫn Tehran đều phản đối giải pháp ngoại giao và ủng hộ việc tiếp tục xung đột.
Tình hình càng phức tạp hơn khi mỗi bên đều tự coi mình là người chiến thắng. Mỹ vẫn là cường quốc quân sự vượt trội, nhưng Iran đã sống sót qua một cuộc chiến mang tính sống còn, chịu đựng những tổn thất nghiêm trọng rồi đáp trả, đồng thời làm thay đổi cán cân quyền lực khu vực thông qua việc kiểm soát Hormuz.
Mặc dù vượt trội so với đối phương theo mọi thước đo sức mạnh truyền thống, Mỹ lại không có quyết tâm chính trị mạnh mẽ bằng Iran trong việc tiếp tục chiến tranh. Vì thế, cả Washington và Tehran đều coi đàm phán là một hành động đầu hàng, chỉ khác ở chỗ mỗi bên đều cho rằng chính đối phương mới là kẻ phải đầu hàng.
Chìa khóa của bất kỳ thỏa thuận bền vững nào là hai bên đều phải có khả năng tuyên bố chiến thắng một cách chính đáng. Cách tốt nhất để đạt được mục tiêu này là hướng tới những kết quả nhỏ, cụ thể.
Đối với Mỹ, điều đó có nghĩa là chấm dứt quyền kiểm soát đơn phương và liên tục của Iran đối với tàu thuyền đi qua Eo biển Hormuz, đồng thời xây dựng một lộ trình khả thi hướng tới thỏa thuận hạt nhân trong tương lai. Đối với Iran, điều đó có nghĩa là nhận được khoản bồi thường tài chính đáng kể và được công nhận vai trò mới tại Eo biển.
Hai bên có thể đạt được những mục tiêu này bằng cách điều chỉnh một số nội dung của MOU. Mỹ nên sẵn sàng chấm dứt các cuộc tấn công, dỡ bỏ phong tỏa và ban hành lại Giấy phép Chung X (General License X), văn bản của Bộ Tài chính Mỹ cho phép bán dầu Iran, nhưng không ấn định ngày hết hiệu lực, nhằm bảo đảm sự hợp tác của Tehran tại Hormuz.
Giấy phép chung này sẽ tiếp tục có hiệu lực chừng nào Iran không cản trở hoạt động qua lại của tàu thuyền. Đây là một nhượng bộ kinh tế đáng kể và mang tính lâu dài đối với Iran, nhưng cũng là điều mà chính quyền Trump đã hai lần chấp thuận dưới hình thức tạm thời.
Việc công nhận vai trò mở rộng của Iran tại Hormuz phức tạp hơn. Mục tiêu chính của Mỹ phải là tránh thiết lập một cơ chế có thể, thứ nhất, tạo ra tiền lệ tiêu cực làm suy yếu quyền tự do hàng hải ở những nơi khác, và thứ hai, cho phép Tehran tận dụng quyền kiểm soát hành chính đối với hoạt động qua lại của tàu thuyền để liên tục đòi hỏi nhượng bộ từ các nước Vùng Vịnh hoặc những bên khác.
Các quan chức Oman đã tới Iran vào cuối tuần qua để đề xuất thành lập một cơ quan khu vực phụ trách giám sát an ninh hàng hải và các trách nhiệm khác tại Eo biển Hormuz. Nhưng một cơ quan thuần túy khu vực, đặc biệt nếu có thẩm quyền về an ninh, sẽ rất dễ bị tác động bởi những bất đồng nội bộ trong khu vực. Thẩm quyền an ninh cũng có thể tạo vỏ bọc cho các hành vi gây hấn trên tuyến hàng hải này.
Thay vào đó, Muscat và các nhà trung gian khu vực nên đề xuất một cơ chế đặt dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, bao gồm Iran, Oman và một ghế luân phiên dành cho các quốc gia Vùng Vịnh khác. Cơ chế này nên tập trung vào việc giám sát từ xa hoạt động vận tải qua eo biển và giải quyết các tranh chấp quá cảnh khi cần thiết.
Trong khuôn khổ này, Liên Hiệp Quốc sẽ ghi nhận vai trò hàng đầu của Iran tại Eo biển, nhưng đồng thời giới hạn cách Tehran sử dụng vai trò đó, nhằm bảo đảm tuân thủ các công ước quốc tế và hạn chế khả năng một bên đơn phương cản trở hoạt động qua lại hợp pháp của tàu thuyền.
