
Nguồn: Robert Dujarric, “The more the US demands of its allies, the less dominant it will be”, Nikkei Asia, 11/06/2026
Biên dịch: Phạm Ánh Minh
Khi các nước đối tác ngày càng gia tăng sức mạnh quân sự, việc phối hợp hành động sẽ ngày càng khó khăn hơn
Tại Đối thoại Shangri-La mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth tuyên bố rằng: “Thời đại mà Mỹ trợ cấp quốc phòng cho các quốc gia giàu có đã kết thúc. Chúng tôi cần đối tác chứ không phải các quốc gia được bảo hộ.”
Tuyên bố này phản ánh sự hiểu sai về các chính sách của Trump, nhưng đồng thời cũng phản ánh bản chất hệ thống đồng minh của Mỹ — do Franklin D. Roosevelt khởi xướng, Harry Truman và Dwight D. Eisenhower củng cố, và các đời tổng thống tiếp theo, trừ Trump, duy trì với nhiều điều chỉnh thành công lẫn thất bại.
Trước hết, Trump rõ ràng muốn có các nước cần được bảo hộ. Nếu không, vì sao Washington lại tính đến việc sáp nhập Greenland — một hòn đảo nơi Mỹ vốn đã có quyền đặt căn cứ quân sự? Mỹ đã phát động chiến tranh với Iran mà không hề tham khảo ý kiến các đồng minh thân cận nhất ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và châu Âu — theo những gì chúng ta đã biết — rồi sau đó lại yêu cầu các nước này giúp giải quyết hậu quả. Tổng thống Trump thích các quần thần biết vâng lời, cả trong lẫn ngoài nước.
Thứ hai, nhận định của Hegseth không tính đến mối liên hệ giữa sức mạnh quân sự và ảnh hưởng trong một liên minh. Đúng là Mỹ đầu tư nhiều nguồn lực vào quốc phòng hơn hẳn các đồng minh. Con số trông rất khổng lồ, nhưng khi quy ra phần trăm GDP, Mỹ không đến mức phá sản khi chi tiêu cho Lầu Năm Góc. Với mức đầu tư vào lực lượng vũ trang chỉ chiếm khoảng 4% thu nhập quốc dân, xét về mặt lịch sử và tương đối, Mỹ đang bỏ ra một khoản khá nhỏ trong lĩnh vực này. Điều này sẽ không thay đổi ngay cả khi chi tiêu quốc phòng tăng vọt.
Hơn nữa, Mỹ thu được lợi ích rất lớn so với số tiền bỏ ra. Quân đội cung cấp cho thanh niên Mỹ những kỹ năng và kinh nghiệm sẽ có lợi cho cả bản thân họ lẫn nền kinh tế Mỹ khi họ gia nhập thị trường lao động dân sự — nhiều quân nhân rời quân ngũ sau chưa đầy 10 năm, và những người về hưu thường ở độ tuổi 40 hoặc đầu 50. Lầu Năm Góc cũng đầu tư cho nghiên cứu khoa học đồng thời là khách hàng thân thiết của các công ty hàng không vũ trụ và công nghệ Mỹ.
Quan trọng hơn cả là hiệu quả quản lý liên minh có được nhờ vị thế đặc biệt của Mỹ. Trong tất cả các đối tác lớn của nước này — như NATO, liên minh Nhật-Mỹ, Bộ Chỉ huy chung Hàn-Mỹ, và Liên minh tình báo “Ngũ Nhãn” (gồm Mỹ, Canada, Anh, Australia và New Zealand) — tiếng nói của Washington giữ vai trò chi phối nhờ ưu thế quân sự của mình.
Một lợi thế mà Mỹ thu được từ tình thế này là khả năng tác động đáng kể đến các nước khác. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc Mỹ nắm giữ vị thế thống trị tuyệt đối. Có nhiều trường hợp Washington không đạt được mọi điều mình muốn từ các đối tác, nhưng lợi thế này vẫn góp phần làm nghiêng cán cân theo hướng có lợi cho những lựa chọn mà Mỹ ưu tiên.