Hơn nữa, việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt như đã đề cập sẽ giúp Iran thu được lợi ích kinh tế từ những nguồn khác, khiến việc áp phí qua eo biển trở nên không cần thiết.
Đối với Mỹ, lợi ích rõ ràng nhất của thỏa thuận này là tạo ra lối thoát tức thì khỏi vòng xoáy leo thang chiến tranh và thiết lập một cơ chế quản lý Eo biển ít gây tổn hại hơn. Thay vì làm suy yếu nguyên tắc tự do hàng hải, một cơ chế của Liên Hiệp Quốc giám sát tàu thuyền qua Hormuz có thể củng cố các chuẩn mực và công ước quốc tế, đồng thời tạo ra các kênh giải quyết xung đột và bảo đảm tính minh bạch cần thiết.
Một thỏa thuận giới hạn xoay quanh Hormuz cũng sẽ làm tăng khả năng đạt được thỏa thuận hạt nhân trong tương lai. Hiện không bên nào tin rằng bên kia có thể thực hiện đầy đủ các cam kết. Vì thế, việc thực hiện thành công một thỏa thuận nhỏ có thể trở thành điều kiện tiên quyết cho một thỏa thuận tham vọng hơn.
Tin tốt là Washington vẫn nắm trong tay hàng loạt biện pháp khuyến khích cần thiết cho một thỏa thuận toàn diện, bao gồm quyền tiếp cận hệ thống ngân hàng toàn cầu, thương mại và đầu tư.
Dù Trump có thể không nhận ra điều đó, chừng nào MOU còn hiệu lực, ông vẫn có được một thứ xa xỉ là thời gian và sự kiên nhẫn. Mục 9 của MOU, yêu cầu Iran cam kết duy trì nguyên trạng chương trình hạt nhân, là một lợi ích thường bị Mỹ bỏ qua.
Sau Chiến tranh 12 ngày vào tháng 06/2025, Iran hiện không làm giàu uranium hoặc chế tạo máy ly tâm mới. Việc duy trì nguyên trạng này trong khi chờ các cuộc đàm phán tiếp theo sẽ mang lại cho Mỹ thêm thời gian quý báu, đồng thời cho phép Trump quảng bá nó như một phần của thỏa thuận ban đầu tuy khiêm tốn nhưng bền vững hơn.
Một thỏa thuận nhỏ nhưng bền vững với Iran có thể ngăn chặn các hành động thù địch quy mô lớn và những gián đoạn nghiêm trọng đối với nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, nó không thể giải quyết triệt để mối đe dọa mà Iran gây ra cho các nước láng giềng.
Bên ngoài Eo biển Hormuz, chiến lược thời chiến hiệu quả nhất của Iran là tấn công trực tiếp vào các đối tác của Mỹ, những nước sở hữu hạ tầng năng lượng, kỹ thuật số và kinh tế có vai trò sống còn đối với nền kinh tế toàn cầu. Vì vậy, bất kỳ thỏa thuận nào với Iran cũng phải đi kèm với sự hỗ trợ liên tục của Washington nhằm giúp các nước Vùng Vịnh tăng cường khả năng chống chịu trước những cuộc tấn công và gián đoạn trong tương lai.
Nhưng chỉ riêng thiết bị của Mỹ sẽ không đủ để bảo đảm năng lực phòng không của Vùng Vịnh. Điều cần thiết là một hệ thống phòng không tích hợp, nhiều tầng, được xây dựng với sự hợp tác của các đối tác châu Âu và châu Á.
Điều đó cũng đòi hỏi phải xây dựng hạ tầng thương mại và năng lượng mới. Trong khi Ả Rập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đang giảm bớt sự phụ thuộc vào Hormuz thông qua các tuyến đường ống mới và việc mở rộng cảng biển, Bahrain, Kuwait và Qatar lại không có những lối thoát tương tự.
Việc xây dựng những cơ sở hạ tầng này là rất khó khăn trong môi trường hiện nay. Tuy nhiên, vai trò lãnh đạo ngoại giao của Mỹ có thể tạo ra động lực và niềm tin cần thiết để khu vực tư nhân thúc đẩy triển khai dự án. Qua đó, đòn bẩy dài hạn của Iran đối với Hormuz cũng sẽ bị suy giảm.
Ngoài ra, Mỹ nên âm thầm hợp tác với các quốc gia Vùng Vịnh để giúp họ xây dựng một chiến lược phối hợp riêng trong việc ứng phó với Iran về lâu dài. Washington thường có xu hướng coi mọi hoạt động tiếp xúc giữa các nước Vùng Vịnh và Iran là mối đe dọa đối với Mỹ. Nhưng trên thực tế, các quốc gia này buộc phải duy trì thế cân bằng thận trọng giữa can dự và răn đe Tehran.
Nếu Mỹ không chấp nhận thực tế đó, khả năng các đối tác Vùng Vịnh theo đuổi những chiến lược can dự có thể làm suy yếu chính sách của Washington đối với Iran sẽ càng cao, chẳng hạn bằng cách tạo điều kiện né tránh trừng phạt.
Ngược lại, nếu Washington áp dụng cách tiếp cận thực dụng hơn và thừa nhận tình thế khó khăn mà các nước Vùng Vịnh đang đối mặt, Mỹ có thể giúp họ xây dựng một cách tiếp cận khu vực phối hợp hơn, qua đó khiến Tehran khó lợi dụng sự chia rẽ giữa các nước này.
Sự thiếu tin cậy và khác biệt chiến lược giữa các quốc gia trong khu vực khiến khả năng họ xây dựng được một lập trường hoàn toàn thống nhất đối với Iran là rất thấp. Tuy nhiên, trong quá khứ, Mỹ từng tận dụng khả năng tập hợp và mạng lưới quan hệ đối tác rộng lớn để thúc đẩy sự đồng thuận mạnh mẽ hơn tại Vùng Vịnh trong việc ứng phó với các thách thức khu vực.
Để làm được điều đó hiện nay, Mỹ cần thay đổi cách tiếp cận, theo đuổi một chính sách Iran mang tính hợp tác hơn và tính đến lợi ích của các đối tác Vùng Vịnh, những nước đang đứng ở tuyến đầu của cuộc xung đột.
Một trong những giả định nguy hiểm nhất về Iran là cho rằng chỉ Washington mới có thể giải quyết vấn đề. Giả định này đã thúc đẩy chính quyền Trump phát động chiến tranh với Iran mà không có sự đồng thuận của các đối tác Vùng Vịnh chủ chốt và các đồng minh châu Âu. Nó cũng tiếp tục chi phối nỗ lực của Mỹ nhằm chấm dứt chiến tranh.
Các quốc gia Vùng Vịnh từ lâu đã phàn nàn rằng Washington coi họ như những máy rút tiền tự động, không tham khảo ý kiến khi đưa ra các quyết định chính sách lớn tại Trung Đông, nhưng lại thường xuyên khai thác nguồn lực của họ để giải quyết hậu quả của những chính sách ấy.
Châu Âu cũng có hệ thống đòn bẩy và biện pháp khuyến khích riêng đối với Iran. Vì thế, nếu muốn xây dựng một giải pháp bền vững cho chương trình hạt nhân của Iran và những nỗ lực kiểm soát Eo biển Hormuz, Mỹ phải tận dụng đòn bẩy của các đối tác tại Trung Đông, châu Âu và châu Á.
Để làm được điều đó vào lúc uy tín của Mỹ đang ở mức thấp chưa từng thấy và sức mạnh của nước này ngày càng bị thách thức, Washington phải từ bỏ thói quen áp đặt cách tiếp cận của mình lên các nước khác, thay vào đó tìm cách xây dựng một chính sách dựa trên sự đồng thuận rộng rãi hơn.
Trong bối cảnh thiếu vắng vai trò lãnh đạo của Mỹ đối với một chính sách Iran có tính đồng thuận, các đối tác của Washington đang tự xây dựng những giải pháp thay thế.
Một nhà ngoại giao cấp cao của châu Âu gần đây cho chúng tôi biết số cuộc gọi họ nhận được từ các nhà lãnh đạo Vùng Vịnh trong vài tháng qua còn nhiều hơn tổng số trong cả thập kỷ trước.
Sau khi Mỹ không thể bảo đảm an ninh tại Eo biển Hormuz, Anh và Pháp đã thiết lập một sáng kiến hàng hải gồm khoảng 40 quốc gia thành viên, nhằm quản lý các hoạt động an ninh sau lệnh ngừng bắn mà không có sự tham gia của Washington.