Một lợi ích khác là sức nặng áp đảo của quốc gia giữ vai trò lãnh đạo giúp quá trình ra quyết định nhanh chóng hơn. Năng lực răn đe cũng được tăng cường. Các đối thủ nhận thấy rằng thay vì phải đối mặt với một liên minh gồm nhiều quốc gia thường xuyên bất đồng và tranh cãi, họ đang đối diện với những liên minh được dẫn dắt bởi một cường quốc thống trị. Vì sao các vương triều châu Âu phải cần đến 7 liên minh mới có thể hạ gục nước Pháp cách mạng/Napoleon và đưa Napoleon đến đảo St. Helena? Một trong những lý do là bốn đồng minh chủ chốt — Anh, Phổ, Áo và Nga — không nước nào giữ vị trí dẫn dắt, khiến Napoleon và những người tiền nhiệm dễ dàng đánh bại các khối liên minh thiếu người lãnh đạo này. Những thất bại tương tự cũng đã xảy ra với nhiều liên minh Ả Rập chống Israel từ năm 1947 đến nay.
Trong tình thế hiện tại, liệu thế giới mà Hegseth kêu gọi có phải là một thế giới đáng sống? Dưới sự lãnh đạo “bình thường” của nước Mỹ — tức là của mọi tổng thống thuộc đảng Dân chủ và Cộng hòa kể từ năm 1933 ngoại trừ Trump — điều đó có thể gây bất lợi cho các đồng minh của Mỹ. Về mặt tích cực, các nước này sẽ có được quyền tự chủ lớn hơn nhờ sức mạnh quân sự được tăng cường. Về mặt tiêu cực, họ khó có thể đạt được hiệu quả hoạt động như Mỹ. Những tham vọng của Mỹ sẽ dễ bị cản trở hơn — điều này có lợi cho các nước này. Tuy nhiên, liên minh sẽ hoạt động kém hiệu quả hơn. Dù quốc phòng chiếm 5% GDP, Nhật Bản vẫn không thể trở thành cường quốc quân sự và công nghệ toàn cầu như Mỹ. Một châu Âu gắn kết thì có thể, song khả năng đoàn kết là khá khó xảy ra. Các trụ cột địa chiến lược của thế giới tự do tại Đông Bắc Á, châu Đại Dương, châu Âu và Canada sẽ không còn được gắn kết với nhau qua mối liên hệ với một nước Mỹ giữ vai trò chi phối.
Tuy nhiên, dưới thời Trump, Nhật Bản và các đồng minh (cũ) khác của Mỹ đều nên theo sát lời khuyên của Hegseth trong bối cảnh chính sách Mỹ ngày càng thù địch và thất thường. Tốt hơn hết là họ nên nhanh chóng vào vị trí chiến đấu, tham gia một khóa học cấp tốc để sống sót trong một thế giới mà ngày mai Trump có thể quyết định rằng thái độ của Trung Quốc đối với Đài Loan là chấp nhận được, rằng các mục tiêu của Putin ở Ukraine và các nước Baltic là hợp lý, và rằng áp thuế đối với các đối tác của Mỹ là chính sách tốt nhất. Họ cũng cần xem xét khả năng các chuẩn mực dân chủ tự do ở Mỹ vẫn còn đó nhưng không hề vững chắc — như việc ân xá cho những người nổi dậy ngày 6 tháng 1 đã cho thấy. Tuy nhiên việc xây dựng sức mạnh quân sự sẽ khá khó khăn với các nước này. Lợi thế vượt trội của Mỹ trong công nghệ khiến họ khó tránh khỏi sự phụ thuộc vào nước này. Thật khó để thấy một lựa chọn nào tốt hơn.
Nhiều khả năng sớm muộn gì Mỹ cũng sẽ đảo ngược tình thế, quay trở lại vai trò truyền thống hơn. Nhưng đặt cược vào điều này sẽ rất rủi ro. Nếu Mỹ thực sự quay trở lại quan điểm hợp lý hơn về lợi ích của mình, Mỹ sẽ ít chi phối hơn trong các liên minh. Điều này có thể khiến các mối quan hệ đối tác trở nên kém hiệu quả hơn, nhưng sẽ cung cấp một chính sách bảo hiểm vô giá trong trường hợp Donald Trump không phải là vị tổng thống cuối cùng coi các đồng minh là kẻ thù.
Robert Dujarric là đồng giám đốc Viện Nghiên cứu Châu Á Đương đại tại Đại học Temple, Nhật Bản.