Bản thân các nước Vùng Vịnh cũng đang hành động. Ả Rập Saudi gần đây đã đề xuất một cuộc đối thoại an ninh khu vực với Iran và đang xem xét liệu việc hợp tác sâu rộng hơn với Pakistan có thể giúp định hình hành vi của Tehran hay không.
Những sáng kiến này cho thấy các đối tác của Mỹ sẵn sàng đứng lên và đảm nhận trách nhiệm chia sẻ gánh nặng mà Trump từ lâu vẫn kêu gọi. Nhưng họ sẽ làm điều đó theo những điều kiện của riêng mình.
Những nỗ lực này có thể trở thành tài sản, chứ không phải mối đe dọa, đối với chính sách của Mỹ. Nếu được định hình phù hợp, một phái bộ giám sát hàng hải của châu Âu có thể cung cấp sự hiện diện trên thực địa để bổ sung cho cơ chế giám sát của Liên Hiệp Quốc tại Eo biển Hormuz.
Ngoài ra, việc phối hợp chặt chẽ hơn với châu Âu và các nước Vùng Vịnh có thể khai mở đầy đủ những biện pháp khuyến khích cần thiết để hoàn tất một thỏa thuận hạt nhân toàn diện trong tương lai.
Nhưng nếu thiếu sự phối hợp đó, rất có thể sẽ xuất hiện hàng loạt sáng kiến cạnh tranh do các cường quốc tầm trung dẫn dắt nhằm định hình hành vi của Iran. Trong kịch bản lạc quan nhất, điều này cũng chỉ tạo ra tình trạng thiếu nhất quán về chiến lược. Nó sẽ cho phép Iran lựa chọn thỏa thuận có lợi nhất, đồng thời gieo rắc bất đồng giữa Mỹ và các đối tác.
Một số người ủng hộ cuộc chiến với Iran có thể coi việc thông qua một kế hoạch với những mục tiêu nhỏ và khả thi như vậy là thất bại. Trump không nên nhìn nhận theo cách đó.
Bằng cách chấm dứt chiến tranh, ông sẽ tránh được chiếc bẫy từng khiến nước Mỹ sa lầy tại Việt Nam, Iraq và Afghanistan. Ông cũng có thể trút bỏ gánh nặng kinh tế, củng cố các đối tác của Mỹ và vẫn để ngỏ cánh cửa cho những thỏa thuận lớn hơn trong tương lai.
Và có lẽ, theo cách rất đặc trưng của Trump, ông có thể tuyên bố rằng tư duy truyền thống đã khiến chính sách đi sai hướng, rồi nhận công lao vì đã đủ bản lĩnh thay đổi khi những người khác không làm được. Với tính cách của Trump, việc thuyết phục người dân Mỹ chấp nhận cách tiếp cận này có lẽ không quá khó.
Đó là điều cần thiết để kết thúc chiến tranh: không phải một lời thú nhận thất bại, mà là một tuyên bố chiến thắng dựa trên những điều kiện khác với những gì Trump đã tự đặt ra ngay từ đầu.
Cuộc chiến này chưa bao giờ có thể kết thúc bằng sự đầu hàng vô điều kiện của Iran. Tiếp tục giả vờ rằng điều đó là khả thi sẽ chỉ kéo dài giao tranh và khiến đòn bẩy của Mỹ suy giảm sau mỗi tuần.
Một thỏa thuận mở cửa Eo biển Hormuz, tránh gây thêm tổn hại cho các đồng minh của Mỹ và duy trì việc đóng băng chương trình hạt nhân Iran là phiên bản chiến thắng phù hợp nhất vào thời điểm này.
Allison Minor là Giám đốc Hội nhập Trung Đông tại Hội đồng Đại Tây Dương. Bà từng giữ chức Phó Đặc phái viên Mỹ tại Yemen và Giám đốc phụ trách Các vấn đề Bán đảo Ả Rập tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ.
Nate Swanson là Giám đốc Dự án Chiến lược Iran tại Hội đồng Đại Tây Dương. Ông từng giữ chức Giám đốc phụ trách Iran tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ từ năm 2022 đến năm 2025. Vào mùa xuân và mùa hè năm 2025, ông là thành viên nhóm đàm phán với Iran của chính quyền Trump.
